Ba Năm Hầu Bệnh, Chồng Vừa Khỏi Đã Cưới Biểu Muội

Chương 7: Hoài Nhàn Đường

Ba tháng sau, Kính Chi mất.

Tin báo về khi ta đang ngồi phân loại một mớ hoàng kỳ mới hái, tay còn dính đất ẩm ngoài vườn. Người đưa tin là một bà vú già của Vương phủ, đứng ngoài cửa tiệm nhỏ, không dám bước hẳn vào, chỉ nói vội mấy câu rồi cáo lui, như sợ nán lại lâu sẽ dính vào chuyện thị phi.

Ta nghe xong, gật đầu một cái, tiếp tục phân loại chỗ hoàng kỳ trong tay.

Không phải ta lạnh lùng đến mức không còn chút xúc động nào. Chỉ là tin ấy, ta đã biết trước từ ngày quyết định rời khỏi Đông viện, mang theo hộp gỗ đàn và cuốn sổ hồi môn, bước qua cánh cổng phủ Trấn Bắc Vương lần cuối cùng. Người mang trong mình cả độc tính tồn đọng nhiều năm của hồi độc thảo lẫn Tây Tây Thảo mới thêm vào, dù có ngừng cả hai thứ ngay hôm sau, cũng khó lòng cầm cự quá vài tháng.

Hắn được chôn trong mộ tổ Vương phủ, bên cạnh phần mộ cha mình, người trước kia cũng chết vì cùng một thang thuốc gia truyền.

Yên Nhi bị Lão thái phu nhân đuổi thẳng về nhà cậu ngay tuần lễ tang xong, không cho mang theo bất cứ món trang sức nào ngoài hai rương gấm cũ đã sờn. Tin đồn lan khắp mấy phố quanh Vương phủ, người ta bảo nàng ta ra đi tay trắng, khóc suốt dọc đường, không một nha đầu nào theo hầu.

Riêng phần ta, Lão thái phu nhân không giữ lại, cũng không đuổi đi. Bà đích thân sai người mang đến Đông viện toàn bộ hồi môn cũ, kèm thêm năm trăm lượng bạc gọi là lộ phí. Không phải vì thương xót gì nhiều, ta hiểu rõ. Chỉ vì bà đã từng bao che con trai một kiếp trước, để chính thất treo cổ trong hậu viện lạnh lẽo, kiếp này bà không muốn lặp lại sai lầm ấy thêm một lần nữa.

Ta nhận, không từ chối, cũng không cảm ơn nhiều lời. Nhược Vân thu dọn hành lý trong một buổi sáng, hai người rời phủ vào giữa trưa, không kèn không trống, không ai ra tiễn ngoài một bà vú già đứng khóc thầm sau cánh cổng.

Hai người thuê một căn nhà nhỏ ba gian ở phố Nam Yên Kinh, sát cạnh khu chợ rau mỗi sáng đông người qua lại. Trước cửa, Nhược Vân treo lên một tấm biển gỗ mộc, chữ khắc không hoa mỹ, chỉ ngay ngắn bốn chữ.

HOÀI NHÀN ĐƯỜNG.

Ta dùng phần lớn ba nghìn lượng bạc từ tiệm lụa mẹ để lại làm vốn khai trương, mua lại một góc kệ gỗ cũ, vài chum sành đựng dược liệu, một bộ cân tiểu ly còn mới. Sáng sớm, ta cùng Nhược Vân ra ngoại ô hái thảo dược, những loại mọc hoang ven suối không cần mua, chỉ cần biết nhận đúng loại, đúng mùa. Trưa về, ta ngồi bên án phân loại, phơi khô, đôi khi tự tay sắc thử một thang nhỏ để kiểm dược tính trước khi bán ra.

Chiều, ta dạy Nhược Vân xem mạch cơ bản, cách nhận biết vài chứng bệnh thường gặp ở dân nghèo quanh phố, ho gió, cảm hàn, đau bụng do ăn uống thất thường. Con bé học chậm nhưng chăm, tay cầm bút ghi chép còn vụng về, chữ nghiêng ngả, nhưng ánh mắt mỗi lần nhìn ta giảng giải đều sáng lên một thứ gì đó gần giống như tin tưởng.

Ngày khai trương, trời còn chưa sáng hẳn, sương mỏng còn vương trên mái ngói.

Ta mở cửa tiệm từ sớm, xếp lại mấy gói dược liệu đã chuẩn bị sẵn từ đêm qua, chưa kịp treo biển đón khách thì đã nghe tiếng bước chân nhỏ rụt rè ngoài thềm.

Một tiểu nha đầu chừng bảy tuổi, áo vá hai ba chỗ, tóc buộc túm sơ sài bằng một sợi dây gai, đứng ngoài cửa không dám bước vào hẳn, chỉ ló nửa người, hai tay nắm chặt ba đồng tiền đồng cũ, mặt mũi lấm lem bụi đường.

“Cô ơi.” Giọng bé run run, mắt cứ liếc vào trong rồi lại cúi xuống. “Mẹ con ho ba ngày rồi, đêm nào cũng không ngủ được. Nhà con không có tiền mời đại phu. Ba đồng này… đủ mua một thang trị ho không ạ?”

Ta đặt gói dược liệu trong tay xuống án, bước ra gần cửa, cúi người nhìn bé cho ngang tầm mắt.

Có một khoảnh khắc, ta như thấy lại chính mình năm mười lăm tuổi, đứng trước một tiệm thuốc lớn trên phố Giang Nam, tay cũng nắm chặt vài đồng bạc lẻ, không dám bước vào vì sợ bị đại phu trong tiệm nhìn với ánh mắt khinh khi, đuổi ra ngoài không nói một lời.

“Ba đồng đủ.” Ta nói, giọng nhẹ, không vội vàng. “Con đứng đợi một lát.”

Ta quay vào trong, mở ngăn kéo gỗ, lấy hai gói thảo dược đã phơi khô từ hôm trước, gói lại cẩn thận bằng một lớp lá sen còn tươi. Nghĩ thêm một chút, ta lấy thêm một nhúm kim ngân khô, gói riêng vào một mảnh giấy nhỏ, đặt chung vào tay bé.

“Thang này sắc uống ngày hai lần, sáng và tối, uống liền ba ngày sẽ đỡ. Gói kim ngân này cô cho thêm, nấu chung cũng được, trị ho khan rất tốt.”

Tiểu nha đầu ôm hai gói thuốc vào ngực như ôm báu vật, mắt mở to, cúi đầu liên tiếp ba lần, miệng lí nhí cảm ơn rồi quay người chạy biến đi, dáng nhỏ khuất dần sau góc chợ rau còn thưa người.

Ba đồng tiền vẫn nằm nguyên trên mặt án, bé đã quên mất, chạy đi trong lúc vội vã và mừng rỡ.

Ta không gọi lại. Cầm ba đồng lên, thả nhẹ vào một chiếc hộp gỗ nhỏ đặt cạnh cân tiểu ly, tiếng đồng chạm đáy hộp vang lên khô khốc, giòn tan trong buổi sáng còn tĩnh lặng của phố Nam.

Nhược Vân đứng bên, nhìn theo bóng tiểu nha đầu đã khuất hẳn, khẽ mỉm cười, giọng có chút tiếc rẻ.

“Tiểu thư, đơn hàng đầu tiên coi như lãi bằng không. Hai gói thuốc đó, tính công hái với công phơi, đáng giá hơn ba đồng nhiều.”

“Bằng không cũng được.” Ta đáp, mắt vẫn nhìn về phía góc chợ. “Mẹ con bé ấy khỏi bệnh, sẽ kể cho hàng xóm nghe có một tiệm thuốc nhỏ ở đầu phố, giá rẻ, không chê người nghèo. Người này truyền tai người kia, tiệm mới sống được lâu dài. Đó là cách một tiệm thuốc gây dựng tên tuổi, không phải bằng biển hiệu lớn hay giá cao.”

Nhược Vân gật gù, không nói thêm, quay vào trong sắp xếp lại mấy chum dược liệu cho ngay ngắn.

Buổi sáng hôm ấy, tiệm đón thêm vài khách lẻ tẻ, phần lớn là dân quanh phố Nam, người mua thang cảm, người hỏi mua vài lạng đương quy bồi bổ cho người nhà mới sinh. Không tấp nập, cũng chẳng vắng vẻ, đúng như một tiệm thuốc nhỏ mới mở giữa một con phố đông người qua lại nhưng chưa ai biết tên.

Trưa, có một bà lão hàng xóm ghé sang, vừa mua một gói trần bì vừa tò mò hỏi chuyện, ánh mắt dò xét nhìn ta từ đầu đến chân, giọng thân thiện nhưng không giấu được sự soi mói vốn có của người sống lâu năm nơi phố chợ.

“Cô chủ tiệm còn trẻ vậy, học nghề thuốc từ đâu ra? Nghe giọng nói không phải người phố này.”

“Từ ngoại tổ phụ.” Ta đáp gọn, tay vẫn cân đo phần dược liệu bà lão vừa chọn. “Ông ngoại con trước là y sư ở Giang Nam, dạy con nhận dược tính từ nhỏ.”

Bà lão gật gù, không hỏi thêm, trả tiền rồi rời đi, để lại một câu buông nhỏ trước khi bước ra khỏi cửa.

“Trông cô không giống người từng khổ qua đâu, dáng vẻ thong dong lắm.”

Ta không đáp, chỉ khẽ cúi đầu tiễn khách, trong lòng không dâng lên cảm giác gì đặc biệt trước câu nói ấy. Người ngoài nhìn vào, đương nhiên không thể thấy ba năm đêm nào cũng thức trắng bên bát thuốc, cũng không thể thấy một kiếp trước từng treo cổ trong hậu viện lạnh lẽo, chết đi mà không một ai đứng ra minh oan.

Chiều muộn, ánh nắng dần nhạt trên mái ngói phố Nam, Nhược Vân ra đóng cửa tiệm, cài then gỗ cẩn thận rồi quay vào thắp ngọn đèn dầu đặt giữa án thư.

Ngọn đèn ấy bật lên, ánh sáng vàng ấm lan ra khắp gian phòng nhỏ, khác hẳn thứ ánh vàng lạnh lẽo từng hắt lên tường Đông viện Vương phủ những đêm ba năm trước, khi ta ngồi một mình canh chừng thang thuốc sôi, tay run vì thiếu ngủ, lòng lo sợ chỉ cần lơ là một khắc, bệnh tình hắn sẽ trở nặng thêm.

Ta ngồi xuống bên án, tay bắt đầu cân đo một mẻ dược liệu mới, chuẩn bị sẵn cho khách sáng mai. Từng vị thuốc xếp gọn trong lòng bàn tay, mùi hương the mát của bạc hà lẫn vào mùi ngai ngái của hoàng kỳ, thứ mùi đã quen thuộc với ta còn hơn cả mùi trầm hương từng đốt trong phòng Kính Chi mỗi đêm đông.

Đêm nay, ta không phải đợi thang thuốc nào sôi cho một người khác. Không phải căng tai nghe từng tiếng ho ngoài phòng bên, không phải thức đến canh ba canh tư chỉ để kịp bưng bát thuốc còn ấm vào đúng giờ hắn cần.

Kính Chi đã mất. Yên Nhi tay trắng trở về nhà cậu, sống những ngày còn lại trong tiếng đàm tiếu của cả một vùng. Vương phủ, kể từ ngày ta bước qua cánh cổng lớn lần cuối, không còn dính dáng gì đến ta nữa, dù chỉ một sợi tơ.

Có một lần, một vị khách quen ghé mua thuốc, nghe loáng thoáng chuyện cũ từ đâu đó, tò mò hỏi thẳng, giọng nửa đùa nửa thật.

“Cô chủ tiệm từng là chính thất Vương phủ, giờ ra đây mở tiệm nhỏ, không hận sao? Không nghĩ đến chuyện báo thù người ta sao?”

Ta khựng tay một chút, rồi tiếp tục gói nốt phần thuốc còn dở, không ngẩng lên ngay.

Hận thì có. Những đêm đầu rời phủ, đôi lúc nằm một mình trong căn nhà nhỏ còn lạ lẫm, ta vẫn nhớ đến ánh mắt dịu dàng hắn từng dành cho Yên Nhi ngoài hiên Tây viện, nhớ đến ba năm không một lời cảm ơn, nhớ đến kiếp trước treo cổ trong hậu viện, không một ai đứng ra nói giúp một câu.

Nhưng hận không phải là thứ ta muốn giữ lại cả đời, càng không phải thứ ta muốn dùng để đổi lấy phần đời còn lại của chính mình.

Ta cười nhẹ, đưa gói thuốc cho vị khách, giọng bình thản như đang nói về một chuyện đã cũ lắm rồi, chẳng còn liên quan gì đến hiện tại.

“Ta không hận ai cả. Ta chỉ không muốn hầu bệnh cho ai nữa thôi.”

Vị khách ngẩn ra một chút, rồi cười xòa, trả tiền, rời đi, không hỏi thêm.

Ta ngồi lại một mình trong tiệm, rót một chén trà nhài còn ấm, đưa lên môi uống một ngụm chậm rãi. Hương trà thoang thoảng lan trong không khí, hòa cùng mùi dược liệu quen thuộc, cả căn phòng nhỏ như đang thở cùng một nhịp với ta, không vội vàng, không lo sợ, không còn phải căng mình chờ đợi bất cứ điều gì từ một ai khác.

Ngoài cửa sổ, phố Nam Yên Kinh dần lên đèn, ánh sáng từ những gian hàng khác hắt qua khe cửa, lẫn vào tiếng rao hàng cuối ngày của mấy người bán rong còn nán lại. Ngọn đèn dầu trên án vẫn cháy đều, không cần ai canh chừng, không cần ai thức cùng.

Ba năm hầu bệnh, một kiếp chết oan, tất cả đã lùi lại phía sau cánh cổng Vương phủ, phía sau con đường ta đã chọn bước ra.

Ta đặt chén trà xuống, nhìn ngọn đèn dầu cháy im lìm trước mặt, khẽ nói một câu, không phải cho ai nghe, chỉ cho chính mình.

“Ta chỉ pha thuốc. Không hầu bệnh.”

HẾT.