Ba Năm Hầu Bệnh, Chồng Vừa Khỏi Đã Cưới Biểu Muội
Chương 4: Lần Thứ Hai Đến Cửa
Bốn ngày trôi qua.
Đông viện yên tĩnh một cách khác thường, cái yên tĩnh mà trước đây ta chưa từng được biết đến. Không có mùi thuốc bắc quyện trong không khí mỗi sớm mỗi chiều. Không có tiếng ấm sành sôi ùng ục trên bếp lò nhỏ sau vườn, không có tiếng muôi gỗ khua vào thành nồi mỗi canh giờ để canh lửa. Tóc ta không còn vương mùi hoàng kỳ, mùi bạch truật. Áo ta treo trên giá gỗ ba ngày liền không phải giặt vì dính thuốc sánh ra khi bưng bát đi qua hành lang gió lùa.
Đêm đầu tiên, ta trằn trọc đến canh ba mới ngủ được, cơ thể quen với việc thức dậy giữa đêm để trở lửa, quen đến mức không có việc gì làm lại thấy bứt rứt như thiếu một thứ gì đó. Đêm thứ hai đỡ hơn. Đêm thứ ba, ta ngủ một mạch đến sáng, tỉnh dậy thấy ánh nắng đã lên cao qua song cửa, lòng có một cảm giác lạ lẫm, gần như tội lỗi, như thể ngủ ngon cũng là một điều gì đó ta không có quyền được hưởng.
Đêm thứ tư, ta ngủ ngon như một người bình thường.
Sáng ngày thứ năm, Nhược Vân bước vào phòng, sắc mặt không giấu được vẻ hoảng hốt, tay run run bưng chậu nước rửa mặt đặt xuống án mà sóng cả ra ngoài.
“Tiểu thư.” Giọng nó nhỏ, líu ríu. “Đêm qua… đêm qua Tam gia ho ra máu.”
Ta đang chải tóc, động tác không dừng lại, chỉ chậm đi một nhịp.
“Lão thái phu nhân đã biết chưa?”
“Biết rồi ạ. Nghe nói mẫu thân sai người đi mời Lâm đại phu về phủ ngay trong đêm, ông ấy bắt mạch xong, sắc mặt không tốt lắm. Kê lại đúng thang thuốc cũ, nhưng…” Nhược Vân ngập ngừng, “nhưng nghe nói thang thuốc pha ra, Tam gia uống vào không thấy đỡ chút nào, mà còn ho dữ hơn.”
Ta đặt lược xuống án, nhìn ra cửa sổ. Nắng sớm hắt một vệt vàng nhạt lên nền gạch, giống hệt buổi sáng sính lễ bốn ngày trước. Trong lòng ta không dâng lên cảm giác hả hê nào, cũng không có chút hối hận nào len vào. Chỉ có một sự tĩnh lặng lạ thường, như đứng bên bờ sông nhìn nước chảy, biết trước dòng nước sẽ trôi về đâu mà không cần phải nhúng tay vào.
“Thang thuốc cũ, không có hồi độc thảo bị lấy ra nữa,” ta nói khẽ, gần như tự nhủ với chính mình, “tự nhiên sẽ trở lại đúng như nó vốn là.”
“Tiểu thư nói gì ạ?”
“Không có gì.” Ta đứng dậy, khoác thêm áo choàng mỏng. “Ngươi đi dọn án thư, ta muốn đọc sách.”
Nhược Vân líu ríu vâng dạ, nhưng chưa kịp quay người thì ngoài sân đã có tiếng bước chân gấp gáp, tiếng vải lụa sột soạt cọ vào khung cửa. Ta ngẩng lên, thấy Yên Nhi đứng ở ngưỡng cửa Đông viện, thở hổn hển như vừa chạy một đoạn đường dài.
Không còn dáng vẻ nhu mì ngọt ngào như bốn hôm trước. Tóc nàng ta hơi xổ ra khỏi búi, gấu áo lụa hồng đào lấm lem bụi đất, có một vệt dây bẩn kéo dài từ tay áo xuống vạt trước, như vừa vấp ngã đâu đó trên đường chạy sang đây. Đôi mắt vốn long lanh nước giờ đỏ hoe, viền mi ướt.
“Hàm tỷ tỷ.” Nàng ta bước vào, không đợi ta cho phép, quỳ thụp xuống ngay giữa phòng, hai tay chống đất. “Xin tỷ hạ mình. Tam gia… Tam gia bệnh lại nặng lắm rồi. Muội không biết sắc thuốc, sắc mấy thang đều không đúng vị, Lâm đại phu nói phải đúng tay người quen mới được. Tỷ chỉ cần chỉ muội một lần thôi, một lần thôi cũng được.”
Ta ngồi yên sau án, nhìn nàng ta thật lâu, không vội đáp. Bốn ngày trước, khuôn mặt này còn cười ngọt như mật, tay bưng khay bánh, giọng nói dịu dàng gọi ta “Hàm tỷ tỷ” nghe êm tai đến lạ. Bây giờ nhìn kỹ, ta thấy rõ nỗi sợ hãi thật sự đang len trong đôi mắt ấy, không phải nỗi sợ giả vờ để lấy lòng người trên.
Nàng ta đang sợ thật.
Ta chợt hiểu ra một điều. Yên Nhi hoảng loạn đến mức này, không đơn thuần vì thương xót Kính Chi. Từ ngày nhập phủ, nàng ta vẫn lén bỏ một thứ khác vào thang thuốc mỗi ngày, thứ độc dược riêng của mình, chờ ngày Kính Chi yếu dần rồi mất, để mình có cơ hội lên làm chính thất. Nhưng nàng ta không hề biết, trong ba năm qua, chính ta mới là người giữ cho chàng sống, bằng cách âm thầm lấy đi vị hồi độc thảo độc hại trong thang thuốc gia truyền.
Bây giờ ta không sắc nữa. Độc gia truyền quay trở lại, cộng thêm thứ độc riêng của Yên Nhi vẫn đang âm thầm ngấm vào người Kính Chi mỗi ngày. Hai loại độc cùng lúc, bệnh trở nặng nhanh đến mức chính nàng ta cũng hoảng sợ, không hiểu vì sao.
Nàng ta tưởng độc của mình là nguyên nhân duy nhất. Nàng ta không biết, chính việc ta ngừng giải độc mới là thứ đẩy nhanh mọi chuyện.
“Nhưng muội thực không biết sắc thuốc, tỷ tỷ.” Yên Nhi ngước lên, nước mắt chảy dài xuống má, giọng nghẹn lại. “Muội chỉ biết đàn tì bà, biết vẽ vài nét tranh cổ chỉ, chưa từng bước chân vào bếp thuốc bao giờ. Xin tỷ thương tình, chỉ muội cách sắc đúng vị…”
Ta khép cuốn sách đang cầm trên tay, đặt xuống án, giọng vẫn bình thản như đang nói một chuyện không liên quan gì đến mình.
“Yên biểu tiểu thư.” Ta gọi đúng tước vị nàng ta mang trong phủ, không còn gọi bằng tên thân mật như trước. “Muội gả vào Vương phủ để làm thiếp cho Tam gia. Lễ nghĩa từ xưa đến nay dạy phụ nữ trong nhà phải biết chăm lo cho chồng, biết vun vén gia đạo. Ta không giữ muội lại đây làm gì. Muội cứ về Tây viện mà giúp chàng.”
Yên Nhi nghẹn họng, hai tay siết chặt vạt áo. “Nhưng muội thực không biết…”
“Vậy muội biết cái gì?” Ta hỏi, giọng vẫn không cao lên, không một chút gay gắt, nhưng từng chữ rõ ràng như dao cắt vào không khí tĩnh lặng của căn phòng. “Đàn tì bà gảy hay lắm phải không? Muội vẽ tranh cổ chỉ, nét bút mềm mại, ai trong phủ cũng khen. Nhưng ba năm ta thức trắng đêm bên bếp lò, canh từng khắc lửa, không phải để học đàn hay vẽ tranh.”
Yên Nhi tái mặt, môi mấp máy không thốt được lời nào.
“Muội chọn Tam gia lúc chàng đã khỏi bệnh, da dẻ hồng hào, có thể đứng đón muội ở cửa Tây viện với ánh mắt dịu dàng.” Ta nói tiếp, mắt nhìn thẳng vào nàng ta, không né tránh. “Không ai bắt muội phải chọn chàng lúc chàng còn nằm liệt giường, ho khan suốt đêm, phải có người túc trực từng khắc sợ chàng ngừng thở giữa cơn mê sảng.”
Căn phòng im lặng một lúc lâu. Chỉ có tiếng gió lùa qua song cửa giấy, tiếng lá cây ngoài sân xào xạc.
“Ba năm đó,” ta nói tiếp, giọng nhẹ hẳn xuống, gần như thì thầm, “ta không nghe thấy ai trong phủ này nhắc đến hai chữ công lao. Ai cũng bảo đó là bổn phận vợ hiền. Bây giờ muội đến, xin ta chỉ dạy một lần cách sắc thuốc, để cứu lấy người muội vừa cưới được bốn hôm.”
Ta ngừng lại, nhìn Yên Nhi đang quỳ run rẩy trước án.
“Ta không có nghĩa vụ phải dạy muội điều gì cả.”
Yên Nhi cúi gằm mặt xuống, hai vai run lên. Nàng ta không khóc thành tiếng, chỉ để nước mắt rơi lặng lẽ xuống nền gạch, từng giọt, từng giọt, như hạt mưa đầu mùa rơi trên mái ngói cũ.
“Tỷ tỷ hận muội.” Cuối cùng nàng ta nói, giọng khàn đặc. “Muội biết. Muội không trách tỷ.”
Ta không đáp lại câu ấy. Ta không hận nàng ta, cũng chẳng thương xót gì nàng ta. Với ta, Yên Nhi bây giờ chỉ là một mảnh ghép trong bức tranh mà kiếp trước ta từng bước qua một lần, biết rõ nó sẽ vỡ vụn ra sao, chỉ là lần này, người cầm mảnh ghép ấy không phải ta nữa.
“Muội về đi.” Ta cầm lại cuốn sách, mở ra trang đang đọc dở, không nhìn nàng ta thêm lần nào. “Ta còn phải đọc sách.”
Yên Nhi đứng dậy, loạng choạng, tay vịn vào khung cửa mới đứng vững. Nàng ta nhìn ta thêm một lúc, ánh mắt phức tạp, vừa oán vừa sợ, rồi cúi đầu quay ra, bước đi không còn vững vàng như lúc bước vào.
Nhược Vân đứng nép ở góc phòng từ đầu đến cuối, đợi bóng Yên Nhi khuất hẳn sau bức bình phong mới dám lại gần, giọng nhỏ như sợ ai nghe thấy.
“Tiểu thư… tiểu thư không định giúp thật sao?”
“Không.” Ta lật một trang sách, giọng bình thản. “Ba năm ta giúp một người, hắn không nhận ra đó là công lao. Ta không định giúp lần thứ hai để nhận lại một câu cảm ơn muộn màng.”
Nhược Vân im lặng, không dám nói thêm. Nó rót cho ta chén trà, đặt lên án, rồi lặng lẽ ra ngoài dọn dẹp vết chân bùn đất Yên Nhi để lại trên nền gạch.
Cả ngày hôm đó, Đông viện không có thêm ai đến. Ta ngồi đọc sách hết buổi sáng, dùng bữa trưa một mình, ngủ một giấc ngắn giữa trưa lần đầu tiên trong ba năm không phải tính giờ dậy sớm để kịp sắc thuốc chiều. Buổi chiều, ta ra vườn sau, đứng nhìn khóm kim ngân mọc dại bên tường, những cành lá xanh non vẫn vươn ra đón nắng, không biết gì về những gì đang xảy ra phía bên kia Đông viện.
Tối đến, Nhược Vân len lén mang tin về, giọng thì thầm như sợ vách tường có tai.
“Tiểu thư, Lâm đại phu vừa ra khỏi Tây viện, sắc mặt không tốt chút nào. Nghe đám gia nhân xì xào, ông ấy nói với Lão thái phu nhân rằng bệnh phổi của Tam gia đã chuyển sang giai đoạn nặng hơn, không rõ vì sao trở nặng nhanh đến vậy chỉ sau một tuần khỏe mạnh bình thường.”
Ta ngồi bên án, không đáp ngay. Ánh đèn dầu nhỏ hắt bóng ta lên vách tường, dài và mảnh, khẽ lay động theo từng cơn gió lùa qua khe cửa.
“Lâm đại phu là danh y gia truyền mấy đời,” ta nói khẽ, gần như chỉ để mình nghe, “nhưng ông ấy chưa từng ngờ, chính thang thuốc bí truyền ông ấy tin tưởng cả đời lại là thứ gặm nhấm người bệnh chậm rãi nhất.”
Nhược Vân không hiểu hết ý câu nói, chỉ đứng yên, chờ ta dặn dò thêm điều gì. Nhưng ta không nói gì nữa, chỉ khẽ vẫy tay ra hiệu cho nó lui xuống nghỉ.
Còn lại một mình trong phòng, ta châm thêm dầu vào ngọn đèn, ngọn lửa nhỏ bùng lên một chút rồi ổn định lại, tỏa ra quầng sáng vàng ấm quen thuộc.
Ba năm nay, ta thắp ngọn đèn này để soi cho mình canh chừng ấm thuốc sôi trên bếp lò, mắt dán vào từng bọt nước sủi lên, tay khuấy đều không ngừng nghỉ, sợ thuốc bén đáy nồi mà mất đi công hiệu. Mỗi đêm, ngọn đèn ấy cháy đến gần cạn dầu, ta mới bưng bát thuốc còn ấm nóng bước qua hành lang tối, đặt trước giường một người đang say ngủ, không một lần tỉnh dậy để nhìn thấy đôi tay đang run của ta.
Đêm nay, ngọn đèn vẫn cháy, nhưng không có ấm thuốc nào cần canh, không có bát thuốc nào cần bưng đi đâu cả.
Ta ngồi lặng nhìn ngọn lửa nhỏ nhảy múa trong chiếc đèn dầu cũ, tay đặt trên án, không còn run rẩy như những đêm mùa đông năm nào. Ánh sáng vàng ấm chiếu lên khuôn mặt ta, lên đôi bàn tay đã lành lặn trở lại sau bốn ngày không phải chạm vào lửa nóng, không phải khuấy thuốc liên tục đến tê cứng cả cổ tay.
Ba năm ta thắp ngọn đèn này, đêm nào cũng đợi một ấm thuốc sôi lên rồi nguội xuống đúng độ, đợi một tiếng gọi khe khẽ từ phòng bên vọng sang, đợi một câu cảm ơn không bao giờ đến trọn vẹn.
Đêm nay ngọn đèn thắp lên, chỉ để soi cho chính ta đọc nốt vài trang sách còn dang dở.
Không đợi ai nữa.