Ba Năm Hầu Bệnh, Chồng Vừa Khỏi Đã Cưới Biểu Muội
Chương 5: Trong Thang Thuốc Có Hai Loại Độc
Sáng ngày thứ tám, Lão thái phu nhân đích thân đến Đông viện.
Không có nha đầu theo hầu, không có Yên Nhi bên cạnh. Chỉ một mình bà, bước chậm qua sân, tay chống chiếc gậy trúc vẫn dùng khi trời trở lạnh, dù hôm nay nắng ráo. Nhược Vân chạy vào báo tin, giọng còn chưa hết hổn hển, ta đã nghe tiếng gậy trúc gõ nhịp ngoài hiên.
Ta đặt cuốn sách xuống án, đứng dậy đón, cúi đầu hành lễ như thường lệ. Lão thái phu nhân phất tay, ra hiệu miễn lễ, tự bước vào ngồi xuống ghế đối diện, ánh mắt quét một vòng quanh phòng, dừng lại ở ấm trà nguội trên án.
“Rót cho ta chén trà.”
Ta rót trà, đặt trước mặt bà, rồi ngồi xuống chỗ cũ, tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, chờ đợi.
Lão thái phu nhân không vội uống. Bà cầm chén trà lên, xoay nhẹ trong lòng bàn tay, một lúc lâu mới lên tiếng, giọng nặng hơn ngày thường.
“Nhược Hàm, con biết ta đến vì chuyện gì.”
Ta không đáp ngay, cũng không hỏi lại. Chỉ ngồi yên, nhìn bà, chờ bà nói tiếp.
“Kính Chi tái phát bệnh cũ.” Bà đặt chén trà xuống, tiếng sứ chạm án khẽ vang. “Nhưng Lâm đại phu nói, lần này bệnh chuyển biến khác thường, nhanh hơn hẳn ba năm trước. Ông ấy bắt mạch xong, đứng lặng rất lâu, cuối cùng hỏi ta một câu.”
Bà ngừng lại, nhìn thẳng vào ta.
“Ông ấy hỏi, có phải trong phủ này có người bỏ thêm thứ gì vào thang thuốc hay không.”
Ta ngước mắt lên, giọng vẫn bình thản như đang bàn chuyện thời tiết. “Mẹ muốn tra ai?”
“Ba năm con sắc thuốc.” Lão thái phu nhân nói, từng chữ chậm rãi, như đang cân nhắc cả câu trước khi buông ra. “Ba năm ấy, không có chuyện gì xảy ra. Bảy ngày Yên Nhi vào phủ, Kính Chi ho ra máu. Ta già rồi, nhưng ta không phải người ngu.”
Ta hơi khựng lại trong lòng, dù ngoài mặt không lộ ra. Kiếp trước, cũng chính người phụ nữ ngồi trước mặt ta đây, đứng bên cạnh Kính Chi, chỉ tay vào ta mà mắng “hạ độc giết chồng”, đẩy ta ra hậu viện không một lời phân giải. Kiếp này, khi ta không tự tay sắc thuốc nữa, bà lại là người đầu tiên nghi ngờ Yên Nhi.
Có lẽ khác biệt không nằm ở con người bà, mà nằm ở việc ai đang đứng ở vị trí “vừa mới đến, còn khả nghi”, và ai đã ở đó đủ lâu để được tin tưởng.
Ta đặt chén trà của mình xuống án, ánh mắt không né tránh.
“Mẹ. Con nói thật một chuyện, mong mẹ nghe hết rồi hẵng phán xét.”
Lão thái phu nhân nhíu mày, không giục, chỉ chờ.
“Ba năm qua, trong thang thuốc gia truyền của Vương phủ có một vị gọi là hồi độc thảo. Vị này Lâm đại phu bí truyền mấy đời, tin tưởng tuyệt đối, nhưng ông ấy không biết nó mang độc tính chậm với người thể hàn như Tam gia. Ngoại tổ phụ con lúc sinh thời là y sư có tiếng ở Giang Nam, dạy con nhận biết dược tính từ năm mười ba tuổi.” Ta ngừng một nhịp, nhìn thẳng vào đôi mắt đã đục màu tuổi tác của bà. “Ba năm nay, mỗi lần sắc thuốc, con đều lặng lẽ bỏ vị ấy ra, thay bằng một chút cam thảo vô hại. Đó là lý do Tam gia khỏi bệnh.”
Lão thái phu nhân trợn mắt, tay đang cầm chén trà khẽ run, làm sóng sánh ra ngoài thành chén.
“Con… con vừa nói cái gì?”
“Con không đầu độc chàng.” Ta nói tiếp, giọng không lớn hơn nhưng rõ ràng từng chữ. “Con giải độc. Vị hồi độc thảo trong thang gia truyền đã hại đời cụ nội, hại đời cha chàng, và suýt hại luôn cả chàng. Con giữ lại một gói trong hộp gỗ đàn dưới gầm giường, mẹ có thể sai người mang đến trạm dược kinh thành kiểm chứng, không khó.”
Căn phòng im lặng một lúc lâu, chỉ có tiếng gió lùa nhẹ qua song cửa giấy. Lão thái phu nhân đứng dậy, tay chống lên mép án, cả người khẽ lảo đảo như vừa mất thăng bằng. Ta định đứng lên đỡ, nhưng bà xua tay, tự mình đứng vững lại.
Nửa canh giờ trôi qua, bà không nói một lời nào. Ta ngồi yên, không giục, để bà tự mình sắp xếp lại những gì vừa nghe trong đầu. Một người phụ nữ đã sống hơn năm mươi năm trong phủ đệ, hiểu rõ hơn ai hết cái giá của một câu nói dối và cái giá của một câu nói thật, không dễ gì tin ngay một chuyện động trời như vậy chỉ sau vài câu.
Cuối cùng, bà quay lại nhìn ta, giọng đã dịu đi nhiều, nhưng vẫn còn run.
“Con… thôi.” Bà hít một hơi dài. “Còn Yên Nhi thì sao?”
Ta biết đây mới là câu hỏi bà thực sự muốn hỏi từ đầu. Ta rót thêm một chén trà mới, đẩy về phía bà, tay không hề run, dù trong lòng từng đợt sóng ký ức kiếp trước đang cuộn lên, rồi lắng xuống.
“Yên biểu tiểu thư từ ngày nhập phủ đã bỏ một loại độc khác vào thang thuốc, gọi là Tây Tây Thảo, độc tính rất chậm, nhưng gây tổn thương phổi lâu dài. Muội ấy tưởng, chỉ cần Tam gia yếu dần rồi mất, muội ấy sẽ có cơ hội lên làm chính thất.” Ta ngừng lại, nhìn Lão thái phu nhân đang tái mặt dần từng chút một. “Nhưng muội ấy không biết, ba năm qua chính con đã âm thầm giải độc gia truyền, hai loại độc bù trừ lẫn nhau, nên Tam gia vẫn khỏe.”
“Bây giờ con ngừng giải độc. Độc gia truyền quay lại, cộng thêm độc của Yên Nhi vẫn đang âm thầm ngấm vào người chàng mỗi ngày. Hai loại độc cùng lúc phát tác, bệnh trở nặng nhanh đến mức chính muội ấy cũng hoảng sợ, không hiểu vì sao.”
Lão thái phu nhân đứng lặng, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy cũ, tay run run cầm lấy chén trà ta vừa rót, nhưng không uống, chỉ giữ lấy như tìm một điểm tựa.
“Muội ấy tưởng độc của mình là nguyên nhân khiến chàng bệnh lại.” Ta nói tiếp, giọng vẫn nhỏ, vẫn bình thản, như đang thuật lại một câu chuyện đã đọc qua từ lâu, không còn liên quan gì đến cảm xúc của chính mình. “Không phải. Là con ngừng giải độc gia truyền, nên độc lâu năm phát ra, cộng với độc muội ấy thêm vào, Tam gia mới ho ra máu nhanh đến vậy.”
“Con không giết chàng, mẹ ạ.” Ta nhìn thẳng vào bà, từng chữ rõ ràng như dao khắc lên gỗ. “Con chỉ không cứu nữa.”
Lão thái phu nhân đứng đó rất lâu, tay vẫn giữ chặt chén trà, không nói thêm câu nào. Ánh mắt bà nhìn ta, không còn vẻ nghiêm khắc như lúc bước vào, cũng không hẳn là oán trách, mà là một thứ gì đó gần giống nỗi sợ hãi lẫn với sự hối hận muộn màng, thứ cảm giác của một người vừa nhận ra mình đã đứng nhầm phía trong một câu chuyện mà bà tưởng mình hiểu rõ.
Bà đặt chén trà xuống án, không uống một ngụm nào, quay người bước ra khỏi Đông viện, dáng đi chậm hơn lúc đến, tiếng gậy trúc gõ xuống nền gạch nghe nặng nề hơn hẳn.
Nhược Vân đứng nép ở góc phòng từ đầu đến cuối, đợi bóng Lão thái phu nhân khuất hẳn sau bức bình phong mới dám bước lại gần, giọng nhỏ như sợ vách tường có tai.
“Tiểu thư… tiểu thư vừa nói hết sự thật cho mẫu thân Tam gia nghe rồi ạ? Nếu bà ấy không tin, lại quay ra nghi ngờ tiểu thư thì…”
“Bà ấy tin.” Ta cầm lại cuốn sách đang đọc dở, lật đến trang cũ, giọng bình thản. “Người sống đến tuổi bà ấy, phân biệt được đâu là lời nói dối cầu xin thương xót, đâu là lời nói thật không cầu xin gì cả. Ta không cầu xin bà ấy điều gì, cũng không sợ bà ấy không tin.”
Nhược Vân vẫn chưa hết lo lắng, đứng nắn nắn vạt áo. “Nhưng nếu bà ấy đi hỏi tội Yên biểu tiểu thư, biểu tiểu thư nhất định sẽ đổ ngược lại cho tiểu thư, nói tiểu thư vu oan…”
“Không đổ được.” Ta nói, mắt vẫn nhìn trang sách. “Ta đã giữ một gói hồi độc thảo làm chứng. Còn Yên Nhi, muội ấy không giữ được thứ gì làm bằng chứng cho lời vu oan của mình cả, vì thứ độc muội ấy dùng, không phải cùng một loại với con nói ra.”
Ta ngừng lại, nhớ đến ánh mắt hoảng loạn thật sự của Yên Nhi bốn ngày trước, thứ hoảng loạn không giả vờ được. Kiếp trước, ta chưa từng biết chuyện Yên Nhi cũng đang hạ độc, chỉ biết mình bị vu tội, bị đuổi ra hậu viện, rồi treo cổ trong tuyệt vọng không một ai đứng ra minh oan, kể cả người mẹ chồng từng ngồi uống trà với ta hôm nay.
Kiếp này, ta không cần đợi ai minh oan cho mình nữa. Ta tự nói ra sự thật, đúng lúc, đúng người, trước khi có ai kịp vu oan cho ta bất cứ điều gì.
Buổi chiều hôm đó, Đông viện không có ai đến quấy rầy. Ta ngồi đọc sách hết một buổi, dùng bữa tối một mình, nghe tiếng gió lùa qua song cửa giấy, tiếng lá cây ngoài sân xào xạc như mọi hôm. Đến tối, Nhược Vân lại len lén mang tin về, giọng thì thầm.
“Tiểu thư, nghe nói Lão thái phu nhân đã cho người canh chặt cửa Tây viện, không cho Yên biểu tiểu thư bước ra ngoài nửa bước. Lâm đại phu cũng được mời vào Tây viện, không rõ để làm gì.”
Ta ngồi bên án, châm thêm dầu vào ngọn đèn, ngọn lửa nhỏ bùng lên một chút rồi ổn định lại, tỏa quầng sáng vàng ấm quen thuộc lên mặt bàn.
“Để kiểm tra thang thuốc Yên Nhi tự tay sắc mấy hôm nay.” Ta nói khẽ, gần như chỉ để mình nghe. “Bà ấy không phải người dễ bỏ qua một nghi ngờ đã nhen lên trong lòng.”
Nhược Vân không hiểu hết ý câu nói, chỉ đứng yên chờ ta dặn dò thêm. Nhưng ta không nói gì nữa, khẽ vẫy tay ra hiệu cho nó lui xuống nghỉ.
Còn lại một mình, ta nhìn ngọn đèn dầu cháy đều trong đêm, tay đặt yên trên án, không còn run rẩy như những đêm mùa đông năm nào phải thức canh ấm thuốc sôi. Ba năm trước, ngọn đèn này soi cho ta từng khắc lo sợ Kính Chi trở bệnh giữa đêm. Đêm nay, nó soi cho một sự thật vừa được nói ra, không giấu, không né tránh, không cầu xin ai tin.
Ta khép cuốn sách lại, thổi tắt một nửa ngọn đèn cho đỡ hao dầu, nhìn ra khung cửa sổ tối đen ngoài kia, nơi Tây viện đang có ánh đèn le lói không tắt, chắc là Lâm đại phu vẫn còn đang tra xét thang thuốc dở dang.
Kiếp trước, sự thật này chưa từng có cơ hội được nói ra, vì khi ấy ta đã là người nằm dưới, không còn tiếng nói nào đủ trọng lượng để ai tin. Kiếp này, ta nói ra đúng lúc mình còn đứng vững, đúng lúc còn một gói hồi độc thảo trong hộp gỗ đàn làm bằng chứng.
Sự khác biệt, chỉ nằm ở chỗ đó.