Ba Năm Hầu Bệnh, Chồng Vừa Khỏi Đã Cưới Biểu Muội
Chương 6: Chàng Đến Xin Ta Sắc Thuốc
Ngày mười, Tây viện đóng cửa từ sáng sớm.
Lão thái phu nhân sai người canh ở cổng, không cho Yên Nhi bước ra nửa bước, cũng không cho ai vào. Nhược Vân nghe được từ đám nha đầu quét sân, kể lại rằng đêm qua Lâm đại phu lục soát cả góc bếp nhỏ Yên Nhi vẫn tự tay sắc thuốc, tìm ra một gói lá khô không rõ tên, mang đi ngay trong đêm.
Gói lá ấy, Nhược Vân kể lại, đã được mang thẳng đến chỗ Lâm đại phu để đối chiếu với gói hồi độc thảo ta từng đưa cho Lão thái phu nhân xem qua. Tin đồn trong phủ lan nhanh, người thì nói Yên biểu tiểu thư âm mưu hại Tam gia, người thì nói có khi chỉ là hiểu lầm, chờ Lâm đại phu tra rõ mới dám kết luận. Không ai trong đám gia nhân dám nhắc đến tên ta trong những lời đồn ấy, như thể mọi người đều ngầm hiểu, chuyện này không còn liên quan gì đến chính thất nữa.
Ta ngồi bên án, không hỏi thêm. Chuyện Tây viện, từ hôm nói thật với Lão thái phu nhân, không còn là chuyện ta cần bận tâm nữa.
Hai ngày nay, Đông viện yên tĩnh đến lạ. Không có Yên Nhi chạy sang cầu xin, không có Lão thái phu nhân ghé qua dò hỏi thêm điều gì. Ta ngồi đọc hết một cuốn tạp ký khác của ngoại tổ phụ, thong thả cân đo lại số vàng lá còn trong hộp gỗ đàn, thu xếp dần những gì cần mang theo nếu ngày rời khỏi phủ này đến sớm hơn dự tính.
Nhược Vân những ngày này cũng đổi khác. Con bé không còn cái vẻ hớt hải sợ hãi như hồi mới nghe tin sính lễ đến cửa, thay vào đó là một sự điềm tĩnh non nớt nhưng rõ ràng đang lớn dần lên từng ngày, như thể nhìn ta xử trí mọi chuyện êm xuôi đã truyền sang nó một phần sự vững vàng ấy.
“Tiểu thư.” Nó vừa xếp lại chồng sách trên án vừa hỏi, giọng đã bớt run hơn trước nhiều. “Mấy hôm nay không thấy Tam gia sang, tiểu thư có nghĩ chàng sẽ đến không?”
“Sẽ đến.” Ta đáp, không ngẩng lên. “Người như chàng, khi còn đường nào khác để bấu víu, sẽ không bao giờ nghĩ đến việc quay lại nơi mình từng ruồng bỏ. Chỉ khi hết đường, chàng mới nhớ ra ta còn ở đây.”
Nhược Vân im lặng, cúi xuống tiếp tục xếp sách, không hỏi thêm.
Gần trưa, ngoài sân có tiếng bước chân là lạ, chậm và nặng, khác hẳn dáng đi vốn có của người trong phủ. Nhược Vân chạy ra xem, quay vào báo, giọng còn chưa hết sững sờ.
“Tiểu thư, Tam gia… Tam gia tự mình đến.”
Ta không ngước lên khỏi trang sách. “Không ai đỡ chàng sao?”
“Lão thái phu nhân cấm nha đầu Tây viện qua giúp. Nha đầu Đông viện lại không dám tự tiện đỡ Tam gia khi chưa có lệnh.” Nhược Vân hạ giọng. “Tam gia đi một mình, ho suốt dọc đường, mấy lần như muốn khuỵu xuống.”
Ta liếc mắt nhìn qua khe cửa một lần, đủ để thấy dáng chàng lảo đảo từng bước trên khoảng sân lát đá, tay áo bào lam phất phơ theo gió, không có ai đỡ, không có ai theo sau. Ba năm trước, mỗi lần chàng bước đi dù chỉ vài bước cũng có ít nhất hai nha đầu túc trực hai bên, sợ chàng ngã. Hôm nay, cả một quãng sân dài, chàng đi một mình, ngã chực mấy lần rồi lại tự gượng đứng lên, không một bàn tay nào đưa ra đỡ lấy.
Ta ngồi yên, không gọi Nhược Vân ra giúp. Không phải vì ác ý muốn nhìn chàng ngã, mà vì ta muốn chàng tự mình bước hết quãng đường ấy, để tự thân hiểu được cảm giác không còn ai kề bên đỡ đần từng bước chân, thứ cảm giác ta đã nếm đủ suốt ba năm ròng khi một mình gánh vác mọi việc mà không một lời cảm kích.
Kính Chi bước vào, khuôn mặt xanh nhợt như giấy cũ để lâu ngày trong rương ẩm, môi khô nứt từng đường nhỏ. Chàng vịn tay vào khung cửa một lúc mới bước qua được bậc thềm, tấm áo bào lam thư sinh nhàu nhĩ, vạt áo còn dính bụi đường.
Ta vẫn ngồi bên án, mắt nhìn trang sách, không đứng dậy đón.
Chàng đứng ở cửa rất lâu. Không ai lên tiếng trước. Ngọn đèn dầu giữa phòng cháy đều, hắt bóng chàng đổ dài trên nền gạch, cây bóng ấy run run theo từng nhịp thở gấp.
Cuối cùng, chàng quỳ xuống.
Một tam công tử Vương phủ, tiến sĩ hàn lâm hai mươi hai tuổi, chưa từng quỳ trước một nữ nhân nào trong đời, kể cả trước mẹ ruột khi còn khoẻ mạnh. Đầu gối chàng chạm nền gạch lạnh, tay chống xuống đất để giữ thăng bằng, cả người khẽ chao đi một nhịp rồi mới đứng vững.
“Nhược Hàm.” Giọng chàng khàn đặc, đứt quãng giữa từng câu. “Ta biết ta có lỗi. Yên Nhi… ta thật sự không biết muội ấy hạ độc. Nếu nàng chịu tha cho ta một lần, ta lập tức đuổi muội ấy ra khỏi phủ, xé bỏ hôn thư ngay hôm nay. Ta chỉ cầu xin nàng một chuyện, sắc lại thang thuốc cho ta như trước.”
Ta gấp trang sách lại, đặt xuống án. Tay chậm rãi cầm lấy chiếc quạt lụa đặt sẵn bên gối, mở ra từng nếp, tiếng lụa khẽ sột soạt trong căn phòng vốn đang rất tĩnh.
Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa
91.800đ
Xem chi tiết →Quạt mở hết, che nửa gương mặt ta, chỉ để lộ đôi mắt hạnh nhìn thẳng về phía chàng. Cành mai trắng thêu trên nền lụa ngăn cách hai người thành hai cõi riêng, một bên là kẻ đang quỳ, một bên là kẻ ngồi yên sau lớp lụa mỏng.
“Vương Kính Chi.” Giọng ta qua sau quạt vẫn bình thản, không cao, không thấp. “Chàng có biết vì sao chàng khỏi bệnh không?”
“Nhờ nàng.” Chàng đáp ngay, không chút do dự. “Ta biết. Ta luôn biết.”
“Chàng không biết.” Ta lắc đầu nhẹ, tiếng lụa quạt khẽ rung theo. “Chàng tưởng nhờ Lâm đại phu, tưởng nhờ thang thuốc gia truyền mấy đời để lại. Ba năm qua, chàng chưa từng hỏi ta một câu về thang thuốc ấy, chỉ hỏi tối nay có canh bồ câu hầm hay không, có cần thêm chăn hay không. Bây giờ Yên Nhi bị vạch mặt, chàng không còn ai khác để cầu cứu, chàng mới gọi hai chữ ‘nhờ nàng’.”
Kính Chi ho khan một tràng, phải mất một lúc mới nén lại được, giọng càng khàn hơn. “Ta thật lòng biết ơn nàng ba năm qua, Nhược Hàm, chưa từng một ngày quên…”
“Chàng biết ơn ta ở chỗ nào?” Ta ngắt lời, không lớn giọng, chỉ chậm rãi từng chữ. “Ở chỗ ta có thể sắc thang thuốc đúng vị hơn Yên Nhi sao? Hay ở chỗ ba năm nay ta không một lời oán trách, để chàng yên tâm dưỡng bệnh, yên tâm chọn người mình thích khi vừa khỏi?”
Chàng câm miệng, đôi mắt vốn thư sinh hiền hoà giờ đỏ hoe, không phải vì giận, mà như người vừa nhận ra mình đứng trước một câu hỏi không có cách nào trả lời cho vừa lòng.
Một lúc lâu, chàng mới lên tiếng lại được, giọng đã vỡ hẳn, không còn giữ được vẻ ôn hoà quen thuộc. “Nhược Hàm, ta biết ta sai. Nhưng xin nàng nghĩ lại, ba năm vợ chồng, chẳng lẽ không đáng một lần nàng tha thứ cho ta hay sao?”
“Ba năm vợ chồng.” Ta lặp lại đúng bốn chữ ấy, giọng nhẹ như gió thoảng nhưng từng chữ đủ nặng để chàng phải cúi mặt xuống. “Ba năm đó, chàng gọi ta bằng tên gì khi nói chuyện với mẫu thân? Có phải là ‘người vợ hiền đang hầu hạ ta’ hay không? Ba năm đó, có một lần nào chàng hỏi ta một câu ta có mệt không, có buồn không, ngoài những câu hỏi về thang thuốc và giờ giấc hay chưa?”
Kính Chi không đáp được. Cổ họng chàng khẽ động, như muốn nói gì đó nhưng lại nuốt xuống, chỉ còn tiếng thở dốc vọng lên trong căn phòng yên ắng.
“Ta không trách chàng vì đã cưới thêm người.” Ta nói tiếp, giọng vẫn đều đều. “Lễ giáo cho phép chàng làm vậy, ta không có quyền oán. Ta chỉ trách một điều, ba năm ta bên chàng, chàng chưa từng một lần nhìn ta như nhìn một con người, mà chỉ nhìn như nhìn một cái bóng luôn có mặt đúng giờ, đúng việc, không cần hỏi han gì thêm.”
Câu nói ấy như một nhát dao cắt ngang không khí. Kính Chi ngẩng đầu lên nhìn ta, đôi mắt đỏ hoe giờ đã ầng ậc nước, nhưng không rơi xuống được giọt nào.
Ta đứng dậy khỏi án. Quạt vẫn xoè nguyên, tay giữ chắc, không run như những đêm ba năm trước từng run vì bưng bát thuốc nóng. Lần đầu tiên kể từ khi chàng bước vào, ta nhìn thẳng xuống chàng, từ trên xuống, không phải tư thế một người vợ cúi đầu chờ chồng dạy bảo.
“Ba năm ta hầu chàng, đêm nào cũng thức đến canh ba canh tư, tay run vì thiếu ngủ, phổi cũng hư một phần vì hít khói thuốc lâu ngày. Chàng khỏi bệnh chưa đầy một tuần, sính lễ cưới biểu muội đã đến cửa. Bây giờ chàng quỳ trước mặt ta, xin ta sắc lại một thang thuốc.” Ta dừng một nhịp, nhìn chàng run rẩy dưới ánh đèn dầu. “Chàng nghĩ ba năm ấy đáng giá một thang thuốc thôi sao?”
“Không phải vậy, Nhược Hàm, ta không có ý…”
“Ta biết chàng không có ý gì cả.” Ta cắt ngang, giọng vẫn nhẹ nhưng không còn chỗ cho chàng phân trần thêm. “Đó mới là điều đáng nói. Ba năm qua chàng chưa từng có ý gì về những đêm ta thức, cũng như bây giờ chàng không có ý gì khi quỳ xuống xin ta cứu, ngoài việc cứu lấy chính mạng chàng.”
Ta gập quạt lại, đặt xuống án, tiếng lụa khép khẽ vang trong phòng như một dấu chấm hết.
Đi ngang qua hắn, ta không dừng bước, không ngoái nhìn thêm một lần. Ra đến bậc cửa Đông viện, ánh nắng trưa hắt vào, chói một khoảng trước mắt, ta mới quay đầu lại, nói câu cuối cùng.
“Chàng tự sắc lấy đi. Vị hồi độc thảo trong thang gia truyền, ta đã dặn Lâm đại phu bỏ hẳn từ hôm nói chuyện với mẹ. Bây giờ trong người chàng chỉ còn Tây Tây Thảo của Yên Nhi để lại trước kia, không phải ta bỏ vào, cũng không phải ta giải ra. Sống hay không, chàng tự chịu lấy.”
Kính Chi vẫn quỳ đó, không đứng dậy nổi, chỉ ngẩng đầu nhìn theo bóng ta khuất dần sau khung cửa, miệng khẽ động đậy như muốn gọi thêm một tiếng, nhưng không thành lời.
Ta đứng ngoài Đông viện, ngoảnh lại một lần cuối cùng.
Hắn vẫn quỳ đó, tay chống nền gạch, tấm áo bào lam nhàu nhĩ dính bụi. Ba năm trước, ngày rước ta về phủ, hắn cũng mặc áo lam ấy, đứng giữa sân đón dâu, cười rất nhẹ, rất hiền, khiến ta từng tin cả đời này gửi gắm không sai người.
Ta không khóc. Kiếp trước ta đã khóc đủ những đêm không ai hay, nước mắt rơi xuống bát thuốc đang sắc, mặn lẫn vào vị đắng không ai phân biệt được.
“Chàng nghỉ ngơi.” Ta nói, không quay đầu lại lần nữa. “Ta đi mở tiệm thuốc.”
Nhược Vân đứng chờ sẵn ngoài hành lang, dáng nhỏ thó nép sau cột gỗ, thấy ta bước ra liền vội theo sát, tay ôm chặt một chiếc hộp gỗ nhỏ.
“Tiểu thư, hộp gỗ đàn… con đã mang theo như tiểu thư dặn.”
Ta gật đầu, không nói thêm, bước thẳng về phía Đông viện, không ngoái lại nhìn bóng hắn lần nào nữa. Sau lưng, tiếng ho khan của Kính Chi vẫn vọng theo, nhỏ dần, rồi tắt hẳn khi ta khép cánh cửa phòng riêng lại.
Nhược Vân đặt hộp gỗ đàn lên án, đứng lặng một lúc, không dám hỏi gì thêm, chỉ nhìn ta ngồi xuống ghế, hai tay đặt lên đầu gối, lưng thẳng như chưa từng trải qua chuyện gì lớn lao vừa xảy ra ngoài kia.
“Tiểu thư không thấy nhẹ lòng sao?” Cuối cùng nó cũng hỏi, giọng rụt rè. “Con cứ tưởng tiểu thư sẽ khóc, hoặc ít ra cũng phải giận dữ điều gì đó.”
Ta khẽ lắc đầu, nhìn ra khung cửa sổ, nơi ánh nắng trưa đã dịu bớt phần chói gắt. “Ba năm trước, ta đã khóc đủ những đêm không ai hay biết, nước mắt hòa lẫn vào thang thuốc đang sắc, mặn đến mức chính ta cũng không phân biệt được đâu là vị đắng của thuốc, đâu là vị mặn của nước mắt mình. Kiếp này, ta không định khóc thêm một giọt nào vì hắn nữa.”
Nhược Vân im lặng, cúi đầu nhìn xuống chiếc hộp gỗ đàn trên án, một lúc sau mới rụt rè hỏi tiếp. “Vậy bây giờ tiểu thư định thế nào? Mình thật sự rời khỏi Vương phủ sao?”
“Không phải bây giờ.” Ta đáp, giọng đã trở lại vẻ điềm tĩnh quen thuộc. “Hắn còn chưa chết, danh phận chính thất của ta còn đó, ta rời đi lúc này, người ngoài chỉ thấy một chính thất bỏ chồng lúc chồng bệnh nặng, không ai hiểu ngọn ngành. Ta sẽ đợi, đợi đến lúc mọi chuyện ngã ngũ, đợi đến lúc ra đi không còn ai có thể nói ra nói vào được nữa.”
Nhược Vân gật đầu, ánh mắt nhìn ta có chút gì đó vừa nể phục vừa xót xa, không nói thêm lời nào, lặng lẽ mang hộp gỗ đàn cất vào góc rương quen thuộc.
Ta ngồi lặng thêm một lúc, nghĩ đến Yên Nhi vẫn đang bị giam lỏng bên Tây viện, không biết giờ này nàng ta có hay tin Kính Chi đã tự mình chống gậy sang cầu xin ta hay không. Nếu biết, hẳn nàng ta sẽ càng thêm tuyệt vọng, vì đến phút cuối, người mà Kính Chi tìm đến cứu mạng mình vẫn không phải là nàng.
Ta không thấy hả hê gì trước ý nghĩ đó. Yên Nhi, xét cho cùng, cũng chỉ là một quân cờ trong một ván cờ lớn hơn nàng ta có thể hiểu hết, bị gả vào một nơi không thuộc về mình, rồi tự mình chọn con đường sai lầm để mong giữ lấy một chỗ đứng. Ba năm sau, kiếp trước, nàng ta đứng nhìn ta chết mà không nói một lời minh oan, phần vì sợ hãi, phần vì chính nàng ta cũng đang tranh giành một chỗ đứng không kém phần bấp bênh trong phủ này.
Kiếp này, ta không cần nàng ta phải trả giá bằng mạng sống. Chỉ cần đúng người, đúng việc, tự nó lộ ra ánh sáng, phần còn lại, trời đất tự có cách sắp đặt.
Ngọn đèn dầu trên án vẫn cháy, ánh vàng quen thuộc hắt lên mặt bàn, lên chiếc quạt lụa gấp cành mai trắng vừa được đặt xuống. Ba năm, ngọn đèn ấy soi cho ta canh chừng từng hơi thở của một người khác. Đêm nay, nó chỉ soi cho một mình ta, ngồi lặng giữa căn phòng đã quen im ắng, nghĩ đến con phố Nam Yên Kinh chưa từng đặt chân tới, nơi vốn liếng tiệm lụa của mẹ đang chờ một cánh cửa mới mở ra.