Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 20: Hôn Lễ Đèn Đỏ

Tám năm sau, mùa xuân Kinh Sư ấm như một chén trà đường phèn nóng, muội tròn mười lăm tuổi, đôi má vẫn hồng hào như đêm đầu tiên ngồi sát bếp lửa với cha.

Từ Chu Tước môn kéo dài ba dặm đến cửa Tấn vương phủ, đèn lồng đỏ giăng thành hai hàng, nến trầm hương thắp cả ba dặm, khói thơm bay lên như một dải lụa mỏng vắt ngang trời chiều.

Người Kinh Sư đứng chen chân hai bên đường, người bồng con, người dắt cháu, ai cũng ngẩng cổ trông tân nương của Thế tử Tấn vương phủ hôm nay.

Có bà cụ tóc bạc chống gậy đứng góc phố, mắt nhíu lại nhìn qua khói trầm mỏng, miệng lẩm bẩm rằng ba đời bà chưa từng thấy đám cưới nào lại đốt nến trầm hương thay đèn dầu suốt ba dặm dài.

Có tiểu tử con nhà quan cầm quả bánh đường phèn trong tay, cắn một miếng nhỏ, ngẩng lên hỏi mẫu thân rằng tân nương phủ Thế tử là công chúa nhà nào mà cả Kinh Sư náo nhiệt như hội xuân vậy.

Mẫu thân của tiểu tử cười, đáp rằng tân nương không phải công chúa nào cả, nghe đâu là một cô nương từ thôn Đào Khê xa xôi, cha mẹ vốn là nông dân, ba huynh trai một người làm lính, một người làm thương, một người làm quan.

Tiểu tử nghe xong tròn xoe mắt, cắn thêm một miếng bánh đường phèn, miệng lẩm bẩm rằng con nít con nhà nghèo mà cũng gả được Thế tử, vậy sau này con cũng phải chăm học chăm cày.

Trong kiệu hoa, muội ngồi ngay ngắn, tay ôm một cây nến trầm hương thay cho bó hoa cưới, nến chưa châm lửa, chỉ thoảng ra mùi ấm ấm như đèn dầu trong túp lều dột ngày đầu tiên muội xuyên vào thân xác này.

Muội hạ mắt nhìn cây nến trong tay, đầu ngón tay trắng hồng khẽ chạm vào phần sáp mềm mại, lòng dạ ấm như vừa uống một chén nước đường phèn tám năm trước mẹ nấu cho.

Kiếp trước, ta hai mươi lăm năm cô độc trong căn phòng trọ chín mét vuông, ngày làm mỹ nghệ, đêm chế hương, chưa từng có ai đợi ta về ăn cơm.

Tám năm trước, ta mở mắt trong túp lều dột ở Đào Khê, cha ôm ta trong lòng bàn tay chai sạm, mẹ đắp cho ta một tấm chăn bông cũ có mùi nắng phơi sáng.

Tám năm nay, mỗi đêm ta ngủ trong tiếng cha nói chuyện thì thầm với mẹ ngoài vách, tiếng đại ca mài đao ngoài sân, tiếng nhị ca đếm tiền lẻ trong sổ nợ, tiếng tam ca đọc sách khe khẽ dưới ánh nến.

Nay ta lên kiệu hoa, cây nến trầm hương trong tay không đắt hơn cây nến ta chế trong không gian tâm linh lần đầu, nhưng nó là cây nến tám năm đèn dầu ấm ta chưng cất được từ đời sống thịt xương.

Kiệu hoa nhấc lên, tám lực sĩ khiêng qua Chu Tước môn, muội nghe tiếng người reo hò hai bên, thoáng nhớ lại mùa đông năm nào ở Đào Khê, cả nhà co ro quanh bếp lửa, mẹ nướng khoai lang cho ba huynh trai, cha ngồi vá cho muội đôi giày rơm bằng tay chai sạm.

Ngày đó cha nhìn đôi giày rơm, thở dài rằng Kiều Kiều nhi lớn lên sẽ có giày lụa, cha tin muội con mèo con nhỏ nhất nhà rồi cũng có phần bát cơm đầy.

Cha đâu ngờ hôm nay đôi giày muội đi là giày thêu bằng chỉ vàng, đế lót bông trắng, mỗi bước chân đều êm như đi trên sương sớm còn đọng trên lá đào.

Đến cửa Tấn vương phủ, kiệu hạ xuống, muội hé mắt qua khe rèm đỏ nhìn ra ngoài, thấy cha muội đứng đầu tiên bên bậc thềm đá xanh.

Cha mặc áo bố mới, màu chàm nhạt, cổ tay áo còn nếp gấp mới tinh chưa kịp giặt qua nước bồ kết, tay cha run run vịn vào cột đá cửa vương phủ, đôi mắt cha đỏ hoe như bếp lửa đêm ba mươi.

Cha nhìn kiệu hoa của muội mà không dám bước lên gần, cứ đứng bên cột đá, lặng lẽ đưa tay lau khoé mắt, rồi lặng lẽ mỉm cười một mình.

Mẹ đứng bên cha, mặc áo lụa vàng nhạt, tóc bới cao, cài một cây trâm ngọc bích do tam ca mua tặng mùa đông trước, tay mẹ nắm chặt vạt áo bố của cha như sợ cha ngã.

Mẹ mỉm cười với muội qua khe rèm đỏ, khoé môi mẹ khẽ mấp máy: “Kiều Kiều nhi, mẹ đợi muội bao lâu rồi.”

Ba huynh trai đứng bên cha mẹ, đại ca vẫn cao lớn nhất, vai rộng như núi Thái Sơn, áo quan võ đỏ ngân bạc, tay để trên chuôi đao, mắt liếc quanh đám đông như canh cửa cho tân nương từng bước một.

Nhị ca đứng giữa, áo thương nhân màu xám nhạt, tay ôm một cuộn sổ, mắt sáng lấp lánh tính toán xem hôm nay đến bao nhiêu khách khứa, tối nay tiệc cưới lời lãi ra sao.

Tam ca đứng cuối cùng, mặc áo tím Thái Học Đại Học Sĩ, mũ ô sa cao, ngực đeo nửa cánh kẹp tóc bướm ngọc, cánh còn lại đêm nay đã ở trên tóc muội.

Tam ca nhìn muội trong kiệu hoa, hai mắt ướt như sương sớm chưa tan trên lá đào, môi mím lại rồi mở ra, giọng chàng khẽ như đèn dầu trước gió: “Cha ơi, mẹ ơi, muội của con về nhà rồi.”

Bàn dân trăm họ đứng dưới bậc thềm, nghe Thái Học Đại Học Sĩ danh trấn Kinh Sư vẫn xưng cha ơi mẹ ơi trước đám đông, có người ngơ ngác, có người rơi lệ, có người thì thầm bảo tam ca thật là có hiếu.

Có bà lão cầm nón cói lau khoé mắt bảo nhỏ với cháu gái đứng cạnh, người ta nói một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng Thái Học Đại Học Sĩ hôm nay bái cha bái mẹ vốn không phải máu ruột, càng khiến người ta rơi lệ.

Cha muội nghe câu tam ca, tay cha run mạnh hơn, cha vịn vào cột đá thêm một lát, rồi cha khẽ dạ một tiếng, âm thanh nhỏ mà cả ba dặm đường như đều nghe thấy.

Bùi Cẩn Nguyên bước ra từ cửa vương phủ, chàng đội mũ Thế tử, áo đỏ thêu vân long, cả người chàng thẳng như một cây tùng non giữa vườn ngự uyển sáng xuân.

Chàng dừng lại trước kiệu hoa, chàng cúi mình xuống vái cha muội một cái thật sâu, rồi vái mẹ muội một cái, rồi vái ba huynh muội mỗi người một cái, thẳng lưng và trầm giọng.

Chàng nói với cha muội: “Cha, hôm nay Cẩn Nguyên đón Kiều Kiều nhi về nhà, tám năm nay đi lại thôn Đào Khê, cha thương con như con ruột, hôm nay con xin nhận cha lần cuối trước khi cha giao Kiều Kiều nhi vào tay con.”

Cha muội mở miệng, muốn nói gì đó, nước mắt lại rơi, cha chỉ khẽ vẫy tay, giọng cha rung như đèn dầu trước gió xuân: “Cẩn Nguyên nhi, Kiều Kiều nhi… Kiều Kiều nhi từ nay là người của con… con thương nó, thương thay cả phần cha nữa.”

Chàng gật đầu, chàng vén rèm kiệu, chàng đưa tay ra đón muội xuống bậc kiệu đỏ.

Muội đặt bàn tay nhỏ vào tay chàng, tay chàng ấm, chàng cầm cây nến trầm hương cho muội, chàng khẽ nhìn muội qua khăn voan đỏ, giọng chàng khe khẽ như đêm đầu tiên gặp muội ở ngõ nghèo Đào Khê: “Kiều Kiều nhi, tám năm rồi, muội vẫn thơm mùi trầm ấy.”

Muội cười trong khăn voan đỏ, muội bảo nhỏ: “Đại ca, ta đợi đại ca cưới ta bằng một cây nến trầm chứ không phải bó mẫu đơn, đại ca cũng biết ta thật đấy.”

Chàng cũng cười, chàng dắt muội bước lên bậc thềm vương phủ, tám năm chàng vào Đào Khê tìm dấu, hôm nay chàng dắt muội về Kinh Sư, mỗi bước đều đứng vững như đất dưới chân cày.

Lễ bái đường diễn ra trong khói trầm mờ mờ, bái thiên địa, bái cha mẹ Thế tử ngồi trên chính điện, quay lại bái cha mẹ muội và ba huynh muội đứng bên trái, người quan tám năm trước chưa từng nghĩ mình có ngày được ngồi ghế cao trong Tấn vương phủ nhận lễ tân lang tân nương.

Cha muội ngồi trên ghế đỏ, tay vẫn nắm chặt vạt áo bố, cha khe khẽ đáp cha nhận bằng giọng run run, mẹ muội gật đầu, mắt mẹ ướt như hạt mưa xuân đọng trên lá non.

Đại ca đứng bên cha, ngực đưa ra, cố cứng như đá tảng, mà mắt vẫn hơi đỏ.

Nhị ca đứng cạnh, tay không giữ được cuộn sổ, khoé môi cong lên nụ cười ranh mãnh quen thuộc: “Muội à, sau này về Đào Khê chơi nhớ mang cho nhị ca hai hũ trà Kinh Sư, mà nhớ chọn hạng nhất, hạng nhì nhị ca không nhận.”

Muội bật cười khe khẽ trong khăn voan, người ta bảo gừng càng già càng cay, nhị ca mới hai mươi mà đã cay xé lưỡi rồi.

Tam ca đứng cuối, khoé miệng chàng vốn thường mím lại vì đọc quá nhiều sách, hôm nay lại cong lên một cái cười mèo con hồi Đào Khê, chàng nghiêng người khẽ dặn muội: “Kiều Kiều nhi, đêm nay muội thắp nến trầm, nhớ mở cửa sổ một chút, tam ca có việc muốn nói với muội.”

Muội gật đầu qua khăn voan đỏ.

Tiệc cưới rộn rã đến canh ba, khách khứa dần tan, đèn lồng đỏ vẫn còn giăng khắp phủ, khói trầm hương thoảng khắp hành lang gạch xanh.

Cha muội và mẹ muội được thị nữ dẫn về phòng khách đặt bên đông viện, cha đứng trước cửa cứ mãi ngoái nhìn theo phòng tân hôn của muội, mẹ khẽ kéo tay cha, mẹ bảo cha đi ngủ đi, Kiều Kiều nhi từ nay đã có Cẩn Nguyên nhi.

Cha gật gật đầu, đi được vài bước, cha lại quay lại nhìn thêm một lần, giọng cha khe khẽ với mẹ: “Bà nó, tôi hồi ở Đào Khê thắp cho Kiều Kiều nhi một cây đèn dầu bé xíu, tôi chưa từng dám mơ đến ngày muội thắp nến trầm hương trong phòng của Thế tử.”

Mẹ vỗ nhẹ lưng cha, mẹ bảo ông đừng khóc, tối tân hôn của con gái mà cha nó khóc thì con nó cũng khóc theo.

Muội đứng trong hành lang nghe được, muội quay mặt vào tường, mím môi cười một cái, nước mắt tự nhiên chảy xuống hai bên má, hai giọt trong veo như sương sớm rơi trên hoa lê.

Muội được thị nữ dẫn về phòng tân hôn, phòng bày biện đỏ rực từ tường tới rèm, gối uyên ương thêu chỉ vàng, chăn bông mới đỏ thẫm như hoa lê đỏ nở đầy giường.

Trên án gỗ đàn hương giữa phòng, đặt một cây nến trầm hương chưa thắp lửa, cạnh nến có một cái tráp gỗ khảm trai bé xíu, chính là tráp cha muội đóng cho muội đêm hôm mưa dột năm nào.

Muội tháo khăn voan đỏ, muội đi tới bên án gỗ, muội tự tay châm lửa cây nến trầm hương, ngọn lửa vàng nhỏ khẽ rung lên, mùi trầm ấm bung ra khắp phòng như một hơi thở nhẹ.

Cây nến sáp trắng ngà, lõi bấc mảnh, thân nến khắc một cánh bướm nhỏ, mùi trầm ấm mà dịu, ngửi vào lòng như có ai đắp chăn bông cũ lên vai.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Muội nhắm mắt hít một hơi, mùi trầm cuộn vào lồng ngực, ấm áp không khác gì mùi đèn dầu trong túp lều dột ngày đầu muội xuyên vào thân xác này.

Tám năm trước, đêm đầu tiên ở Đào Khê, muội nằm co ro trong tấm chăn bông cũ của mẹ, ngoài trời mưa dột nhỏ từng giọt xuống chân giường, cha thắp cho muội một cây đèn dầu bé xíu, cha bảo Kiều Kiều nhi đừng sợ.

Đêm đó muội đã khóc trong lòng, ta hai mươi lăm năm cô độc kiếp trước, chưa từng có ai thắp đèn dầu cho ta, chưa từng có ai gọi ta là Kiều Kiều nhi.

Hôm nay ta ngồi trong phòng tân hôn Tấn vương phủ, cây nến trầm hương giá năm mươi lượng bạc, ngọn lửa cũng chỉ ấm bằng đêm đèn dầu đó, mà lòng ta thì đầy hơn cả một bát cơm nếp gạo mới.

Có tiếng bước chân ngoài hành lang, muội quay lại, Bùi Cẩn Nguyên đã đứng ở cửa phòng, chàng đã tháo mũ Thế tử, chỉ còn áo đỏ trong bằng lụa mỏng.

Chàng bước vào phòng, chàng khép cửa, chàng đi tới bên án gỗ ngồi xuống cạnh muội, chàng nhìn ngọn nến trầm hương, mắt chàng sáng lên như đêm đầu tiên chàng đến ngõ nghèo Đào Khê hỏi muội có bán nến trầm không.

Chàng nói: “Kiều Kiều nhi, tám năm trước ta lần theo mùi trầm này tới Đào Khê, ta cứ tưởng ta tìm dấu vết cha nuôi ta, cuối cùng ta tìm được muội.”

Muội nghiêng đầu vào vai chàng, muội thở nhẹ ra một tiếng, muội bảo: “Đại ca, kiếp trước ta cô độc hai mươi lăm năm, kiếp này ta đổi được cả một trời sao ấm, ta nghĩ ông trời cũng có lúc công bằng với con nhà nghèo.”

Chàng cười, chàng đưa tay chạm vào một cánh kẹp tóc bướm ngọc trên tóc muội, cánh bên trái, ngọc lam xanh biếc, khảm trai lấp lánh dưới ánh nến.

Chàng nói: “Đôi kẹp tóc Song Điệp này, một cánh trong hộp gỗ khảm trai của muội, một cánh trên ngực áo tam ca, tám năm nay chúng ta ghép được đủ đôi, tam ca đỗ trạng nguyên rồi nhận thân, giờ ngồi ghế Thái Học Đại Học Sĩ.”

Muội gật đầu, muội bảo: “Ta biết, chuyện đánh tráo ở Trấn phủ mười bốn năm trước cuối cùng cũng ra ánh sáng, tam ca vẫn là tam ca của muội, chỉ là thêm được một thân phận trên đầu.”

Chàng nhìn muội, chàng ngập ngừng một chút, chàng bảo: “Kiều Kiều nhi, tam ca hồi tiệc cưới có dặn muội đêm nay mở cửa sổ đúng không?”

Muội gật đầu, muội đứng lên đi tới bên cửa sổ, muội đẩy nhẹ một cánh, gió xuân đêm Kinh Sư bay vào lòng phòng, mang theo hương hoa lê trong sân sau.

Chàng đứng dậy bước tới sau lưng muội, chàng khoác cho muội một tấm áo ngoài, chàng ngập ngừng nói: “Kiều Kiều nhi, tam ca mấy hôm trước tìm được manh mối mới, phu nhân Trấn phủ năm xưa hình như không chỉ đánh tráo tam ca, hình như còn có một đứa nữa.”

Muội quay đầu ngạc nhiên, muội hỏi: “Còn một đứa nữa?”

Chàng khẽ gật, chàng bảo: “Một tỷ tỷ ruột của tam ca, hồi ấy bị mang xuống phương nam, hình như đang lưu lạc đâu đó vùng sông nước Giang Nam, tam ca đang cho người đi tìm.”

Muội nghe câu đó, lòng bỗng chùng xuống, muội thầm nghĩ Song Điệp trong hộp gỗ khảm trai của muội, kẹp tóc bướm ngọc trong tay tam ca, đã ghép đủ đôi, sao còn có một cánh bướm nào nằm rải rác ở phương nam?

Muội định hỏi thêm, gió xuân bỗng thổi mạnh một cái, cửa sổ mở rộng hơn, có tiếng cạch khe khẽ vang lên bậu cửa gỗ sơn son.

Muội và chàng cùng nhìn xuống bậu cửa.

Trên bậu cửa gỗ sơn son, một cánh bướm ngọc thứ ba nằm im lìm, cũng khảm ngọc lam xanh biếc, cũng lấp lánh dưới ánh nến trầm hương, hình dáng cánh giống hệt Song Điệp muội đang cài trên tóc.

Cánh bướm nhỏ, không biết ai đã đặt vào cửa sổ, không biết đã đợi trên bậu cửa từ bao giờ, gió xuân nhẹ thổi qua, cánh ngọc khẽ rung lên như một hơi thở lạ.

Muội đưa tay run run cầm cánh bướm lên, muội áp vào ngực, muội ngước nhìn chàng, muội bảo khe khẽ: “Đại ca, muội và tam ca đã ghép được Song Điệp, sao lại có cánh thứ ba giống hệt?”

Chàng lặng im, chàng đưa tay ôm muội vào lòng, chàng nhìn ra ngoài cửa sổ, phía phương nam đêm xuân, sương sớm còn dày, hình như trong lớp sương ấy, còn một câu chuyện chưa được kể trọn.

Ngọn nến trầm hương trên án gỗ cháy khẽ, khói mỏng bay lên, lượn qua bậu cửa, quấn lấy cánh bướm ngọc thứ ba, rồi tan vào đêm xuân Kinh Sư ấm áp mà mênh mông.

Ngoài kia, gió xuân vẫn thổi, hoa lê trong sân vương phủ khẽ rơi từng cánh trắng xuống nền gạch xanh, phương nam sương sớm còn dày lắm.