Trọng Sinh Ta Là Cung Nữ Đưa Trà Cho Hoàng Hậu

Chương 7: Chén Thứ Bảy

Ba tháng.

Điền quý phi giam Trường Xuân cung. Cửa cung đóng. Nha đầu chỉ một người. Nhị hoàng tử tự xin cha giáng thêm, nhận phong Bình Nam Vương, phong ấp cực nam, đi khỏi kinh vào tháng hai.

Lâm nhi trảm ở Ngọ môn tuần trước. Ta không ra xem. Ta ở trong phòng riêng Thượng Trà cục, pha một chén trà thường cho mình, uống hết ba tuần trà thì trống chầu ngoài Ngọ môn dứt.

Điền thượng thư giáng thứ dân. Lưu ngục hai mươi năm. Ba họ Điền cách chức, đuổi khỏi kinh.

Hoàng thượng truyền ngôi Thái tử tháng ba. Không đợi nữa. Người thoái vị làm Thái thượng hoàng, dọn sang Ngự Uyển cung dưỡng già. Thái tử Triệu Quang hai mươi mốt tuổi lên ngôi, xưng Nguyên Hòa đế.

Hoàng hậu Vệ thị trở thành Hoàng thái hậu. Bà không ở Khôn Nguyên cung nữa. Dời sang Từ Ninh cung phía đông, cách Thượng Trà cục hai dãy hành lang có hoa mai vàng nở dày mỗi cuối đông.

Ta không còn mặc lụa xanh cung nữ. Áo lụa tím than nữ quan cấp cao, tay áo rộng, viền chỉ bạc mảnh. Tóc búi cao, cài một cây trâm ngọc trắng Thái hậu ban ngày phong. Trâm bạc hoa mai của mẹ ta vẫn treo trong ngực áo bằng sợi dây tơ đen cũ. Không đổi. Không cần đổi.

Ta có phòng riêng ba gian bên hông Thượng Trà cục. Xuân Đào theo ta, làm nha đầu chính. Con bé bây giờ mặc áo lụa xám nữ tì cấp cao, tóc buộc gọn, không còn kiểu tết đuôi sam cung nữ hạ đẳng.

Nữ quan nhất phẩm Thượng Trà cục.

Ta hai mươi hai tuổi.

Cung nữ trong Thượng Trà cục cũ gặp ta cúi đầu chào, không gọi “Chu tỷ tỷ” như xưa nữa. Gọi “Chu đại nhân”. Có người kính. Có người sợ. Có người ganh. Ta không phân biệt. Ta chỉ nhớ tên từng đứa, mùa nào đứa nào dễ ho khan, đứa nào tay run khi cân lá trà. Ai biết mình thì đủ.

Sáng nay Xuân Đào bưng nước rửa mặt vào. Nàng đặt chậu đồng lên án, không lui, đứng đợi ta.

Ta biết nàng đợi. Ta vốc nước, rửa mặt, lau khăn, rồi mới ngước.

“Muội có gì muốn nói?”

“Chu tỷ tỷ…” Xuân Đào ngập ngừng. Con bé lớn lên trong cung, quen nhìn sắc mặt trước khi mở miệng. “Bà cụ đã đi được năm ngày đường. Người báo về sáng qua nói xe ngựa qua trạm Trần Lưu.”

Ta gật.

“Còn hai ngày nữa vào cửa nam.”

“Ta biết. Muội đi thu xếp lại phòng ngủ trong nhà ba gian. Thêm chăn bông dày, đèn dầu đầu giường, một chậu nước nóng để sẵn khi bà xuống xe.”

Xuân Đào cúi đầu, lui.

Ta ngồi lại bên án. Bên tay ta là hộp gỗ nhỏ, bên trong xếp bảy phong thư ta viết cho bà ngoại trong ba tháng qua. Không gửi. Không dám gửi. Chỉ viết. Mỗi tối một phong. Viết xong xếp vào hộp.

Kiếp trước ta không biết bà chết ngày nào. Chỉ biết ba họ tru di, bà bảy mươi tuổi, chân yếu không đi được, chắc chết trong ngục trước cả ta. Ta không có mộ để đi thăm. Không có gì để đốt cho bà.

Kiếp này ta có bảy phong thư. Ta không đốt.

Ta để bà tự đọc.

Nhưng bà không đọc được chữ. Ta biết. Mẹ ta biết dăm ba mặt chữ do làm con hầu nhà quan văn nhỏ hồi trẻ, chứ bà ngoại thì cả đời chỉ quen mặt tiền đồng và que khắc lịch ruộng. Ta viết cho bà bằng chữ. Bà không đọc được chữ.

Bà sẽ đọc được bằng cách khác.

Bà sẽ đọc được bằng chén trà nhài sáng mai.

Ngày thứ hai, giờ Ngọ.

Ta ra cửa nam Biện Kinh. Xuân Đào đi theo, cầm ô che nắng. Hai hộ vệ Thái hậu cử đi hộ tống bà ngoại đứng đợi ngoài cổng, mặt bụi trần, giáp còn dính bùn quãng đường qua trạm.

Xe ngựa vào cửa nam. Chậm. Rèm cửa vén lên một góc, ta thấy tay bà trước. Nhăn nheo, gân xanh nổi, ngón út còn một cái nhẫn bạc cũ mòn mẹ ta cho bà năm mẹ ta còn sống.

Xe dừng.

Hộ vệ đỡ bà xuống.

Bà đứng trên bậc thềm cổng, tay bấu vào ống tay áo, mắt kéo mây. Bà nhìn quanh, tìm. Bà không nhận ra ta.

Ta hiểu. Bốn năm ta rời quê ngoại thành đi cung tuyển, bà tiễn ta trước cổng tre nhà mình. Lần ấy ta mười ba tuổi, áo nâu thô, tóc tết đuôi sam. Bây giờ ta đứng đây, hai mươi hai tuổi, áo lụa tím than viền bạc, tóc búi cao cài trâm ngọc.

Bà không nhận ra.

Ta bước tới. Ba bước. Chậm.

Ta quỳ trước bà. Không phải quỳ cung nữ. Quỳ cháu chào bà.

“Bà. Cháu là Nhược Vi. Chu Nhược Vi. Con của mẹ Chu Ngọc.”

Bà cụ nhìn xuống ta. Ba nhịp thở.

Rồi bà quỳ xuống theo. Chân bà không đỡ được. Bà ngã xuống ngồi bệt trên bậc thềm cổng nam Biện Kinh, tay nắm tay ta, ngón bà run.

“Vi nhi…” Bà nói khẽ. “Vi nhi con còn sống. Con vẫn còn sống.”

Ta cắn môi. Không cắn được chặt.

Nước mắt ta rơi. Không nhiều. Chỉ hai giọt. Rơi xuống mu bàn tay nhăn nheo của bà, thấm vào da mỏng.

Năm năm ta không khóc.

Không khóc ngày mẹ ta chết đói. Không khóc đêm ta vào cung tuyển, ngủ chung sạp gỗ với mười hai đứa nha đầu khác. Không khóc buổi sáng canh mão đầu tiên bưng chén trà có Vạn Xuân Tán vào Khôn Nguyên cung. Không khóc bốn năm nếm thử độc mỗi ngày bằng trâm bạc trong ngực. Không khóc đêm mở tủ Lâm nhi lấy nhúm bột trắng gói vào giấy dâu.

Bây giờ ta khóc.

Chỉ hai giọt. Đủ.

Bên cạnh, hộ vệ Thái hậu quay đi, giả vờ nhìn cột cờ ngoài cổng. Xuân Đào cụp mắt, không nói. Có mấy người dân qua cổng nam thấy cảnh này, không hiểu, chỉ dừng lại nhìn thoáng, rồi đi tiếp. Trời trên đầu ta xám nhẹ, có gió cuối xuân mang mùi bùn sông Biện.

Ta đưa bà về nhà ba gian Thái hậu ban. Nhà ở gần cửa tây Thượng Trà cục, đi bộ chỉ một khắc. Ba gian đơn sơ. Một phòng chính. Một phòng ngủ. Một bếp. Giữa sân có cái giếng nhỏ, thành giếng đá xanh chưa mọc rêu, xây mới cho bà.

Bà ngồi trên giường bông ấm. Tay bà sờ chăn dày. Bà không quen. Ba mươi năm bà chỉ đắp chăn vải mỏng mùa đông. Với bà, chăn bông là thứ nghe nói chỉ nhà quan mới có.

“Vi nhi…” Bà ngước nhìn ta. “Nhà này là của ai?”

“Của bà.”

Bà không tin. Bà lắc đầu chậm.

“Bà. Thái hậu ban. Ta bây giờ làm nữ quan trong cung. Chức nhất phẩm. Thái hậu tin ta. Bà thấy giấy chưa?” Ta lấy trong tay áo ra một cuộn giấy vàng cột dây điều. “Sắc thư này viết rõ. Bà cứ ở đây. Không ai đuổi bà. Nhà này thuộc cháu, cháu thuộc bà.”

Bà cầm cuộn giấy. Bà không đọc được chữ. Bà chỉ sờ lụa vàng. Sờ dây điều. Sờ dấu son đỏ ở đầu cuộn.

“Vi nhi…” Bà nói, giọng thấp. “Mẹ con nếu biết…”

Bà không nói hết câu.

Ta cũng không nói hết câu.

Trong bếp, Xuân Đào đun nước gừng nóng. Mùi gừng bay ra, ấm, ngọt, không lẫn thứ gì khác.

Bà không hỏi ta chuyện trong cung. Không hỏi vì sao ta thăng nữ quan. Không hỏi vì sao Thái hậu ban nhà. Bà chỉ hỏi:

“Vi nhi. Con ăn có đủ không?”

Ta gật.

“Ba năm nay bà ở quê chỉ có một mình. Bà tưởng con trong cung khổ.” Bà nói. Chậm. “Bà không dám mơ có ngày gặp lại.”

Ta không đáp. Ta chỉ nắm tay bà thêm một khắc, rồi ra bếp bảo Xuân Đào bưng nước gừng lên.

Bà uống chén nước gừng. Nóng. Cay dịu. Ngọt hậu. Bà uống chậm, từng hớp nhỏ, như sợ hết. Xuống hết chén, bà đặt xuống án, mắt lim dim.

Ta đắp thêm cho bà một tấm chăn mỏng ngoài chăn bông. Bà ngủ. Nhanh. Bảy ngày đường ngựa, người bảy mươi tuổi không còn sức tỉnh lâu.

Chiều ấy ta không về Thượng Trà cục ngay.

Ta đứng bên giếng nhỏ trong sân nhà bà ngoại. Nhìn nước giếng. Chiều muộn, mặt nước phản một mảng trời tím ngả xám. Có một cánh hoa mai vàng cuối mùa rụng, xoay ba vòng, chạm nước, chìm.

Ta lấy trâm bạc hoa mai trong ngực áo ra. Kỷ vật của mẹ. Mẹ đã dùng chính cây trâm này thử nước giếng nhà bà ngoại năm ta bảy tuổi, mùa nước lũ đục, mẹ sợ có xác thối trôi vào. Trâm không đổi màu ngày ấy. Mẹ cười, múc gàu nước, đưa ta uống.

Kiếp trước năm ta hai mươi ba, trâm này bị lột khỏi ngực áo ta trong ngục, ném xuống một cái chậu đồng đầy máu. Ta không thấy trâm về đâu.

Kiếp này trâm còn trên da ta.

Ta cầm trâm. Ngâm đầu trâm vào giếng nước bà ngoại. Ba nhịp thở. Rút ra.

Đầu trâm bạc sáng nguyên.

Nước giếng sạch.

Ta gật.

Đêm ấy, sau giờ Tuất, ta bí mật vào Trường Xuân cung.

Không ai cản. Ta là nữ quan nhất phẩm, có ngọc bài đi lại tự do hậu cung sau giờ Tuất. Trường Xuân cung cửa đóng, chỉ có một nha đầu trực. Nha đầu thấy ngọc bài ta, cúi đầu, mở cổng nhỏ bên hông.

Ta bước vào.

Sân Trường Xuân cung không ai quét ba tháng. Lá mai vàng khô rụng thành từng đống nhỏ dưới hiên. Không có đèn lồng. Chỉ một cái đèn dầu leo lét trong gian chính.

Bà ngồi trên phản, quay lưng ra cửa.

Ba tháng trước, bà đứng giữa Khôn Nguyên cung mang khay trà “mừng” cho Hoàng hậu. Áo lụa hồng thêu phượng vàng. Trâm phượng ngọc trắng cắm tóc. Son đỏ đậm.

Bây giờ bà mặc áo phi tần cũ, không thêu, không viền. Không đeo trâm. Tóc buộc gọn không kiểu. Sau lưng bà, ta nhìn thấy vài sợi bạc mới mọc trong ba tháng.

Ta bước tới. Ba bước.

Bà quay đầu. Chậm.

Bà nhận ra ta ngay. Bà không cần nhìn lâu.

“Chu Nhược Vi.” Bà cười. Lạnh. “Ngươi đến gặp ta lần cuối?”

“Nô tì đến hỏi một câu.”

“Hỏi.”

Ta không quỳ. Không cúi. Ta đứng, ba bước cách bà.

“Vì sao năm năm trước Quý phi điện hạ chọn nô tì làm công cụ giết Hoàng hậu? Nô tì không có gia đình phe phái. Có nhiều cung nữ khác.”

Bà nhìn ta.

Ánh mắt bà không sắc như xưa. Ba tháng giam Trường Xuân cung, đèn dầu leo lét, cơm nguội mỗi ngày một chén, đã rút hết thứ ánh sáng đắc chí ra khỏi mắt bà.

Nhưng bà vẫn cười.

“Vì ngươi không có gia đình phe phái.” Bà nói. Giọng bà bình thản. “Không ai bảo vệ. Chết dễ. Kế của ta cần một cung nữ chết dễ. Ngươi vừa vào Khôn Nguyên cung tháng ấy, còn chưa quen ai. Nếu năm năm sau ngươi chết vì bị vu, không có ai đứng ra khai lời. Cả nhà ngươi cũng chết theo. Sạch.”

Ta gật.

Ta đã biết câu trả lời trước khi hỏi. Ta chỉ cần nghe bà tự nói.

Ta không nói gì thêm. Quay đi.

Sau lưng ta, bà gọi.

“Chu Nhược Vi.”

Ta dừng. Không quay lại.

“Ngươi biết không…” Bà nói. Giọng bà lần đầu run nhẹ. “Kiếp trước ta có thắng. Ngươi có nhớ không? Ngươi có nhớ ngươi bị tru di không?”

Ta đứng im.

Bà không thể biết. Bà chỉ đang thử ta. Đây là câu cuối của một kẻ đã thua, muốn moi đối thủ tự khai một câu trước khi tắt đèn.

Ta không quay lại. Ta chỉ nói, giọng ngang:

“Nô tì không nhớ. Nô tì chỉ nhớ chén trà đầu tiên nô tì bưng cho Hoàng hậu điện hạ, sáng canh mão bốn năm trước. Chén ấy có Vạn Xuân Tán.”

Ta bước ra khỏi Trường Xuân cung.

Sau lưng ta, không nghe tiếng bà gọi nữa.

Cửa cung đóng lại sau lưng ta. Nha đầu cài then. Then gỗ va vào chốt đồng, tiếng “cạch” khô.

Ta đi qua sân. Lá mai khô kêu dưới đế giày.

Ta không nhìn lại.

Về Thượng Trà cục. Đã canh Tí.

Xuân Đào đợi ta bên bếp. Con bé đun sẵn một ấm nước sôi. Trên án đã bày một khay nhỏ. Bên trong khay: một chén sứ trắng, thành mỏng, viền vàng nhạt. Một hũ nhỏ đựng lá trà nhài khô, mua từ tiệm trà phố đông Biện Kinh, không phải trà cung đình.

Xuân Đào không hỏi ta pha trà cho ai. Nàng biết.

Ta ngồi xuống chiếu bên án.

Mở hũ trà nhài. Múc một thìa nhỏ. Lá trà xanh nhạt, cánh hoa nhài khô còn giữ được màu trắng ngà, mùi thơm dịu, không nồng.

Ta thả vào chén.

Rót nước sôi. Chậm. Chờ ba nhịp thở cho lá trà mở.

Chén sứ trắng trong lòng bàn tay ta. Trong veo. Không có Vạn Xuân Tán. Không có trâm bạc thử. Không có quạt lụa che biểu cảm. Không có Hoàng hậu ngồi bên án đọc sách. Không có Quý phi mang khay trà mừng. Không có Lâm nhi ngồi cân lá bên bàn pha Thượng Trà cục.

Chỉ có nước sôi và lá trà.

Bảy chén.

Chén thứ nhất, sáng canh mão bốn năm trước, ta bưng vào Khôn Nguyên cung. Có Vạn Xuân Tán. Ta nếm trước.

Chén thứ hai, một sáng đầu xuân năm hai, ta bí mật đổi bằng trà thường. Hoàng hậu tỉnh táo bất thường suốt canh giờ.

Chén thứ ba, năm thứ ba, Hoàng hậu ban khăn thêu Vệ gia có chữ “Chân” cực nhỏ trong lai.

Chén thứ tư, năm thứ tư, nhẫn ngọc bích Hoàng hậu đổi màu khi chạm mép chén canh yến Quý phi mang. Cùng đêm bà ban quạt lụa gấm đỏ thẫm.

Chén thứ năm, năm thứ năm, Hoàng hậu tự tay pha trà tinh Vệ gia, gọi ta đến bên án nhận.

Chén thứ sáu, ba tháng trước, ta đổi chén sạch bằng ba nhịp thở sau quạt lụa. Chén độc thật ở trên khay Quý phi làm bằng chứng trước mặt Hoàng thượng.

Chén thứ bảy.

Chén này ta không cần đổi.

Ta đậy nắp. Đặt chén trên khay. Khay ta cầm bằng hai tay, đi ra khỏi Thượng Trà cục, qua hành lang mai vàng, ra cửa tây, đi bộ một khắc, đến nhà ba gian Thái hậu ban.

Bà ngoại ngủ rồi. Ta đặt khay trên án bên đầu giường bà. Không đánh thức. Không nói.

Sáng mai bà uống.

Ta ngồi xuống ghế nhỏ cạnh giường bà. Đèn dầu trong nhà cháy đều.

Ngoài cửa, trăng cuối tháng mờ. Có tiếng dế kêu trong cỏ dưới thềm. Có tiếng gió qua tán mai vàng cuối mùa.

Ta ngồi im. Nhìn bà thở đều dưới chăn bông dày.

Bảy phong thư ta viết ba tháng qua, ta đã đặt trong hộp gỗ nhỏ, cất dưới đáy tủ áo. Ta không đưa. Ta không cần đưa. Bà không đọc được chữ.

Chỉ cần bà uống chén trà nhài sáng mai.

Chỉ cần thế.

Ta cầm tay bà. Ngón bà nhăn nheo, gân xanh, có một cái nhẫn bạc cũ mòn mẹ ta cho bà. Ta đưa tay bà lên má ta. Ba nhịp thở.

Rồi ta đặt tay bà xuống lại chăn. Nhẹ.

Đứng dậy. Ra cửa. Đóng cửa.

Sân nhà ba gian có một cây mai vàng nhỏ Thái hậu cho trồng. Cây mai này còn non, chưa nở nhiều, chỉ vài nụ trắng ngà trên cành thấp.

Ta đứng dưới cây mai.

Bảy chén trà. Năm năm.

Năm năm ta chờ pha một chén không có gì trong đó.

Sáng mai bà ngoại uống. Ta ngồi bên xem.

Ngoài sân, dế kêu.

Trong ngực áo ta, trâm bạc hoa mai vẫn treo bằng sợi dây tơ đen cũ. Đầu trâm chạm da nhẹ.

Ta đã đổi được cả bảy chén.

Chén cuối cùng, ta không cần đổi.