Xuyên Thành Thứ Nữ Đêm Bị Ném Xuống Giếng

Chương 7: Ba Tháng Sau

Ba tháng.

Bình Nam bá phủ khu Đông sảnh. Trời sang thu. Lá bàng vàng rụng trên sân.

Ta ngồi bên án đá xanh, tay cầm một tờ giấy dâu. Trên giấy là chương sáu mươi mốt của cuốn tiểu thuyết “Hoàng Hậu Cửu Ngũ”, cuốn ta đọc mất ngủ ba năm trước kiếp trước, ba tháng nay ngồi chép lại từ đầu. Ba trăm chương. Ta chép được đến chương sáu mươi mốt. Còn hai trăm ba mươi chín chương nữa. Không vội.

Chép lại không phải để ai đọc. Chép lại để ta không quên. Có những chuyện chỉ ta biết, và những chuyện ấy nếu để trong óc lâu sẽ tan. Ta là luật sư mười lăm năm, ta biết trí nhớ con người không phải kho lưu bất động, mà là dòng nước chảy. Không giữ, sẽ trôi. Kim tiêm gãy có thể chôn lại đất, di thư máu có thể mờ chữ, nhưng ván bài hai mươi năm ván nào ai đặt ván nào ai giơ, chỉ ta biết. Ta không cho phép ta quên.

Ba tháng.

Ba tháng trước, buổi sáng đại điện, phụ hoàng Đại Vũ ngồi trên ngai phán xử Ngu Uyển và Hoàng hậu Điền. Ngu Uyển ba ngày sau bị chém đầu ở Ngọ môn cổng bắc. Ta không đi xem. Hoài Ngôn tỷ ta không đi xem. Cửu Nương đi. Bà bảy mươi lăm tuổi, chống gậy trúc, đứng ở cổng bắc canh giờ mão nhìn đầu Ngu Uyển rơi. Về, bà không nói một câu, chỉ ngồi cả buổi trưa dưới gốc bàng sân trước Đông sảnh. Sau chiều, bà đứng dậy nấu cháo cho tỷ ta. Vụ hai mươi năm của bà đến đó là hết.

Hoàng hậu Điền phế xuống Tần phi, giam Trường Xuân cung không được ra. Cung Vọng Sơn phế Thái tử, giáng xuống Ngũ hoàng tử, dưới cả Nhị hoàng tử tài kém, dưới cả một hoàng tử sáu tuổi con Lệ phi mới sinh. Chỉ giữ mạng vì con ruột phụ hoàng.

Chu Diễn Chi được phong Trấn An vương, phụ chính triều đình thay chỗ Thái tử phế.

Đích tỷ ta, Lâm Hoài Ngôn, được công nhận danh phận công chúa Cung Ngôn Nhi, cựu công chúa. Phụ hoàng cho tỷ chọn: về hoàng cung ở Đông Ninh cung, hay giữ danh Lâm Hoài Ngôn ở Bình Nam bá phủ. Tỷ chọn phủ.

Ta hiểu tại sao. Hai mươi năm sống trong Bình Nam bá phủ, tỷ không quen cung đình. Không quen quỳ, không quen nghi lễ ngày ba lần, không quen ngồi trên cao nhìn xuống nha đầu. Tỷ chỉ quen ngồi bên án hoa viên, thêu áo, uống trà mẹ nuôi pha (mẹ nuôi mà bây giờ tỷ biết chính là kẻ giết mẹ ruột tỷ). Danh phận công chúa trên giấy tờ đủ. Sống thực, tỷ chọn phủ.

Ta cũng hiểu vì một lẽ khác. Nếu tỷ về cung, tỷ sẽ đối mặt hàng ngày với Điền phi cũ giam ở Trường Xuân cung, với Vọng Sơn phế xuống Ngũ hoàng tử. Những người tỷ mười lăm ngày trước còn gọi “mẫu hậu tương lai” và “phu quân tương lai”. Mối tình bảy ngày trước ngày ban chỉ dụ đã tan tro cùng đêm đại điện. Nhưng tro vẫn ấm. Về cung nhìn tro mỗi ngày, tỷ không chịu nổi.

Ở phủ có ta. Có Bình Nam bá phụ thân (ba tháng qua ông ngồi lặng trong thư phòng như một cây gỗ già). Có Cửu Nương, bây giờ chuyển vào phủ ở với tỷ. Có Đài Nhã nha đầu ta, giờ đã phong Bát phẩm quản sự nữ phủ. Có Đông sảnh cũ nơi Vệ thị mẹ ta ở mười hai năm trước.

Ta và tỷ dọn về Đông sảnh. Ba tháng cùng ăn cùng ngủ. Cùng học lại cách gọi tên nhau.

Ban đầu tỷ gọi ta “muội muội” với một giọng cong khó nghe, thói quen mười bảy năm không dễ đổi. Sau nửa tháng thành “Hoài Ngọc muội”. Sau một tháng thành “muội” ngắn gọn không thêm ẩn ý. Bây giờ tỷ gọi ta “muội” như bất kỳ đích tỷ nào gọi thân muội đích thực. Có đêm tỷ khóc, ta không dỗ. Có đêm ta ngồi bên án chép giấy, tỷ ngồi bên án thêu áo, hai chị em không nói câu nào suốt canh giờ, chỉ nghe tiếng bút trên giấy dâu và tiếng kim xuyên lụa. Đủ. Có những vết thương chỉ ngồi bên nhau mới chữa lành, không cần nói.

Bình Nam bá phụ thân ba tháng không thượng triều. Sốc quá lâu. Ông tin Ngu Uyển hai mươi năm. Cưới bà năm ba mươi tuổi khi phụ hoàng ban thưởng vợ. Sinh đích tỷ (mà bây giờ ông biết không phải con ruột ông). Chôn Vệ thị mẹ ta trong hầm mồ (mà bây giờ ông biết là bị vợ mình giết oan). Cả hai mươi năm ông sống bên một người đàn bà không phải người ông tưởng. Ván bài của Ngu Uyển gạt cả một vị bá tước trung thần vô mưu, không phải chuyện thường.

Đến ngày rằm tháng chín, giỗ Vệ thị mười hai năm, ông mới ra khỏi thư phòng lần đầu. Ông tự đến mộ Vệ thị ngoại thành, dẫn ta theo. Không dẫn tỷ (tỷ không phải con Vệ thị, đến sẽ khó xử).

Trước mộ, ông quỳ. Ta không thấy ông quỳ bao giờ trong mười một năm ta sống trong phủ. Ông quỳ dưới cỏ vàng, tay đặt lên bia đá, đầu cúi thấp.

“Vệ thị. Ta có lỗi mười một năm không biết. Từ nay ta để Hoài Ngọc và Hoài Ngôn hai đứa được yên. Nàng nghỉ ngơi. Ta không dám xin nàng tha, chỉ xin nàng biết ta có lỗi.”

Ta đứng bên ông, nước mắt không rơi. Kiếp trước ta chôn cha mẹ hiện đại năm mười hai tuổi, ta khóc cạn ngày ấy. Kiếp này ta đã hai lần chết. Nước mắt ta hiếm. Nhưng trong lòng ta có một chỗ ấm lên. Ông cuối cùng cũng đứng về phía Vệ thị. Muộn mười một năm. Nhưng dù sao vẫn đến. Ngày trời có mắt.

Về phủ, ông không nói gì với tỷ. Chỉ đứng ở cửa Đông sảnh nhìn một lúc, nhìn tỷ ngồi thêu áo cho Cửu Nương, ngồi bên ta chép giấy, rồi quay đi. Cách của ông. Ta hiểu. Ba tháng ông ngồi trong thư phòng đã đủ để hiểu: ông không dám nhận tỷ làm con nữa (tỷ không phải máu ông), cũng không dám không nhận (tỷ hai mươi năm gọi ông “phụ thân”). Ông chọn im lặng. Cứ để tỷ ở đó, cứ để ta ở đó, cứ để Đông sảnh sáng đèn mỗi tối. Đó là cách một người đàn ông sáu mươi tuổi bị vợ lừa hai mươi năm chuộc lỗi với hai đứa con gái không cùng máu mủ.

Ta chấp nhận. Đủ.

Diễn Chi bận. Ba tháng chàng không đến Bình Nam bá phủ lần nào. Chỉ gửi tin hai lần qua ám vệ.

Tin đầu, giữa tháng bảy: “Đang xử lại toàn bộ hồ sơ hai mươi năm. Cải táng dì ruột theo nghi lễ hoàng hậu. Nàng khỏe không?”

Ta đáp một dòng: “Khỏe. Điện hạ đừng thức khuya quá.”

Tin thứ hai, đầu tháng chín: “Đại lễ tang xong. Bây giờ xử phế phi. Còn nửa tháng nữa xong. Nàng khỏe không?”

Ta đáp một dòng: “Khỏe. Điện hạ ăn cơm đủ ba bữa.”

Ta không hỏi khi nào chàng đến. Chàng không nói khi nào chàng đến. Ba tháng cứ như thế. Chàng phong Trấn An vương phụ chính triều đình, bận là chuyện dĩ nhiên. Ta phong Tấn An quận chúa, được ra vào cung không cần chiếu chỉ, nhưng ta không vào cung lần nào. Ta chỉ ngồi ở Đông sảnh. Chép tiểu thuyết. Uống trà. Nghe tỷ hát nhỏ khi thêu áo (tỷ hát khẽ, không hay lắm, nhưng tỷ hát, điều Ngu Uyển hai mươi năm không cho tỷ làm vì “công chúa gia không hát dân ca”).

Có những đêm ta ngồi bên án, đèn dầu cháy hết nửa canh. Ta nghĩ đến biển số ba mươi E bốn năm bảy sáu năm. Nghĩ đến phòng luật sư kiếp trước ta ngồi mười lăm năm. Nghĩ đến cha mẹ hiện đại chôn ở nghĩa trang phía Bắc Hà Nội. Nghĩ đến hồ sơ vụ án cuối cùng ta cầm trong tay trước khi bước ra khỏi toà đêm ấy, vụ một cô gái mười tám tuổi bị bố dượng đánh chết, ta cãi ba năm, cuối cùng án tù chung thân cho hắn. Ta nhớ tên cô gái. Ta nhớ khuôn mặt mẹ cô gái trong phòng chờ. Ta không muốn quên.

Có những đêm ta nghĩ đến Diễn Chi. Nghĩ đến sợi dây thừng đêm giếng cạn. Nghĩ đến ánh mắt chàng ba tháng trước ở Ngọ môn: “Nàng vừa cứu ta khỏi tám năm nữa. Ta nợ nàng cả kiếp.”

Ta chưa biết ta nghĩ gì về chàng. Ta chỉ biết ba tháng qua khi Đài Nhã báo “Có tin Trấn An vương gửi tới”, tay ta khựng nửa giây trước khi mở. Chỉ nửa giây. Nhưng nửa giây ấy trước đây ta không có.

Luật sư mười lăm năm dạy ta một điều: những phản ứng vô thức trước khi mở phong bì là chỉ dấu quan trọng nhất về tình cảm mình dành cho người viết. Ta không lừa được ta.

Nhưng ta chưa vội. Sáu ngày đầu tháng bảy đã đủ vội cho một kiếp. Bây giờ ba tháng thu, ta muốn ngồi. Muốn chép giấy. Muốn nghe tỷ hát. Muốn để lá bàng rụng đủ một mùa trước khi ta trả lời chàng.

Chiều tháng mười. Nắng thu vàng như đường phèn Đông sảnh.

Ta ngồi bên án đá xanh, tay chép chương sáu mươi mốt. Tỷ ngồi đối diện, thêu áo cho Cửu Nương, áo trong xám nhạt, cổ áo có ba đường viền lam nhạt tỷ khéo tay. Cửu Nương ngủ trưa ở phòng bên cạnh, tiếng ngáy nhẹ vọng qua vách trúc.

Có tiếng cửa sảnh mở. Đài Nhã bước vào, cúi đầu:

“Tấn An quận chúa. Trấn An vương đến.”

Ta đặt bút xuống. Không khựng nửa giây. Không cần khựng, ba tháng ta đã tính đến ngày này.

Tỷ ngước lên, cười nhẹ: “Biểu ca đến. Muội có việc trong bếp. Muội đi trước.”

Tỷ đặt áo thêu xuống, đứng dậy. Trước khi ra, tỷ liếc ta một cái. Cái liếc ấy có ý, ta biết tỷ ba tháng đã đoán. Ta không đáp, chỉ gật.

Tỷ ra. Đài Nhã bước lại, hỏi khẽ: “Có cần con pha trà không?”

“Không cần. Ta pha.”

Đài Nhã cười, cúi ra.

Diễn Chi bước vào.

Áo bào tím thẫm quan phục. Không còn khăn đỏ họa nhi. Không còn mùi rượu. Mặt chàng sạm ba tháng làm việc triều, hai bên má hõm sâu hơn ta nhớ. Nhưng mắt vẫn là mắt đêm giếng cạn, sắc như đao trong đêm khuya.

Chàng cúi chào ta trước. Cúi thấp. Ta đứng dậy tránh, không nhận lễ chàng.

“Điện hạ. Ngồi đi.”

Chàng ngồi đối diện ta bên án. Nhìn tờ giấy ta vừa đặt bút xuống.

“Nàng viết gì?”

“Cuốn tiểu thuyết ba năm trước ta đọc mất ngủ. Ta chép lại tay để không quên. Ba trăm chương. Ba tháng ta chép được đến chương sáu mươi mốt.”

“Tiểu thuyết ấy… kể gì?”

Ta ngừng bút. Nhìn chàng.

Ba tháng qua ta chưa dám kể chi tiết chàng chết chương một trăm năm mươi sáu. Bây giờ chàng an toàn, Vọng Sơn phế xuống Ngũ hoàng tử, không còn khả năng ám hại chàng. Nhưng ta vẫn không muốn cho chàng đọc chương ấy.

Có những chuyện tránh nghe thì tốt hơn nghe. Kiếp trước ta điều tra vụ án nạn nhân đã chết, luôn khuyên gia đình không đọc hồ sơ pháp y. Chi tiết chỉ làm đau.

“Điện hạ. Có những chuyện ta biết trước khi xảy ra. Đó là bí mật ta. Ngày kia điện hạ đủ tin ta, ta kể. Bây giờ chưa.”

“Ta đủ tin nàng.”

Chàng nói câu ấy nhẹ, như một sự thật hiển nhiên. Không phải xin. Không phải hỏi. Là báo cáo.

Ta nhìn chàng lâu. Ba tháng chàng làm việc triều với niềm tin ấy. Ta trong đại điện đã kể ba câu trùng khớp về Cửu Nương chỉ hai người biết. Chàng chấp nhận ta có “kỳ ngộ”, không tra sâu. Ba tháng chàng phong Trấn An vương phụ chính, ta phong Tấn An quận chúa được ra vào cung, chàng có thể tra sâu bất kỳ lúc nào. Không tra.

Đủ tin. Hai chữ ngắn. Nhưng trọng.

“Vậy điện hạ hỏi câu khác đi. Câu này ta chưa muốn trả lời.”

Chàng cười. Lần đầu ba tháng ta thấy chàng cười thật, không phải cười lạnh khách sảnh Chu vương phủ tháng trước. Nụ cười của một người đàn ông hai mươi bốn tuổi cuối cùng đã có thể cởi khăn đỏ họa nhi khỏi cổ, cởi bốn năm giả trác táng, cởi hai mươi năm biết mẹ chết uất mà không nói ra được với ai.

Chàng cầm ấm trà tỷ ta để lại, trà bạch hoa mộc mà tỷ ướp trong ba ngày (thói quen mới tỷ học từ Cửu Nương). Rót một chén. Đẩy về phía ta.

“Ta hỏi câu khác. Nàng ba tháng qua có nghĩ đến ta không?”

Ta cầm chén trà. Nước xanh nhạt trong veo, có mùi hoa mộc bay lên. Không đáp ngay.

Trong óc ta trồi lên: nửa giây tay khựng khi Đài Nhã báo “Có tin Trấn An vương gửi tới”. Đèn dầu cháy hết nửa canh trong những đêm nghĩ đến chàng. Sợi dây thừng chàng thả xuống giếng cạn đêm canh tí ba tháng trước.

Ta không lừa được ta.

“Có.”

“Nghĩ chuyện gì?”

Câu này ta nghĩ lâu hơn. Cuối cùng ta nói thật, không văn hoa:

“Nghĩ chàng có ăn no không. Có ngủ đủ không. Ba tháng bận triều mặt chàng gầy hai phần.”

Chàng lặng lâu. Rất lâu. Bên ngoài nắng thu vàng như đường phèn chiếu qua khe rèm trúc, rơi trên án đá xanh thành một vệt sáng dài. Trong vệt sáng ấy có bụi bay chậm.

Cuối cùng chàng nói:

“Hoài Ngọc.”

Đây là lần đầu chàng gọi thẳng tên ta. Không “nàng”, không “quận chúa”, không “Lâm cô nương”. Chỉ “Hoài Ngọc”, hai chữ.

Ta ngước lên.

“Ta không xin cưới nàng bây giờ. Nàng còn trẻ. Ba tháng nữa hoặc ba năm nữa, khi nàng sẵn sàng, ta xin. Bây giờ ta chỉ xin nàng cho ta đến đây mỗi tháng một lần. Ngồi bên án uống trà nàng pha. Được không?”

Ta cầm chén trà tay không run. Không phải vì lạnh. Vì tay ta ba tháng qua đã tập chép ba trăm chương tiểu thuyết dày, cầm chén trà chắc. Vì trong óc ta biển số ba mươi E bốn năm bảy sáu năm đã mờ hoàn toàn. Vì chương một trăm năm mươi sáu đã tan. Vì chương một tiểu thuyết cũ “đích tỷ tài mạo song toàn cưới Thái tử lên hoàng hậu” đã bị ta xé.

Kiếp trước ta có cha mẹ hiện đại chôn ở nghĩa trang phía Bắc Hà Nội. Kiếp trước ta có mười lăm năm làm luật sư một mình trong căn hộ hai mươi mét vuông ngoại thành, ăn cơm hộp mỗi tối sau phiên toà. Kiếp trước ta có một biển số xe khắc trong óc ba năm cho đến giây cuối. Kiếp trước ta không có ai đến hỏi ta “Nàng có nghĩ đến ta không?” mỗi tháng một lần.

Kiếp này có.

Ta không đáp trực tiếp. Chỉ rót thêm một chén trà nữa, đẩy về phía chàng, chén thứ hai bên án Diễn Chi. Không nói.

Chàng hiểu. Cầm chén. Uống một ngụm.

Bên ngoài Đông sảnh, tỷ ta không quay lại. Đài Nhã đứng ngoài cửa, cười nhẹ, đóng cửa lại nhẹ tay. Trong sân, một cánh lá bàng vàng cuối cùng rơi xuống nền gạch, không tiếng động.

Ta ngồi bên án nhìn chàng uống trà. Áo bào tím thẫm chàng khác hoàn toàn khăn đỏ họa nhi ba tháng trước. Nhưng mắt chàng vẫn là mắt đêm giếng cạn, sắc như đao trong đêm khuya.

Ta nhớ đêm ấy. Nước lạnh ngập ngực. Tường đá xanh rêu dựng ngược bốn phía. Ta ngước lên miệng giếng thấy bóng chàng cao dài, khăn đỏ quấn cổ. Ta gọi vọng lên một tiếng khàn: “Cứu.” Chàng thả sợi dây thừng xuống. Ta cột vào eo. Chàng kéo lên. Nước theo áo ta chảy tràn đá giếng.

Ba tháng nay ta cứ nghĩ, ta đã leo khỏi giếng bằng sợi dây chàng thả.

Bây giờ ta hiểu.

Sợi dây ấy chàng vẫn còn giữ một đầu. Ba tháng, ba năm, cả đời, chàng không thả.

Ta uống một ngụm trà nhạt. Nước ấm. Hoa mộc bay lên thoang thoảng.

Kiếp trước ta chết dưới bánh xe biển số ba mươi E bốn năm bảy sáu năm.

Kiếp này ta không chết dưới đáy giếng.

Kiếp này ta pha trà.

HẾT.