Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 38: 3 Tháng Sau
Ba tháng sau đại hôn.
Sảnh Đông tương phủ Lục sáng nay có nắng non. Nắng đi qua rèm lụa mỏng, đổ vào bàn gỗ đào một tầng vàng đục. Bát cháo trắng nằm trước mặt ta, còn bốc khói mỏng. Chàng ngồi đối diện, tay trái xoay hộ oản gỗ đen chậm, tay phải cầm thìa.
Cảnh này ta đã ngồi qua chín mươi buổi sáng.
Nhưng buổi sáng nay, mùi cháo lên mũi ta khác. Không phải mùi gạo. Không phải mùi hành thái nhỏ. Là mùi gừng non. Ba lát gừng nàng bếp thái sẵn, ngâm nước sôi thả vào bát cháo, mùi cay mỏng bốc lên như một sợi kim.
Ta cầm thìa. Múc một thìa. Đưa lên miệng.
Không kịp.
Dạ dày ta co lại một cái, nhẹ. Rồi co lần thứ hai, nặng. Ta buông thìa. Đưa tay áo lụa lên che miệng, đứng dậy quá vội, chân trái đá vào chân ghế. Ta bước ba bước tới góc sảnh, cúi xuống bên chậu đồng đựng nước rửa tay.
Nôn.
Ra chỉ có nước. Ta chưa ăn được thìa nào. Nhưng dạ dày cứ đẩy lên, đẩy đi đẩy lại ba lần, mới ngưng.
Trong lòng ta biết, đây là lần thứ ba liên tiếp trong bảy ngày.
Ta đứng thẳng lên. Lau miệng bằng khăn tay. Trong tấm gương đồng nhỏ treo trên vách sảnh, mặt ta trắng bợt, hai đuôi mắt hơi ướt.
Chàng đã đứng dậy khỏi ghế. Đến sau lưng ta. Không chạm. Chỉ đứng cách nửa thước, đủ để ta biết chàng có ở đấy.
“Hôm nay là ngày thứ ba trong tuần này,” chàng nói. Giọng thấp.
Ta không quay lại. Ta cúi xuống, vốc một vốc nước lạnh trong chậu đồng, vỗ lên mặt.
“Cháo gừng non. Ta không hợp gừng non.”
“Hôm kia là cháo trắng không gừng. Ngươi cũng nôn.”
Ta ngừng vốc nước.
Chàng nói tiếp, vẫn giọng thấp ấy: “Hôm qua là cháo hạt sen. Ngươi ăn được nửa bát, rồi ra sảnh sau nôn. Ta thấy Bích Đào bưng chậu đồng đi rửa.”
Ta quay lại. Chàng đứng gần hơn ta tưởng. Áo trường bào đen của Đại lý tự thiếu khanh, chàng đã mặc để sắp lên xe ra Đại lý tự trực. Nhưng chân chàng chưa bước ra khỏi sảnh.
Mắt chàng nhìn ta. Trong lòng mắt ấy có một tầng dịu quen, nhưng đêm nay ta đọc thêm được một lớp mới. Không phải hoang mang. Là dò xét, nhẹ, kiểu một người cầm sổ án đọc chậm.
“Ngươi không hợp thức ăn buổi sáng đã bảy ngày,” chàng nói. “Ngươi không muốn ta gọi thầy thuốc?”
“Chưa cần.”
“Vì sao?”
Ta không đáp ngay. Ta cầm khăn tay khô, chấm khoé miệng lần nữa. Trong lòng ta, ba câu công thức đang chạy.
Xác nhận: dạ dày rỗng đẩy ngược, xảy ra buổi sớm, không xảy ra chiều tối. Cảm quan: mùi cay, mùi tanh, mùi trầm đều gây kích ứng.
Nguyên nhân: chưa xác định.
Cơ chế: cần đối chứng thêm hai dấu hiệu.
Ba câu ấy ta không đọc lên. Ta chỉ nói: “Để hạ quan tự khám. Nếu đến ngày thứ chín còn, ta sẽ gọi thầy.”
Chàng nhìn ta thêm nửa nhịp. Rồi gật một cái, nhỏ.
“Đến chiều ngươi về sớm. Nếu ta ra khỏi Đại lý tự trước ngươi, ta chờ ngươi ở đây.”
“Vâng.”
Chàng bỏ tay khỏi hộ oản, đưa ra chạm nhẹ lên vai áo ta. Đúng chỗ khớp vai, chỗ chàng đã chạm sáng đầu tiên ta mặc áo lụa bạch thanh, ba tháng trước. Ngón tay chàng khô, ấm. Ngưng lại nửa nhịp, không lâu.
Rồi chàng quay đi. Bước ra khỏi sảnh Đông.
Ngoài hành lang, tiếng hài chàng rơi trên đá lạnh, đều, một nhịp một nhịp, xa dần.
Ta đứng bên chậu đồng. Nhìn xuống mặt nước còn đọng vệt xà phòng mỏng. Trong nước, có hai đuôi mắt ta đang nhìn lại chính ta.
Đề Hình Ti có một gian phòng riêng cho ta.
Vua ban phòng ấy ba tháng trước, sau khi hạ chiếu phong ta Nữ Ngỗ Tác Chính Danh. Phòng ở dãy Đông, ba bức tường sách, một cái bàn dài đủ đặt hai xác nằm song song, một cái tủ gỗ có mười ngăn để đựng dụng cụ mổ. Cửa sổ nhìn ra vườn thuốc nhỏ. Vườn thuốc ấy ta đã trồng bảy loại: bạch hoa xà, quế chi, cam thảo, xuyên khung, thục địa, đương quy, đinh hương. Mỗi loại đều dùng khử uế hoặc làm thuốc mê cho những ca giải phẫu khó.
Sáng nay khi ta bước vào, năm học trò đã đứng thẳng hai bên bàn dài.
Năm người là năm cô gái. Tuổi từ mười lăm đến hai mươi. Ba trong số họ là con nhà bình dân phường Nam, hai người là cháu của các quan nhỏ trong Đại lý tự. Vua cho phép ta chọn học trò không phân giai cấp, chỉ cần trong lòng không sợ tử thi. Ta phỏng vấn hai mươi lăm người. Chọn năm.
Người đứng đầu bàn là Diệp Vân, mười lăm tuổi, con gái út của Diệp tỷ ở tiệm ngân trang. Diệp tỷ ban đầu không cho Vân theo nghề, nhưng Vân trốn nhà đến gõ cửa ta ba lần, ta phải xin Diệp tỷ. Diệp tỷ đồng ý với một điều kiện: nếu Vân sợ, ta phải cho về ngay, không giữ.
Vân chưa sợ lần nào.
Sáng nay Vân đứng tay chắp trước bụng, mặt ngước lên nhìn ta. Thấy ta bước vào, tất cả năm đứa cùng cúi đầu chào.
“Sư phụ.”
Ta gật đầu. Đặt sổ án lên bàn.
“Hôm nay khám ba xác,” ta nói. Giọng ta ra sảnh Đông còn thấp, nhưng vào phòng này lại trở về giọng công vụ, khô và bằng. “Xác thứ nhất, cụ ông sáu mươi hai tuổi, chết trong nhà, đêm qua. Con cháu khai chết bệnh già. Xác thứ hai, thiếu phụ hai mươi bảy tuổi, chết trong lúc sinh, ba ngày trước. Xác thứ ba, thợ dệt ba mươi lăm tuổi, chết đêm hôm qua trong xưởng dệt phường Bắc. Đại lý tự chuyển sang xác định nguyên nhân.”
Vân giơ tay.
“Sư phụ. Thiếu phụ chết trong lúc sinh, tại sao cũng chuyển?”
Ta gật.
“Câu hỏi hay. Vì gia đình nghi ngờ có kẻ hại. Con dâu tranh của cải với anh chồng. Anh chồng nói dâu chết vì đẻ khó. Gia đình dâu nghi. Chuyển sang Đại lý tự khám kỹ.”
Ta cầm thanh gậy tre chỉ. Chỉ vào xác thứ hai, đang nằm trên bàn giữa. Đầu quay về hướng Bắc, chân quay về hướng Nam. Khăn trắng phủ đến cổ. Chỉ có mặt, tay và bàn chân lộ ra.
“Trước khi mổ, đọc bên ngoài. Vân, đọc.”
Vân bước tới bàn. Cúi xuống nhìn.
“Da mặt trắng bệch. Môi tím nhẹ. Móng tay bên trái có vệt xanh mờ. Cổ có vết trầy nhỏ.”
“Vệt xanh móng tay là gì?”
“Ứ máu do siết mạch tay.”
“Cổ trầy?”
“Có thể vật sắc kề vào không sâu.”
Ta gật.
“Ghi nhận. Chưa kết luận. Ta mở khoang bụng.”
Ta đeo bao tay vải dầu. Cầm dao trổ trúc. Trong nghề này, dao phải sắc, tay phải vững, mắt phải không chớp quá lâu. Ba tháng qua ta đã dạy Vân và bốn đứa còn lại đúng ba điều ấy.
Ta rạch một đường dọc từ giữa ngực xuống rốn.
Máu đọng lâu đã sẫm, không phun. Ta rạch xong, đưa ngón tay banh khoang bụng. Ánh đèn dầu treo giữa phòng phả xuống một tầng vàng, đủ để thấy mọi mạch máu, mọi lớp mỡ trắng bên trong.
Trong dạ con của thiếu phụ, còn nửa cái nhau bám vào thành. Đứa bé đã ra được, nhưng nhau chưa ra hết. Máu tụ nhiều bên trong.
Ta ngừng tay.
Trong lòng ta, một luồng gì đó bất chợt ngưng lại.
Không phải vì cảnh này lạ. Trong đời làm pháp y hai kiếp, ta khám tử phụ nữ chết vì đẻ khó cả trăm ca. Chuyện thiếu phụ chết vì nhau không ra hết là chuyện quá quen ở thời chưa có kháng sinh, chưa có phòng vô trùng. Không phải bị hại. Là chết vì sản khoa.
Nhưng đêm nay, cảnh dạ con mở ra trước mắt ta gợi lên trong lòng ta một câu ta chưa từng nghĩ.
Nếu là ta thì sao.
Câu ấy đến bất chợt, không xin phép. Ta cắn nhẹ trong lòng môi. Ngón tay đang banh khoang bụng khẽ run một cái. Chỉ nửa nhịp thở. Vân không thấy.
Ta hít vào một hơi qua khăn trắng bịt mũi.
Trong lòng, ta đọc lại ba câu công thức. Không phải cho tử thi. Cho chính ta.
Xác nhận: dạ dày rỗng đẩy ngược, xảy ra buổi sớm, đã bảy ngày. Đối chứng mới: khoang bụng dưới hơi tức nhẹ khi đứng lâu, ngực căng tăng ba ngày qua. Kinh nguyệt muộn, đã đếm sáu tuần từ ngày cuối cùng.
Nguyên nhân: có thai.
Cơ chế: sáu tuần đủ để phôi cấy tổ vào thành dạ con, khí huyết đổi dòng ta không đo được nhưng cơ thể ta đọc.
Ba câu.
Ta đứng thẳng lên. Bỏ ngón tay khỏi khoang bụng thiếu phụ. Đưa mu bàn tay chạm nhẹ vào trán ta, kiểu người mệt tạm nghỉ. Vân ngước lên nhìn.
“Sư phụ. Ngài mệt?”
“Ta không mệt. Ta cần đọc lại sổ án cụ ông trước khi kết luận thiếu phụ. Đọc thứ tự sai, ta có thể sai. Vân, ngươi khâu lại khoang bụng thiếu phụ đúng kiểu ta dạy tuần trước. Dùng chỉ số hai. Bích Đào đâu, đưa chỉ.”
“Vâng.” Vân cầm kim. Bích Đào đứng ngoài cửa bước vào, đưa cuộn chỉ nhỏ.
Ta để năm đứa làm nốt. Ta ra hành lang. Đứng dựa vào cột gỗ.
Trong lồng ngực ta, tiếng đập tim mỏi hơn thường. Không phải mỏi vì đứng lâu. Là mỏi vì trong ba câu công thức vừa đọc, có một chữ nặng hơn tất cả những chữ ta từng viết trong sổ án ba tháng qua.
Có thai.
Ta chưa muốn tin. Nhưng trong nghề đọc xác, ta học được rằng thân xác không nói dối. Xác không nói dối. Người sống cũng không nói dối khi bảy dấu hiệu cùng gọi tên một chuyện.
Ta khép mắt nửa nhịp. Rồi mở ra.
Nắng đầu ngày rơi đến giữa vườn thuốc. Bạch hoa xà đã trổ hai đoá trắng nhỏ. Trong lòng ta, một câu đi qua rất nhẹ.
Chín tháng mười ngày.
Ta biết đường đi ấy. Ta khám bao nhiêu xác sản phụ đã đi qua đường ấy không xong. Nhưng lần này, đường đi ở trong chính thân ta.
Chiều ta về tương phủ sớm. Chưa qua giờ Thân.
Bích Đào đứng dưới mái hiên, thấy ta xuống xe. Bước lại.
“Cô, hôm nay ngài Lục nhắn ngài về trước cô. Ngài ở thư phòng.”
“Được. Ta lên phòng ta trước. Chưa đến gặp ngài.”
Bích Đào không hỏi. Chỉ cúi đầu, bước theo ta lên hành lang.
Về phòng, ta đóng cửa. Kéo then. Ba tháng qua ta ở phòng này, có then chốt trong, có ổ khoá đồng. Chưa lần nào ta kéo then vào giữa chiều. Đêm mới kéo. Trưa và chiều để cửa mở, cho gió sảnh Đông đi qua.
Nhưng chiều nay ta kéo.
Ta ngồi xuống bên án viết. Kéo tấm gương đồng nhỏ gần lại. Trong gương, mặt ta không còn trắng bệch buổi sáng. Đã có một tầng ấm nhẹ ở gò má. Không phải vì phấn. Ta chưa xoa phấn hôm nay.
Ta cởi áo lụa bạch thanh của phu nhân tương phủ. Cởi từng nút một. Ngón tay ta ba tháng qua đã bỏ nút thắt vải giấu ngực. Không còn dây bó nữa. Chỉ có áo trong lụa mềm sát da.
Ta bỏ áo trong.
Ta nhìn ngực ta trong gương.
Ba ngày qua, đầu vú đậm hơn màu bình thường, quầng vú hơi rộng ra. Ta không rõ đến khi mới nhìn kỹ. Ngực căng, sờ vào thấy một sợi gân mỏng chưa từng có. Cơ bụng dưới ta ép nhẹ, không đau, chỉ có cảm giác của một chỗ vừa được ai đó khoá lại, không cho hé.
Ta lấy trong ngăn tủ ra một quyển sổ tay nhỏ. Sổ này ta ghi chu kỳ kinh từ ngày rời khỏi dây vải giấu ngực. Ba tháng ba lần. Lần cuối, ta lật lại. Ngón tay trỏ ta chỉ vào dòng chữ: Ngày mười ba tháng Ba, kinh đến, kéo dài bốn ngày, sạch ngày mười bảy.
Hôm nay là ngày ba mươi tháng Tư.
Ta đếm bằng ngón tay. Từ ngày mười bảy tháng Ba đến ngày ba mươi tháng Tư, đúng sáu tuần.
Sáu tuần muộn.
Ta gấp sổ. Đặt lên án viết.
Ngón tay ta lần mò trong ngăn tủ. Kéo ra một hộp gỗ nhỏ ta để riêng. Trong hộp, có ba loại dụng cụ đo lường ta tự làm bằng gỗ và giấy dầu: một thước đo bụng bằng vải mềm có khắc phân, một cân đồng nhỏ chỉ đo được đến năm cân, một cái đế trứng bằng gốm trắng. Đế trứng, ta dùng để đo nhiệt độ nước tiểu đầu sáng. Ở thời này chưa có que thử. Nhưng nước tiểu buổi sáng của người có thai có tỷ trọng khác thường, chảy chậm hơn trên đế gốm trơn, đọng thành giọt lâu hơn.
Ta biết cách. Ta không cần que thử.
Ta khoác áo trong lụa mềm trở lại. Cầm hộp gỗ. Vào phòng tắm nhỏ trong gian riêng của ta.
Nửa canh giờ sau, ta ra.
Ngồi xuống bên án viết. Mở sổ án của ta ra. Không phải sổ ghi chu kỳ. Là sổ ghi chép nghề nghiệp, ta viết cho chính ta, không dâng lên Đề Hình Ti, không cho ai đọc.
Ta cầm bút. Mực đỏ trong nghiên đá nhỏ ta vừa mài lại sáng nay. Mực nghiên chưa quá đặc, chưa quá loãng, đúng độ để viết một dòng có trọng lượng.
Ta viết:
Ngày ba mươi tháng Tư. Tự khám. Bảy dấu hiệu cùng gọi tên: (một) nôn sáng bảy ngày liên tục. (hai) kinh muộn sáu tuần. (ba) ngực căng, đầu vú và quầng vú đậm. (bốn) bụng dưới tức nhẹ khi đứng lâu. (năm) mệt hơn thường, ngủ nhiều một canh. (sáu) khoái khẩu đổi, ghét gừng non và trầm hương. (bảy) nước tiểu sáng chảy chậm trên đế gốm, đọng giọt hình bán nguyệt.
Ta ngừng bút. Bút mực đỏ đọng một giọt ở đầu ngòi. Ta để yên. Không quẹt.
Rồi ta viết dòng dưới:
Kết luận: có thai. Tuần thứ sáu. Không cần thầy.
Ta đặt bút xuống.
Trong phòng, ánh chiều đã ngả sang vàng đục. Gió qua rèm lụa nhẹ. Trên án viết, sổ mực đỏ nằm mở. Dòng chữ có thai đọng trong ánh vàng, đỏ như máu mới trên khăn trắng.
Ta nhìn dòng chữ ấy hai canh khắc.
Trong lòng, một câu ta chưa từng nói với ai, đêm nay đi qua: Ta có gia đình.
Không phải gia đình chỉ có chàng và ta. Là gia đình có thêm một người thứ ba, đang lớn trong lòng ta, chưa nhìn thấy mặt, chưa nghe thấy tim đập, nhưng đã bắt đầu.
Ta đưa tay đặt lên bụng. Qua áo lụa mềm, ta không sờ thấy gì khác thường. Bụng vẫn phẳng như hai tháng trước. Nhưng dưới lớp áo ấy, có một điểm nhỏ hơn đầu kim đang mọc rễ. Ta biết nó ở đấy.
Trong ngón tay ta, dâng lên một cảm giác lạ. Không phải mừng. Không phải lo. Là một tầng ấm mỏng, giống ánh vàng của đèn dầu chảy chậm xuống bấc. Không lay chuyển được.
Chín tháng mười ngày.
Chân cứng đá mềm.
Trong nghề ta, cả trăm sản phụ đã đi qua đường ấy không về. Nhưng cả nghìn sản phụ khác đi qua được. Ta biết những điểm nguy: sản hậu băng huyết, nhau chưa ra hết, nhiễm khuẩn, cao huyết áp thai kỳ. Ta biết cách phòng: nghỉ ngơi tuần đầu ba tháng cuối, ăn đủ chất sắt, tránh sốt, tránh bụi than. Ta biết mọi thứ pháp y trong dạ dày sản phụ chết. Nhưng đêm nay ta là sản phụ, chưa phải tử thi. Kiến thức của ta lần này không dùng để đọc xác. Là dùng để giữ chính ta.
Ta thở ra một hơi rất chậm.
Rồi ta lật sang trang mới của sổ án.
Cầm bút. Mực đỏ. Ta viết một dòng khác. Không phải cho chính ta đọc. Cho một người ta chưa nhìn thấy mặt.
Nếu ngươi là con gái, đặt tên Thẩm Vô Y.
Ta viết chậm. Từng nét. Chữ Thẩm theo họ ta. Chữ Vô Y, ta lấy từ bút danh chàng dùng khi ta lộ nữ tính, đêm chàng bảo Bạch vô y: không mặc, không mang, không sợ. Ta muốn con gái ta không phải mặc gì để giấu. Không mang vỏ. Không sợ nghề.
Ta viết dòng thứ hai:
Nếu ngươi là con trai, đặt tên Lục Cát.
Chữ Lục theo họ chàng. Chữ Cát ta lấy từ tên cha ta: Thẩm Cát. Ta muốn con trai ta mang họ chàng, nhưng trong tên có một chữ của cha ta. Cha ta chết oan, không có ai nối nghề. Nếu có một đứa con trai mang chữ Cát, có nghĩa cha ta không mất tên trong sổ họ của ta.
Ta đặt bút xuống. Nhìn hai dòng chữ đỏ trên trang sổ.
Trong đầu ta, một câu người xưa nói đi qua: Trắng đen phải rõ. Ta đã sống ba tháng danh chính ngôn thuận. Không còn giấu ta là nữ trong tương phủ. Ngoài Đề Hình Ti ta vẫn giả nam trên giấy tờ, nhưng vua đã biết, chàng đã biết, năm đứa học trò đã biết. Ba tháng ấy, ta thấy trong lòng thoáng ra một khoảng chưa từng có.
Đêm nay, khoảng ấy có thêm một trọng lượng mới. Không phải trọng lượng của sổ án. Là trọng lượng của một sinh mệnh mới đang mọc rễ trong ta.
Ta gấp sổ. Cất vào tủ. Khoá.
Chàng gõ cửa phòng ta khi trời đã ngả tối.
Ta mở then. Đứng lùi vào trong. Chàng bước vào. Trong tay chàng, cầm một chén nước gừng non nóng. Bích Đào đứng phía sau, đưa cho chàng, chàng cầm.
“Bích Đào nói ngươi từ trưa đến giờ chưa ăn.”
“Vâng.”
“Ngươi bệnh?”
Ta nhìn chàng. Trong ánh đèn dầu treo giữa phòng, mắt chàng đen như mực đọng lâu, giống mọi ngày. Nhưng đêm nay ta biết trong lòng mắt ấy chưa có chữ cha nào. Đêm nay ta chưa nói. Ngày mai ta cũng chưa nói. Ta muốn giữ chuyện này riêng ba ngày. Đủ để ta tự cân xong.
“Không bệnh. Buổi chiều ta ngủ một canh, tỉnh dậy đói nhưng chưa muốn ăn. Ngài đặt chén nước gừng ở án viết, ta uống sau.”
Chàng nhìn ta một khắc. Không hỏi tiếp.
Đặt chén nước gừng lên án viết. Cạnh sổ án đã đóng.
Rồi chàng đưa tay ra. Chạm vào vai áo ta. Đúng chỗ khớp vai. Ngón tay chàng khô, ấm. Ngưng lại nửa nhịp.
“Ngày mai không đi Đề Hình Ti.”
“Ngài lệnh?”
“Ta xin.”
Ta không đáp. Ta chỉ cúi đầu nhẹ, đủ để chàng biết ta nghe thấy.
Chàng bỏ tay. Bước ra khỏi phòng.
Ta đóng cửa. Kéo then.
Ngồi xuống bên án viết. Cầm chén nước gừng chàng đặt. Uống một ngụm. Gừng cay đi qua cổ họng ta ấm. Không cay quá. Là loại gừng chàng chọn cho ta, không phải gừng non buổi sáng trong sảnh Đông.
Ta đặt chén xuống.
Mở tủ khoá. Lấy sổ án ra. Lật đến trang có hai dòng đỏ.
Nếu ngươi là con gái, đặt tên Thẩm Vô Y.
Nếu ngươi là con trai, đặt tên Lục Cát.
Ta đọc lại hai dòng ấy dưới ánh đèn dầu. Bút mực đỏ đã khô, đọng rõ trên giấy. Đêm nay ta chưa cho chàng đọc. Ba ngày nữa ta sẽ cho.
Trong lòng ta, một câu người xưa nói đi qua rất nhẹ: khai hoa nở nhụy. Cha ta trồng một vườn thuốc nhỏ ở nghĩa trang cửa Nam, ta chưa từng nhìn thấy. Mẹ nuôi kể trong đời cha ta, cha ta chỉ trồng được hai vụ hoa. Kỳ sau, cha bị Trương giết. Vườn ấy tự tàn. Ta không nhớ mặt cha đẻ ta trong đời này. Ta chỉ nhớ chữ khắc trên bia mộ: Tận trung phá án, chết oan không rõ.
Đêm nay, trong bụng ta, một chồi mới bắt đầu. Nếu là con gái, ta gọi Vô Y. Nếu là con trai, ta gọi Cát. Trong tên nào cũng có một mảnh của người ta đã mất, và một mảnh của người ta đang có bên cạnh.
Ta gấp sổ.
Cất lại. Khoá.
Bên ngoài cửa sổ, sương đêm bắt đầu đọng trên tàu lá chuối. Chàng đã về phòng. Bích Đào đã tắt đèn hành lang phía Tây. Tương phủ Lục sáng thứ chín mươi mốt sau đại hôn, im lặng như tro hương đã cháy hết một nén.
Ta thổi nửa tim bấc đèn dầu.
Ánh vàng dịu xuống một tầng.
Trong lòng ta, một câu chưa từng có trước đêm nay đọng lại như mực đỏ trên trang cuối một bản án.
Ta có ba người rồi.