Trọng Sinh Đêm Tân Hôn Ta Đổi Chén Rượu
Chương 7: Hoài Nhàn Trai
Ba tháng.
Yên Kinh ngoài thành, phố Đông Xuân Nhàn. Một dãy nhà mộc lợp ngói xám bên bờ Bạch Câu, sau lưng là ngọn núi thấp phủ trúc thưa. Cửa gỗ mộc treo biển đen chữ trắng: “HOÀI NHÀN TRAI”. Ba chữ tự tay ta viết, tự tay ta khắc. Mực chưa khô ba tháng trước, giờ đã ngả sang màu tro nhạt.
Tiệm thuốc nhỏ ba gian. Gian ngoài bày quầy gỗ đàn cũ, sau quầy là ba mươi hộc kéo nhỏ ghi chữ triện. Gian giữa để bàn sao thuốc và bếp than. Gian trong ngoại tổ phụ ở, có cửa sổ nhìn ra bờ sông.
Ba tháng, ta chưa hỏi ai một câu về chàng.
Bên án gian giữa, ta ngồi sao một mẻ kim ngân hoa. Than trong bếp cháy đỏ. Chảo đồng ấm dần. Cánh hoa vàng nhạt xoay tròn trong đáy chảo, tỏa mùi thanh thanh. Ta cầm đũa gỗ, đảo chậm. Tay ta không run. Đã ba tháng tay ta không run.
Kiếp trước ta không biết bốc thuốc. Kiếp trước ta chỉ biết ngồi trước bàn trang điểm chờ ngày gả. Kiếp trước ta chết đúng đêm gả, không kịp học một điều gì cho ra hồn. Kiếp này, ta học.
Ngoại tổ phụ dạy. Ông bảo: “Y đạo không phải chuyện của khéo tay. Y đạo là chuyện của tâm. Tâm không tĩnh, thuốc không tinh.”
Ba tháng, tâm ta chưa tĩnh hoàn toàn. Nhưng thuốc thì đã tinh.
Ngoài cửa, chim khách kêu ba tiếng trên cành ngô đồng.
…
Ngày ta xin ra khỏi phủ, cha ta ngồi im trong thư phòng rất lâu. Ông không sốc vì hai mươi năm vợ mình là gián điệp Bắc Địch. Ông sốc vì chín năm trước mình đã tin thật rằng Lan thị chết vì “phong hàn”. Ông ngước lên nhìn ta bằng đôi mắt đã đục. “Diệp Lam. Cha có lỗi với mẹ con. Cũng có lỗi với con. Hồi môn mẹ con để lại, cha trao con hết. Thêm hai nghìn lượng. Không phải cha thương con. Cha áy náy.”
Ta nhận. Không nói cảm ơn.
Ninh Uyển đã xử tử. Ngọ môn cổng bắc, bảy ngày sau đại điện. Bà ta không kháng án, không kêu oan. Trước lúc đầu rơi, quan chép sử ghi vào một câu: “Kế hoạch hai mươi năm của mẫu thân ta thất bại nơi một con thứ nữ trọng sinh. Ta không phục. Nhưng ta chấp nhận.”
Ta không đến xem. Khi tiếng chuông Ngọ môn dội ra ngoài thành, ta chỉ ngừng đũa gỗ trong tay một khắc. Rồi đảo tiếp.
Vệ Hoàng hậu bị giam lãnh cung phía tây. Thái tử Diệp Trầm quỳ xin phụ hoàng: “Để mẹ con sống một mình đến chết mới là phạt.” Hoàng đế im một canh giờ, cuối cùng gật. Nghe nói bà ta ngày ngày ngồi trước hộp phấn có kim tiêm gãy, không ăn, không nói.
Đích tỷ Diệp Lộ bị Đông cung trả về Trấn Bắc bá phủ. Diệp Trầm cho ly hôn êm, không muốn con gái gián điệp làm Thái tử phi, cũng không muốn hạ nhục một cô gái vô tội. Diệp Lộ về phủ, đóng cửa khuê phòng, không gặp ai.
Tháng đầu ở Hoài Nhàn Trai, ta viết một bức thư dài cho tỷ. Chữ nhỏ, giấy dâu. Ta không giỏi khóc, không giỏi xin lỗi. Nhưng ta viết được sự thật.
“Tỷ. Mẹ tỷ và mẹ ta là hai người. Mẹ tỷ có tội, mẹ ta chết oan. Nhưng cả hai chúng ta đều là con gái không được chọn mẹ. Tỷ vô tội chịu tội cho mẹ. Món nợ này ta không trả nổi. Chỉ xin tỷ nhận cho ta gửi năm trăm lượng bạc, cắt ra từ hồi môn mẹ ta để lại. Nếu tỷ có ngày muốn ra khỏi phủ, đến Hoài Nhàn Trai tìm ta. Ta mở cửa vì tỷ là chị ta.”
Lan Nhã đem thư qua. Trả lời không có. Bạc thì nhận.
Ta không giận. Ba tháng chưa đủ. Có khi cả kiếp không đủ. Nhưng cửa Hoài Nhàn Trai ta mở rồi. Ai muốn vào, đến.
…
Ba tháng qua, Thất hoàng tử ở Ung Châu.
Chàng đi ba ngày sau đại điện. Không tiễn ta, không gửi thư. Ta cũng không tiễn, không gửi. Kiếp trước ta chết đêm tân hôn, kiếp này ta sống qua đêm tân hôn nhưng không có đêm nào là “tân”. Đêm ấy ta đứng trong đại điện suốt canh giờ đến sáng, áo cưới còn dính mùi than trong tân phòng.
Chàng có gì để tiễn? Ta có gì để hẹn?
Chỉ có Lữ Trấn thỉnh thoảng gửi tin ngắn qua đường thư của ngoại tổ phụ. Mỗi tin không quá tám chữ. “Điện hạ khỏe. Ung Châu ổn.” “Bắc Địch rút lui.” “Điện hạ ăn thịt sống.” Câu cuối là đùa. Lữ Trấn sáu mươi tuổi, ám vệ già, biết đùa. Ta đọc, cười khẽ, gấp giấy, đốt trong bếp lò.
Trong lòng ta, một sợi dây hồng đêm đại hôn ba tháng trước đã nối lại. Nhưng dây hồng nối rồi thì phải để đó. Nó không cần ta kéo mỗi ngày. Nó chỉ cần ở đó, biết là ở đó.
Ba tháng, ta học sao thuốc. Học nhìn mạch. Học nếm vị đắng ngọt hàn ôn. Học ngồi im trước một bệnh nhân già không ai đưa đến, tự chống gậy đi vào từ ngoài đồng. Ta không lấy bạc của bà lão ấy. Ta gói thuốc, dặn uống ba thang, xong đến báo lại.
Y đạo là chuyện của tâm. Tâm ta ba tháng qua đã bớt sắc. Bớt lạnh. Còn giữ. Nhưng bớt.
Đó là chàng không thấy được.
Chiều nay, ngoài cửa chim khách kêu lần thứ hai. Ta ngước lên nhìn cửa mở.
…
Bước vào một người đàn ông cao.
Áo bào tím đậm, thắt lưng đen. Râu tóc cạo sạch, tóc búi cao gọn dưới một chiếc ngọc quan mộc, không phải tóc dài rối kiểu vai điên tám năm. Tay đeo găng da đen, che kín bàn tay có chai vũ khí. Mặt sạm nắng ba tháng biên cương, gò má gầy hơn. Mắt sắc, không giấu.
Thất hoàng tử.
Ta không đứng dậy. Không cười. Cũng không lạnh. Đũa gỗ trong tay ngừng đảo một nhịp, rồi đảo tiếp. Sao thuốc bỏ giữa chừng là hỏng một mẻ.
Chàng đứng ở cửa. Không bước vào. Nhìn ta sao thuốc.
Ta ngước lên. Giọng đều: “Chàng về khi nào?”
“Sáng nay. Vào cung tạ phụ hoàng trước. Xong đến đây.”
“Ung Châu?”
“Đã sắp binh. Bắc Địch không dám động ba năm nữa. Ta xin phụ hoàng cho về Yên Kinh làm việc triều đình. Không xuất quân nữa.”
Ta gật. Đảo đũa tiếp. Chảo đồng nóng đều, không được để quá lửa.
Chàng bước một bước vào trong. Chỉ một bước. Đứng ở giữa gian ngoài, cách ta ba bước. Ánh nắng chiều thu chảy qua cửa, ép lên vai áo bào tím một vệt vàng. Chàng nhìn quanh tiệm. Nhìn ba mươi hộc kéo có chữ triện. Nhìn biển đen ba chữ. Nhìn chảo đồng trên bếp than. Cuối cùng nhìn ta.
“Người phụ chính có ba việc,” chàng nói. Giọng khàn hơn ta nhớ. Ba tháng cát Ung Châu vào cổ. “Một, giữ triều. Hai, giúp Thái tử huynh. Ba…”
Chàng ngừng.
Ta đứng dậy.
Chảo kim ngân đã sao xong. Ta nhấc ra khỏi bếp, đặt lên miếng đá ướt bên cạnh cho hạ nhiệt. Đi qua án, đến bàn trà nhỏ ở góc gian ngoài. Trên bàn có một ấm sành cũ, ba chén sứ trắng. Ta rót một chén trà nhài. Chén trong nhạt. Nước trà xanh nhạt trong veo, hoa nhài phơi khô nổi hai cánh trên mặt. Ta đẩy chén qua bàn về phía chàng.
“Chàng ngồi. Trà mới pha. Chàng đi Ung Châu ba tháng, ta pha chén này ba tháng.”
Chàng ngồi. Bàn nhỏ, ghế thấp, chàng cao nên ngồi hơi gập gối. Nâng chén. Không nhìn nước trong chén. Nhìn ta. Uống một ngụm. Đặt xuống án.
“Ba,” chàng nói, “ta cưới nàng lần nữa. Cưới đúng nghĩa.”
Ta ngồi bên án đối diện. Không đáp ngay. Kéo chảo kim ngân sang một bên, lấy ra một khay trần bì phơi khô. Tay ta thái chậm. Vỏ trần bì nứt nhẹ dưới dao, tỏa mùi cam đắng. Sao thuốc phải theo trình tự, không được nhảy bước. Cưới cũng vậy.
Ta ngước lên: “Chàng cưới ta rồi. Đêm tân hôn ba tháng trước. Chàng không nhớ?”
“Nhớ.” Chàng đáp. “Nhưng đêm ấy nàng không được ngủ. Đêm ấy tân phòng có Ninh thị đến chúc. Đêm ấy nàng đứng đại điện suốt đêm sang sáng. Đó không phải tân hôn. Đó là chiến trường.”
Ta ngừng thái. Đặt dao xuống. Nhìn chàng lần đầu bằng đôi mắt không cụp buồn kiểu nhu nhược, cũng không lạnh kiểu ba tháng vừa qua.
Ta cười.
Nụ cười nhẹ, không tô, không nắn. Ba tháng nay, đây là lần đầu ta cười với một người không phải ngoại tổ phụ, không phải Lan Nhã, không phải bà lão bệnh nhân.
“Chàng muốn tân hôn nào?”
“Không cần lễ. Không cần đại điện. Chỉ cần nàng cho ta ở đây bốc thuốc cùng nàng. Ta không giỏi bốc thuốc, nhưng ta học được.”
Ta nghiêng đầu: “Chàng là Nguyên soái phụ chính.”
“Ta cũng là chồng nàng.”
…
Sau lưng ta, gian trong có tiếng gậy đồng đập cối đồng ngừng lại. Ngoại tổ phụ Lan lão thái bước ra, tay cầm gói giấy vàng buộc dây gai. Ông bảy mươi lăm tuổi, râu bạc, đi chậm nhưng chắc. Ba tháng ở với ta, ông đã béo lên nửa cân. Không phải vì ăn ngon, mà vì ba tháng không phải giấu di thư máu con gái trong hộp khảm trai, không phải sợ có người tìm đến gõ cửa Yên Sơn đêm khuya.
Ông đưa gói thuốc cho ta: “Cô cháu. Có khách đợi lấy thuốc. Người quen. Bà cụ họ Ngô. Cô ra không?”
Ta nhận gói. Ngoại tổ phụ ngước nhìn Thất hoàng tử. Đứng lâu. Chàng cũng nhìn lại ông.
Cuối cùng chàng đứng dậy. Bước ra khỏi ghế thấp. Chắp tay trước ngực. Cúi.
“Ngoại tổ. Con là chồng cháu ngoại ngoại tổ. Xin ngoại tổ nhận.”
Ngoại tổ phụ nhìn chàng lâu. Nhìn từ đỉnh ngọc quan mộc xuống mũi giày đen. Nhìn đôi mắt sáng, đôi tay đeo găng da đen. Cuối cùng gật một cái.
“Cháu Thất. Con vào ngồi. Nhàn có làm khách cũng có làm chồng. Chồng thì phải học bốc thuốc. Đứng đó không được.”
Chàng cười. Nụ cười đầu tiên ta thấy trên mặt chàng kiếp này, không phải cười ngu giả điên, không phải cười lạnh triều đường. Nụ cười này ngoại tổ phụ ép ra được. Ta không ép được.
Ta cầm gói thuốc, bước ra gian ngoài trước quầy.
…
Bà cụ Ngô ngồi trên ghế đợi bên cửa, tay bám gậy trúc, tóc bạc buộc khăn xanh. Bà lão thấy ta ra, muốn đứng dậy, ta khoát tay ngăn.
“Cô cháu. Uống ba thang trước, thấy đỡ chưa?”
“Đỡ, đỡ. Đêm ngủ được. Ho ít. Cô cháu, ta trả bạc lần này.”
“Không. Bà uống hết thang này, đến báo lại. Còn thang thì còn lấy. Bạc để lúc khỏi.”
Bà lão cầm tay ta. Bàn tay bà nhăn, xương nổi rõ, ấm. Bà không khóc. Chỉ nhìn ta lâu, gật đầu. Rồi chống gậy đứng dậy, đi ra cửa. Ánh nắng chiều thu chảy dài xuống lưng khăn xanh, in bóng bà lên nền gạch xám.
Ta đứng bên quầy, nhìn bà đi hết ngõ.
Kiếp trước ta chết đêm tân hôn. Hồn ta nán ba năm, chứng kiến mẹ ta bị vu, chồng ta bị phế, chính ta bị lãng quên. Ba năm ấy ta không có tay để đỡ ai, không có miệng để nói với ai, không có chén thuốc để bốc cho ai. Chỉ có nhìn.
Kiếp này ta có tay. Có miệng. Có chén. Có thuốc. Có một bà cụ Ngô nhận thuốc từ tay ta, ấp vào ngực bảy mươi tuổi bà, đi ra cửa với gói giấy vàng buộc dây gai.
Trâu bạc mẹ ta để lại còn cắm trong búi tóc ta. Ba tháng, ta không rút ra.
…
Ta trở về gian giữa.
Thất hoàng tử đã ngồi xuống bên án sao thuốc. Ngoại tổ phụ đứng bên, đang chỉ vào chảo đồng. Chàng cởi găng da đen. Bàn tay chàng lộ ra, dài và đẹp, có vết chai vũ khí ở gò ngón cái và mép tay ngoài, có một vết sẹo dài mỏng chạy qua mu bàn tay trái. Vết sẹo mới. Ung Châu, ba tháng biên cương.
Ngoại tổ phụ đang nói: “Kim ngân sao đến khi cánh chuyển vàng nhạt là ngừng. Không được để vàng đậm, thành cháy. Đây, con đảo thử. Đũa gỗ cầm nhẹ, xoay đều tay, không được đè.”
Chàng cầm đũa gỗ. Đảo. Tay chàng cầm kiếm mười lăm năm, cầm đũa gỗ ba tháng biên cương chưa cầm. Ba khắc, một mẻ trần bì mới đổ vào chảo chuyển sang nâu đậm, bốc mùi khét.
Ngoại tổ phụ cười, bảo: “Cháy rồi. Đổ đi. Sao lại. Con nhớ, không được đè đũa.”
Chàng cười. Không nói. Đổ mẻ cháy vào giỏ rác gốm bên bếp. Đứng dậy, rửa chảo, ngồi lại. Ngoại tổ phụ đứng nhìn một khắc, cuối cùng vỗ vai chàng: “Được. Học được.” Xong ông đi vào gian trong, tiếng gậy đồng lại đập nhẹ vào cối đồng nhịp đều.
Ta đứng ở khung cửa gian ngoài, nhìn.
Chàng cúi đầu, đảo mẻ trần bì mới. Ánh nắng chiều thu chiếu ngang, in một vệt vàng xuống nửa vai áo bào tím. Bàn tay không đeo găng có vết sẹo dài mỏng. Bàn tay cầm kiếm mười lăm năm hôm nay cầm sao thuốc, vụng về, ba lần cháy trong nửa canh giờ.
Ta không lại gần. Chỉ đứng nhìn.
Trong lòng ta, sợi dây hồng ba tháng ở đó bây giờ nhích nhẹ một chút. Không kéo. Không thắt. Chỉ nhích.
…
Ngoài cửa, tiếng chân Lan Nhã về. Nàng ta xách hai giỏ mây, mặt hồng vì đi bộ nhanh. Bước vào tiệm, thấy Thất hoàng tử ngồi bên án sao thuốc, ngơ ra một khắc. Rồi hai giỏ mây rơi xuống. Nàng ta quỳ ngay giữa gian.
“Thất điện hạ! Nô tì…”
Chàng khoát tay, giọng đều: “Đứng dậy. Ở đây không có Thất điện hạ. Ở đây có bốc thuốc. Nàng đứng dậy.”
Lan Nhã run tay đứng dậy. Nhặt hai giỏ mây, không dám nhìn, đi vào gian giữa cất đồ. Ta thấy tai nàng ta đỏ.
Ta lại gần, khẽ nói: “Nhã. Cứ như thường. Chàng đến đây bốc thuốc, không phải đến làm điện hạ.”
Nàng ta gật, mắt còn hoang mang. Cầm gói đường phèn đi vào gian trong.
Ta quay lại. Chàng vẫn cúi đầu, đảo mẻ trần bì thứ hai. Ta bước qua, ngồi xuống bên án đối diện. Tay ta lấy một khay nhỏ đựng cam thảo phơi khô, thái. Bàn tay ta thái đều, tay chàng đảo đều. Hai bên án, hai người, cùng làm thuốc.
Bảy chén rượu.
Bảy chén rượu ba tháng nay ta không quên. Chén vàng son sáng đại hôn Ninh thị đưa. Chén đỏ máu bày trên khay tiếp tân Thất vương phủ. Chén trắng nước ta luyện tay tráo trong phòng riêng. Chén xanh trà chàng đưa thử ta sau Đông sảnh. Chén tro Ninh thị mang chén rượu mừng. Chén đỏ mừng Hoàng đế ban chàng phong Nguyên soái. Sáu chén rượu trong một ngày một đêm, mỗi chén một sắc.
Chén thứ bảy. Chén trong nhạt hôm nay.
Chàng biết ta đã đếm.
Chàng không nói gì. Ta cũng không nói gì. Cối thuốc gian trong vẫn đập đều một tiếng một nhịp. Bên ngoài, chiều thu nghiêng dần về tây, nắng rút vào một góc gian giữa. Trong bếp, than đỏ dần hạ.
…
Chảo đồng đã sao được hai mẻ trần bì, một mẻ kim ngân, một mẻ cam thảo. Đủ dùng ba ngày.
Ngoại tổ phụ từ gian trong bước ra, cầm tay chàng nhìn lòng bàn tay: “Cháu Thất. Ngày đầu học đủ. Mai đến sớm hơn, ta dạy nếm vị.”
Chàng chắp tay: “Cảm tạ ngoại tổ.”
Ngoại tổ phụ vỗ vai chàng lần nữa, đi vào gian trong. Lan Nhã đóng cửa gian trong lại, ra hiệu để ta với chàng nói riêng. Đèn dầu ta chưa châm. Trong tiệm chỉ có nắng chiều thu cuối cùng chảy vào qua khe ngói.
Ta đứng dậy, dọn đũa gỗ và dao thái lên khay. Chàng cũng đứng dậy, đứng bên án nhìn ta dọn. Sau một khắc, chàng đưa tay ra. Không nắm tay ta. Chỉ đưa ra, mở lòng bàn tay có vết sẹo, để ngửa trên án.
Ta nhìn lòng bàn tay chàng. Nhìn vết sẹo. Nhìn vết chai vũ khí ở gò ngón cái.
Ta đặt tay ta lên. Không đan ngón. Chỉ đặt.
Bàn tay ta trên bàn tay chàng, không nặng, không nhẹ. Đầu ngón lạnh vì thái cam thảo, lòng bàn tay ấm vì than trong bếp. Bàn tay chàng ấm hơn, có vết sẹo mới, có vết chai cũ, có mùi cát Ung Châu chưa rửa hết dưới móng.
Sau ba nhịp thở, ta rút tay lại. Đặt lên khay đũa gỗ.
Chàng không giữ. Không nắm. Chỉ nhìn lòng bàn tay mình một khắc, rồi buông xuôi.
“Mai,” chàng nói. “Ta đến sớm.”
“Ừ.” Ta đáp. “Đến sớm.”
…
Ta tiễn chàng ra cửa. Đứng ở khung cửa nhìn chàng đi qua ngõ, áo bào tím đậm hòa vào ánh chiều thu, ngọc quan mộc sáng nhẹ dưới nắng. Bóng chàng đổ dài trên nền đá, chồng lên bóng cành ngô đồng.
Đi đến cuối ngõ, chàng quay đầu nhìn lại một lần.
Ta không giơ tay. Không cười. Chỉ đứng.
Chàng gật một cái, rất khẽ. Rồi đi tiếp.
Ta đóng cửa tiệm. Không đóng khoá. Ngày mai chàng đến sớm.
Trở vào gian giữa, ngoại tổ phụ và Lan Nhã đang bày cơm chiều trên án. Ba bát cơm, một đĩa rau muống xào, một bát canh cà chua trứng. Ba người ngồi vào ba ghế. Ngoại tổ phụ chan canh, Lan Nhã xới cơm. Ta ngồi xuống, cầm đũa.
Không ai nói về chàng.
Ăn xong, ngoại tổ phụ vào gian trong đọc sách y. Lan Nhã dọn bát ra sau bếp rửa. Ta ngồi lại bên án gian giữa một mình. Trên bàn nhỏ góc gian ngoài, chén trong nhạt chàng uống một ngụm còn ở đó. Nước trà đã lạnh, hoa nhài chìm xuống đáy.
Ta bước tới, cầm chén lên.
Trong lòng ta không có xúc động lớn. Không có nước mắt. Không có run tay. Chỉ có một cảm giác rất nhẹ, như khi sao xong một mẻ thuốc đúng, đứng dậy lau tay, biết mai còn một mẻ nữa phải sao. Ngày mai còn ngày mai. Chén trà còn chén trà. Người còn người.
Ta ngoảnh lại một lần. Gian giữa im. Đèn dầu ta chưa châm, ánh chiều thu cuối cùng đang rút khỏi khe ngói.
Kiếp trước ta uống chén rượu độc trong tân phòng.
Kiếp này ta pha chén trà nhạt trong tiệm thuốc.
Bảy chén rượu, chén cuối này ta không đổi nữa.
HẾT.