Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 39: Vụ Án Cuối

Đầu đông. Sương xuống sớm hơn mọi năm.

Tương phủ Lục, thư phòng cánh đông. Ta đặt tay lên bụng, đứa nhỏ vừa đạp một cái. Nhẹ. Như con cá quẫy dưới lớp lụa mỏng. Ta ngồi trước án thư, ba tờ hồ sơ trải trước mặt. Đề Hình Ti tuần trước gửi qua: ba vụ án nhỏ chờ xem xét. Hai vụ ta đã đóng dấu son trả về xử lý thường quy. Còn một vụ, bút mực chưa hạ.

Vụ thứ ba nằm dưới cùng. Giấy hơi vàng, mực chưa khô hết. Tên nạn nhân: Lâm Thúy Nga, hai mươi tám tuổi, phường Nam. Nguyên nhân khai báo ban đầu: “trúng gió độc, chết trong đêm”. Người khám sơ bộ là một ngỗ tác già, kết luận trong ba câu.

Ba câu để kết một mạng người.

Ta đọc lại lần thứ ba. Bích Đào đứng bên cạnh, tay vẫn giữ khay trà lê chưa dám đặt xuống, sợ động vào bụng chủ. Hơi nước bốc lên trong không khí lạnh, quẩn quanh một lát rồi tan.

“Chủ tử.” Bích Đào khẽ. “Trời lạnh. Vụ này để Trịnh sư huynh trong Ti xử được không?”

“Trịnh sư huynh khám tử thi giỏi.” Ta vẫn không rời mắt khỏi tờ giấy. “Nhưng đọc chữ ngỗ tác cũ thì không quen bằng ta.”

Ta gõ ngón tay vào một dòng. Bích Đào nhìn theo. Ngỗ tác cũ ghi: “cơ tay chưa cứng, khoang miệng không bọt, xác chết yên thần”. Ta chỉ vào chữ “yên thần”.

“Xác không thể vừa ‘chưa cứng cơ tay’ vừa ‘yên thần’.” Ta nói. “Trúng gió độc chết đột ngột thì mặt phải giật, môi phải méo. Không ai ‘yên thần’ cả. Ông ngỗ tác này viết cho hay, không phải viết cho đúng.”

Bích Đào im. Đặt khay trà xuống rất khẽ.

Cửa thư phòng mở. Lục Vô Ngạn bước vào, mang theo hơi lạnh của sương ngoài sân. Áo hắn còn dính vài giọt tuyết bột, rơi trên vai như rắc muối. Hắn không nói ngay, chỉ đi thẳng đến bên án thư, đặt tay lên vai ta. Tay hắn ấm, có mùi trầm nhạt.

Hắn liếc ba tờ giấy. Dừng ở tờ dưới cùng.

“Nàng định nhận vụ này?” Giọng hắn bình. Nhưng ta biết bên trong không bình.

“Nhận.” Ta đáp. “Vụ này ngỗ tác cũ khép ẩu.”

“Còn hai tháng nàng sinh.”

“Chàng lo ta không nghỉ đủ.” Ta ngước lên. Ánh đèn dầu hắt nghiêng qua khuôn mặt hắn, làm sáng cái sẹo mờ trên gò má trái, di vật của lần ám sát ở tương phủ năm ngoái. “Ta lo có một người phụ nữ chết oan không ai biết. Một xác chết dán nhãn ‘trúng gió’ xong rồi thôi. Chàng cho là công bằng ư?”

Lục im. Ngón tay hắn siết vai ta chặt thêm nửa phân, rồi lỏng ra.

“Ta đi cùng.” Hắn nói.

“Chàng không tin tay nghề ta nữa?”

“Ta tin nàng khám. Ta không tin phường Nam.” Hắn ngừng. “Kẻ khép ẩu chưa chắc là ngỗ tác. Có thể là người đưa tiền cho ngỗ tác.”

Ta gật. Trắng đen phải rõ. Câu ấy hai vợ chồng nói với nhau nhiều lần, hôm nay lặp lại như một lời thề cũ.

Kiệu đến phường Nam vào giờ Tỵ. Nắng đông không ấm, chỉ đủ soi lên mái tranh đen. Nhà họ Đinh nằm cuối ngõ, sân đất, cửa gỗ ẩm mọc rêu xanh ở chân. Trước cửa treo một mảnh vải trắng nhỏ, dấu tang.

Đinh Sĩ Bảo ra đón. Chồng nạn nhân. Ba mươi lăm tuổi, thân thấp đậm, mặt tròn, mắt sưng đỏ. Hai bàn tay cứ vặn vào nhau. Hắn cúi lạy Lục Vô Ngạn ba lần, kể liền một hơi:

“Đại nhân xót thương. Vợ tiểu nhân đêm hôm ấy kêu tức ngực, tiểu nhân đỡ nằm xuống, đi lấy nước gừng. Quay lại thì nàng ta đã tắt thở. Trúng gió độc. Ngỗ tác Trần đại thúc đã khám…”

“Ngừng.” Ta bước lên. Áo khoác lụa xám dài đến gót, giấu bụng khá tốt trong lớp áo trong dày. Ta vẫn để tóc buộc cao kiểu thư đồng, cài trâm gỗ mộc, không son không phấn. Bên ngoài Đại lý tự, ta vẫn là ngỗ tác Thẩm Yên. “Xác đâu?”

Đinh Sĩ Bảo hơi lùi lại. Có lẽ hắn không quen bị một thiếu niên trẻ mặt lạnh ngắt lời. Nhưng thấy Lục Vô Ngạn đứng sau lưng thiếu niên ấy, hắn nuốt lời phản kháng.

“Trong buồng.”

Ta vào. Bích Đào theo sau, xách hòm dụng cụ. Lục đứng ngoài cửa buồng, quay lưng vào trong, chắn tầm nhìn của Đinh.

Buồng chật. Mùi hương thắp lâu ngày. Xác Lâm Thúy Nga đặt trên phản gỗ, phủ vải trắng. Ta kéo vải xuống chậm, để tay trái lên bụng mình một giây, như xin phép đứa nhỏ bên trong.

Rồi ta làm việc.

Bích Đào đặt khay dụng cụ bên phải. Đèn dầu kê một bên đầu, một bên chân, ánh sáng đều. Ta rửa tay trong chậu nước có pha giấm, lau khô, đeo găng lụa mỏng.

Xác chết đã ba ngày. Da xám xanh, chớm bốc mùi. Ta rút quạt lụa trong tay áo, phất một cái ngang mặt xác, gạt cái mùi ra một góc. Quạt lụa của cha ta, chữ “chờ ta” khắc mờ trên xương quạt, ta mang theo đã sáu năm.

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

91.800đ

Xem chi tiết →

Bích Đào ghé sát. Ta bắt đầu đọc, giọng trầm và đều, câu ngắn:

“Cổ. Vết bầm rộng bốn đốt ngón. Hình bàn tay. Bốn ngón bên phải rõ, ngón cái bên trái mờ. Kẻ bóp cổ đứng đối diện, dùng tay phải. Ngón tay chai. Không phải tay đàn bà.”

Bích Đào ghi.

“Móng tay nạn nhân.” Ta nâng bàn tay xác lên. “Móng cái trái gãy. Dưới móng có mảnh vụn da. Không phải da mình nạn nhân. Nàng ta chống cự. Cào được kẻ giết ít nhất một vết.”

Ta cúi sát. Cầm cán bút nhỏ, cạy nhẹ dưới móng cái, gạt vụn da vào một tờ giấy trắng. Gói lại.

“Khoang miệng. Lưỡi thâm tím, hơi thò ra. Bọt trắng không có, bọt máu không có. Không phải trúng độc. Không phải trúng gió. Ngạt cơ học.”

Bích Đào ghi.

“Dạ dày.” Ta đặt tay lên bụng xác chết, ấn nhẹ. “Cơ bụng vẫn còn thức ăn chưa tiêu hết. Có mùi thịt gà, hạt kê, hành. Bữa tối cách khi chết chừng một canh giờ. Không phải nửa đêm mới chết. Chết ngay sau bữa tối.”

Ta dừng. Ngước lên phía cửa. Lục Vô Ngạn nghe từ ngoài, khẽ nói vọng vào: “Ta ghi.”

Ta tiếp tục. Câu công thức: xác nhận, nguyên nhân, cơ chế.

“Xác nhận: bị siết cổ đến ngạt. Nguyên nhân trực tiếp: bàn tay phải người quen, ngồi đối diện qua bàn ăn. Cơ chế: chèn khí quản dưới yết hầu, ép trong một khắc rưỡi, mất thức trong ba mươi tiếng đếm. Chết trong nửa canh giờ sau đó.”

Bích Đào đặt bút xuống. Tay hơi run.

Ta phủ vải trắng lên lại. Cúi đầu một cái với xác, khẽ như tự nói: “Đợi ta chút. Trắng đen phải rõ, ta sẽ trả lại tên cho ngươi.”

Ra ngoài. Lục đưa cho ta một khăn ẩm. Ta lau tay. Không khí ngoài buồng cũng lạnh, nhưng dễ thở.

Đinh Sĩ Bảo vẫn đứng đó, giả vờ khấn.

Ta nhìn hắn. Nhìn tay hắn.

Cổ tay phải của hắn có một vết cào mờ, mới. Còn hơi hồng.

Ta chỉ nhìn một cái, rồi quay đi. Lục thấy. Không nói.

Ra ngõ, ta bảo Bích Đào ở lại thăm hỏi các nhà lân cận. Ta và Lục lên kiệu về.

“Tay phải hắn có vết cào.” Ta nói, giọng khẽ.

“Ta thấy.” Lục đáp. “Không đủ để bắt.”

“Không đủ.” Ta gật. “Nhưng đủ để hỏi thêm.”

Bích Đào trở về tương phủ vào giờ Mùi. Ba bát chè hạt sen bốc khói trên bàn, ta chưa động, đợi tin.

Bích Đào ngồi xuống ghế thấp bên cạnh, ngước lên báo cáo, giọng bình tĩnh như đã tập nhiều lần với chủ:

“Hàng xóm hai bên nói: Lâm phu nhân xuất thân nhà giàu phường Đông, cha là chủ tiệm gấm Lâm gia. Lấy Đinh Sĩ Bảo được ba năm, không con. Ba tháng gần đây hai vợ chồng cãi nhau lớn nhiều lần, hàng xóm nghe qua vách. Nội dung cãi liên quan một cô gái ở tửu quán ‘Túy Nguyệt’ cửa Nam. Cô gái tên Ả Điệp, hai mươi, hầu rượu.”

Ta gõ ngón tay lên bàn. Một nhịp. Hai nhịp.

“Đêm xảy chuyện?”

“Có. Đêm mười hai, hàng xóm bên trái nghe Lâm phu nhân la một tiếng ‘ngươi dám…’ rồi im. Sau đó im hẳn. Không ai đến xem, vì hai vợ chồng cãi thường xuyên, không ai muốn dây vào.”

Không ai muốn dây vào. Ta nhắm mắt một khắc. Trong thư phòng ánh đèn dầu chao nhẹ.

“Bích Đào.” Ta mở mắt. “Túy Nguyệt sáng mai mở giờ nào?”

“Giờ Thìn, chủ tử.”

“Ta không đi. Nàng đi. Mời Ả Điệp về Đại lý tự uống trà. Không phải bắt, không phải hỏi. Mời.”

Bích Đào cúi đầu.

Lục Vô Ngạn ngồi phía kia bàn, uống trà, không nói gì. Chỉ khi Bích Đào lui ra, hắn mới đặt chén xuống:

“Nàng không đi phường Nam nữa. Ta không cho.”

Ta nhìn hắn. Mấy tháng cuối này Lục Vô Ngạn ít nói hơn bình thường, nhưng câu nào cũng chắc. Ta biết hắn không dám ép, chỉ dám xin. Cái ép này là ép trong lo, không phải ép trong quyền.

“Ta không đi phường Nam.” Ta đáp. “Đại lý tự thì đi được chứ?”

Hắn im. Rồi khẽ gật. “Được. Trong Ti có ta.”

Sáng hôm sau. Ả Điệp đến Đại lý tự.

Cô gái nhỏ nhắn, môi tô son đỏ, tóc búi lệch. Vào phòng thấy Lục Vô Ngạn ngồi ghế chính, ta ngồi ghế phụ, thị vệ đứng hai bên, thì run rẩy quỳ xuống.

“Đứng lên.” Ta nói. “Ngươi không bị bắt. Ta hỏi vài câu.”

Ả Điệp đứng lên. Tay cứ vặn vào nhau y hệt Đinh Sĩ Bảo hôm qua. Kiểu người quen giấu.

Ta hỏi thẳng, không vòng: “Ngươi và Đinh Sĩ Bảo bao lâu?”

Cô gái nghẹn. Rồi khẽ: “Ba tháng.”

“Đinh Sĩ Bảo hứa gì với ngươi?”

“Chàng nói… sẽ bỏ vợ. Sẽ cưới thiếp làm chính thất, vì… vì vợ chàng không sinh con.”

“Đêm mười hai, ngươi ở đâu?”

“Trong Túy Nguyệt. Đinh gia không đến. Chàng nói đêm ấy ở nhà nghỉ.”

Ta nhìn cô. Nhìn kỹ. Trong ánh mắt cô gái không có sát ý, chỉ có sợ và mờ mịt. Kiểu đàn bà bị đàn ông lừa ba tháng, mới nghe tin vợ nhân tình chết, chưa kịp nghĩ mình có phần trong chuyện đó.

“Ngươi biết đọc chứ?” Ta hỏi.

“Biết. Chút ít.”

Ta đặt trước mặt cô một tờ giấy, cầm bút, viết ba dòng ngắn. Đưa cô đọc.

Trên giấy: “Vợ Đinh Sĩ Bảo chết đêm mười hai. Bị siết cổ. Người siết cổ ngồi đối diện qua bàn ăn. Là chồng.”

Ả Điệp đọc xong. Tay run bần bật. Ngã ngồi xuống ghế.

“Chàng… chàng nói vợ chàng trúng gió…”

“Trúng gió không siết được cổ.” Ta bình. “Ngươi có biết chàng hôm nay đâu không?”

“Sáng nay chàng đến Túy Nguyệt tìm ta. Nói tối nay dẫn ta về nhà. Nói không cần đợi ba năm để tang. Nói…” Cô nghẹn. “Nói chàng đã ‘tự do’.”

Ta nhìn Lục. Lục gật một cái với thị vệ đứng góc. Thị vệ lui ra.

Nửa canh giờ sau, Đinh Sĩ Bảo bị đưa vào Đại lý tự.

Phòng đối chất. Bàn gỗ dày. Đèn dầu ba ngọn, ánh sáng đủ mạnh để soi rõ từng thớ mồ hôi trên trán.

Đinh Sĩ Bảo bị áp vào ghế đối diện ta và Lục.

Ta không hỏi trước. Ta chỉ đặt lên bàn ba thứ: một tờ giấy gói vụn da từ móng tay Lâm phu nhân, một tờ báo cáo khám tử ta vừa viết đêm qua, và một tờ khai của Ả Điệp có chữ ký. Ba tờ xếp thành hàng ngang.

“Đinh Sĩ Bảo.” Ta nói. Xưng “hạ quan”, không xưng “ta”, vì đây là Đại lý tự. “Hạ quan hỏi ba câu. Ngươi đáp ba câu. Trả lời sai một câu, hạ quan đọc báo cáo, ngươi nghe. Trả lời sai hai câu, đọc khai của Ả Điệp. Trả lời sai ba câu, ngươi ký tờ nhận tội.”

Hắn tái mặt. Nhưng còn cố: “Tiểu nhân không hiểu đại nhân…”

“Câu một.” Ta cắt. “Đêm mười hai, ngươi ngồi ăn cơm với vợ mấy giờ?”

“Tiểu nhân… không nhớ…”

“Giờ Dậu?”

“Có lẽ…”

“Sau bữa cơm, vợ ngươi nói gì?”

Đinh Sĩ Bảo im. Ta đợi. Đèn dầu bên trái lép bép một tiếng. Bấc cháy dài thêm nửa phân.

“Nàng… nàng biết chuyện Ả Điệp.” Cuối cùng hắn thốt. “Nàng nói sẽ về báo cha nàng. Cha nàng là chủ tiệm Lâm gấm, có quen quan phủ. Nàng nói sẽ ly dị và tố tiểu nhân tội bỏ vợ chính…”

“Câu hai.” Ta nói. “Ngươi làm gì tiếp theo?”

“Tiểu nhân xin nàng đừng đi. Nàng đứng dậy định ra cửa. Tiểu nhân… tiểu nhân nắm tay nàng lại. Nàng cào. Tiểu nhân…”

Hắn dừng.

“Tiểu nhân bóp cổ nàng.”

Ta gật một cái với Bích Đào ngồi ghi ở góc. Bích Đào viết một dòng.

“Câu ba.” Ta bình. “Ngươi định trong đầu từ trước, hay đó là lúc phẫn nộ nhất thời?”

Đinh Sĩ Bảo ngước lên. Mắt hắn đầy nước. “Tiểu nhân không định trước. Tiểu nhân chỉ muốn nàng ngậm miệng lại. Ai ngờ tay siết chặt quá…”

“Sau đó?” Ta hỏi tiếp. Không phải câu chính thức, chỉ là để đóng vụ.

“Sau đó tiểu nhân đặt nàng lên phản. Sửa cho nàng nằm ngay ngắn. Chờ trời sáng, đi tìm Trần đại thúc ngỗ tác. Đưa Trần thúc năm lượng bạc. Trần thúc viết ‘trúng gió’.”

Ta nhìn hắn lâu.

“Trần đại thúc.” Ta nhắc lại tên. Rồi quay sang Lục. “Người này bắt luôn. Không phải vì giết. Vì bán mực để đổi công lý.”

Lục gật.

Đêm ấy ta viết báo cáo án. Bút mực son đỏ chấm vào nghiên đá đen. Ta chấm ba lần trước khi hạ tay.

Đinh Sĩ Bảo. Phạm tội siết cổ vợ chính, chết. Không cấu thành mưu sát có sắp đặt trước (không dấu vết mua thuốc, không dấu vết chờ thời cơ, không sắp đặt hiện trường trước). Cấu thành ngộ sát trong phẫn nộ nhất thời khi cãi nhau về đường lối gia đình. Cộng thêm tội hối lộ ngỗ tác che giấu, tội gian dối khai báo với quan phủ.

Ta cân nhắc lâu. Theo lệ Đại Tống, giết vợ có thể trảm. Nhưng luật Đại Tống cũng có điều: ngộ sát trong cãi vã, không có sắp đặt trước, có thể giảm xuống lưu đày.

Ta viết đề nghị: đầy đi biên ải Tây Bắc, làm khổ dịch suốt đời, không được ân xá. Vì tay đã nhúng chàm một lần thì đừng cho về gần đàn bà nữa. Vì gieo gió gặt bão, hắn phải tự gánh gió cả đời.

Trần đại thúc ngỗ tác: đánh bốn mươi trượng, đuổi khỏi nghề, cấm trọn đời không được cầm bút khám xác nữa. Vì người khám tử không giữ nổi cái bút của mình thì đừng cầm bút.

Ả Điệp: không tội. Cấp phép hoàn lương, cho một khoản bạc từ ngân khố Đề Hình Ti (khoản dành cho nhân chứng), khuyên về quê.

Ta đóng dấu. Son đỏ in xuống mặt giấy trắng. Nhỏ, tròn, gọn.

Trắng đen phải rõ. Câu này cha ta khắc trên xương quạt, ta khắc trên bút. Kiếp trước khắc trên dao mổ, kiếp này khắc trên bút mực đỏ.

Trở về tương phủ đã quá giờ Tuất. Ngoài sân sương xuống dày, cây mai già in bóng đen lên tường trắng. Ta xuống kiệu. Bụng ta đã quá tám tháng, mỗi bước cần một tay ai đó đỡ.

Lục đứng đợi ở cửa. Không nói. Chỉ đưa tay ra.

Ta nắm. Tay hắn ấm. Tay ta lạnh. Hắn dẫn ta vào, đi chậm, chậm hơn mọi hôm.

Trong thư phòng, than trong lò cháy đỏ. Bích Đào đã đun sẵn một bát canh gừng đường, đặt lên bàn. Ta ngồi xuống ghế lớn, dựa lưng vào lụa mềm, thở ra một hơi dài.

Lục ngồi xuống ghế bên cạnh, không đối diện. Hôm nay hắn không muốn nhìn ta qua bàn ăn. Hắn đã thấy đủ hình ảnh vợ chồng ngồi đối diện qua bàn ăn rồi.

“Xong rồi.” Ta nói.

“Xong.” Lục đáp.

Ta đặt tay lên bụng. Đứa nhỏ đạp một cái, hai cái, ba cái. Như thể chờ nãy giờ.

“Chàng.” Ta gọi. Kể từ chương hai mươi bảy ta đã gọi hắn là “chàng”, hôm nay câu ấy vẫn còn mới trong miệng. “Đây là vụ án cuối trước khi ta sinh.”

Lục quay sang.

“Ta muốn con của chúng ta được sinh ra trong một đêm không có tử thi.” Ta nói. Giọng ta bình, nhưng có gì đó rất khẽ run bên dưới, như sương đọng đầu ngọn cỏ. “Ta muốn đêm ấy nến trầm hương thắp trong phòng ta sinh, không phải trong phòng khám xác. Ta muốn tay ta khi lần đầu ôm con là tay đã rửa sạch mùi giấm, không phải tay vừa cởi găng.”

Lục nhìn ta lâu. Ánh đèn dầu hắt lên má ta, trên chỗ vết sẹo nhỏ giả đã mờ nhiều theo năm tháng. Ta gầy hơn thiếu niên năm xưa, nhưng đầy đặn ở bụng, ở vai, ở ánh mắt.

“Được.” Hắn nói.

Chỉ một chữ.

Ta gật.

Ta cầm bát canh gừng lên. Còn ấm. Uống một ngụm. Đường ngọt vào cổ, gừng cay xuống ngực, nóng đến bụng. Đứa nhỏ bên trong đạp thêm một cái nữa, mạnh hơn.

Ngoài cửa sổ, sương đã trắng cả sân. Cây mai già đứng im. Đêm nay Biện Kinh không có xác chết nào của Đề Hình Ti chờ khám. Ba tờ hồ sơ trên án thư đều đã đóng dấu son. Bút mực đã lau sạch, đặt trong ống bút gỗ mun.

Ta đặt bát canh xuống. Nhìn ngọn nến trầm hương trên bàn cháy đều, khói lên thẳng, không tắt.

“Chàng.” Ta gọi khẽ.

“Ừ.”

“Từ ngày mai, hồ sơ Đề Hình Ti ai gửi qua, chàng nhận trước. Vụ nào không gấp thì Trịnh sư huynh xử. Vụ nào gấp thì gửi Vương Ngự sử. Ta không nhận vụ nào nữa cho đến khi con biết ngồi.”

“Ừ.” Lục đáp.

“Còn một điều.” Ta đặt tay lên tay hắn. “Sau khi con biết ngồi rồi, ta lại nhận vụ.”

Hắn cười. Rất nhẹ. Loại cười chỉ ta mới thấy được, sau bao nhiêu năm.

“Ta biết.” Hắn nói. “Nàng không bỏ nghề. Ta không đợi nàng bỏ nghề. Ta chỉ đợi con của chúng ta ngủ yên đêm đầu.”

Ta gật một cái. Rất nhẹ.

Ngoài sân, một chiếc lá mai vàng cuối cùng rơi xuống nền tuyết mỏng. Không có tiếng. Trong lò, một cục than nứt ra, phun một chấm hoa đỏ, tắt liền.

Đêm đầu đông, Biện Kinh sáng đèn dầu. Trong tương phủ Lục, thư phòng cánh đông, ta đặt tay lên bụng. Cạnh ta, người đàn ông đeo hộ oản gỗ đen ở tay trái ngồi im lặng, tay còn lại vẫn nắm tay ta.

Vụ án cuối đã đóng.

Vụ đời còn dài. Nhưng đêm nay, không có tử thi nào chờ khám. Không có xác nào chờ trả lại tên. Chỉ có một đứa nhỏ bên trong bụng ta, đang tập đạp những nhịp đầu tiên trước khi ra đời.

Ta nhắm mắt lại.

Lần đầu tiên sau sáu năm, ta ngủ mà không gối bên cạnh có cuốn sổ tay ghi vụ án. Chỉ có tay Lục Vô Ngạn.

Sương ngoài sân vẫn xuống, êm như tro hương.