Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 19: Cha Mẹ Vẫn Là Cha Mẹ
Mùa xuân năm sau, hoa lê ở vườn sau nhà lại nở đầy như một trận tuyết muộn, cánh trắng lơ thơ rơi xuống mái nhà tranh mới lợp lại, phủ trắng cả bậc thềm gạch mẻ. Muội đứng ở đầu ngõ, tay níu vạt áo mẹ, nhìn tam ca khoác túi vải màu lam nhạt cưỡi lừa lên trấn Thanh Châu chuẩn bị lên Kinh Sư dự Hội thí.
Tam ca năm nay đã mười lăm, dáng cao gầy, khoé mắt lặng như mặt suối đào lúc sáng chưa có ai xuống múc nước. Trên cổ tam ca vẫn đeo cái túi vải ba lớp mẹ khâu cho từ hồi tam ca sáu tuổi, trong túi cánh phải bướm ngọc nằm im như một hạt sao đêm giấu vào lồng ngực. Muội biết, còn muội cũng biết chỉ có muội với tam ca cùng biết.
Cha nắm dây cương lừa, giọng run: “Tam ca nhớ cẩn thận, đường lên Kinh Sư dài, đến trạm dịch có cơm là ăn đừng nhịn, đường sá nguy hiểm phải đi theo đoàn.”
Mẹ mấy hôm nay khóc nhiều đến sưng cả mí mắt, tay mẹ run run đưa cho tam ca một hộp cơm nắm bọc lá chuối, bên trong có một cục đường phèn to bằng ngón chân cái muội bảo cha mua từ tiền bán nến trầm hương phiên chợ trước: “Tam ca đói giữa đường, cắn một miếng đường phèn cho ngọt miệng đỡ mệt. Mẹ đợi tam ca về, mẹ nấu nồi chè đường phèn to nhất từ trước tới giờ.”
Tam ca cúi xuống, ánh mắt lướt qua muội, nán lại đúng một cái chớp mắt rồi ngoảnh đi. Muội hiểu, kiếp này ta với tam ca đã có một bí mật chung, một bí mật ngọt như đường phèn ngậm dưới lưỡi, không dám nuốt cũng không nỡ nhả.
“Muội nhi.” Tam ca gọi khẽ, mấy chữ chỉ đủ hai anh em nghe. “Muội ở nhà giúp tam ca trông cha mẹ. Đèn dầu nhà mình mà tắt đêm nào là tam ca không đi ngủ được đâu.”
Muội gật đầu, cố nhoẻn cười cho ra vẻ đứa em bảy tuổi. Tam ca xoa đầu muội một cái, bàn tay tam ca gầy nhưng ấm như tay công tử đọc sách, ngón dài như tay tam ca thật ra chưa bao giờ giống tay nông dân ba đời nhà Trần. Ta thầm nhủ trong lòng: tam ca ơi, kiếp này ta không để tam ca phải bơ vơ một lần nữa.
Nhị ca vác túi vải phụ tam ca cột lên yên lừa. Đại ca đứng cạnh cha, mắt đại ca cũng đỏ hoe, đại ca cả đời không hay nói câu tình cảm, chỉ đưa cho tam ca một chiếc gậy tre bằng cỡ cổ tay, gậy đã được đại ca vót nhẵn, đầu gậy có buộc một dây gai bền chắc: “Đi đường xa, nếu gặp chó rừng thì gõ hai cái xuống đất, chó lui liền. Tam ca đọc sách khỏi lo mấy chuyện lặt vặt, chuyện đánh nhau để đại ca dặn muội.”
Tam ca cầm cây gậy tre, cười khẽ như một tiếng nến nứt trong đêm sương: “Đại ca, tam ca biết tam ca không đánh nhau bằng đại ca. Nhưng tam ca hứa, tam ca sẽ về ngồi bàn tre cùng đại ca uống một chén trà lá vườn.”
Câu ấy giữ trong lồng ngực muội cả tháng sau, mỗi lần muội nhớ tam ca là muội lại nhớ tới cái cách tam ca cười khẽ như cánh bướm nhỏ đậu lên hoa lê, đậu một tí rồi bay đi.
Một tháng ròng cả nhà đếm từng ngày. Muội ngồi trong không gian tâm linh, tay khắc thêm mấy cái kẹp bướm ngọc nhỏ để giết thời gian, mà đầu óc lại cứ nghĩ tới hình dáng tam ca ngồi ở kỳ đài Kinh Sư viết bài thi. Trong lòng ta chợt hiểu tại sao mẹ hay ngồi bên bếp thẫn thờ nhìn khói lam, hoá ra đợi con là một loại đau ngọt, đau đến độ ngồi đâu cũng thấy trống một chỗ.
Rồi đến một buổi trưa cuối tháng ba, sương xuống lất phất trên mái nhà tranh mới lợp, khói bếp mẹ nấu cháo bay lên xoắn thành sợi mỏng, cả thôn Đào Khê bỗng nghe tiếng vó ngựa vang lên đầu ngõ. Không phải một con ngựa, mà cả mười mấy con. Bụi đường tung mù cả rặng tre.
Bà hàng xóm bỏ rổ khoai chạy vào sân la lên: “Nhà Trần ơi, có sứ giả áo tím tới đầu ngõ rồi, cầm cả biển vàng!”
Cha đang ngồi vá lại cái quang gánh, buông cái đục xuống chân, đứng bật dậy hai chân run như đèn dầu gặp gió lùa. Mẹ đang chan cháo, cầm cái muôi tre trên tay quên đặt xuống, cứ thế chạy ra sân, cả người mẹ run bần bật.
Muội đứng cạnh cửa bếp, tim đập thình thịch. Ta của kiếp trước hai mươi lăm năm chưa từng gặp sứ giả áo tím, nhưng ta biết áo tím là áo của Hàn Lâm viện, dưới thời Đại Ninh chỉ dùng khi báo tin trạng nguyên trở về quê hoặc khi vua ban chỉ trực tiếp cho một nhà.
Sứ giả xuống ngựa, bốn viên tùy tùng bưng bốn cái biển gỗ khảm vàng, khảm bạc, khảm ngọc lam. Sứ giả cúi mình trước cha, giọng vang như chuông đồng ngân trong sương sớm: “Trần lão gia, hạ quan phụng chỉ báo tin, quý tử thứ ba Trần Thanh Vân, đỗ Trạng Nguyên toàn triều khoa xuân nay, được hoàng thượng đích thân xuống điện đón vào cung ban yến ba đêm liền, phong Hàn Lâm viện Tu soạn, tước Nhị phẩm.”
Cha đứng lặng ba nhịp thở, đôi tay chai đen của cha run bần bật, mấy giọt nước mắt lăn xuống hai bên má cha, chảy vào vết chân chim nứt như đất ruộng cạn nước tháng bảy. Cha đứng không vững, phải chống một tay lên vách tre. Ta trong lòng ta cũng ứa nước mắt, kiếp này ta hiểu, khi vui đến tột đỉnh người ta cũng khóc, khóc như trẻ con bị mắng oan mà không giận.
Mẹ ngã phịch xuống thềm gạch mẻ, cái muôi tre rơi lăn lóc trên sân, mẹ ôm ngực khóc oà lên như một đứa trẻ mất mẹ. Muội cuống cuồng chạy tới, đỡ vai mẹ, vỗ vỗ lưng: “Mẹ ơi mẹ ơi, mẹ đừng khóc, tam ca đỗ trạng nguyên là chuyện vui, cả nhà ta phải cười một cái để tam ca ở xa vía chàng vui theo.”
Mẹ vừa khóc vừa cười, ôm chặt muội trong lòng, mùi mồ hôi mẹ ấm như đèn dầu ba năm trước ta lần đầu tỉnh dậy trong túp lều dột. Ta nghĩ, hai mươi lăm năm kiếp trước ta chưa từng có ai ôm ta khóc vì vui thế này, ta nợ kiếp này một câu tạ ơn trời đất.
Đại ca đứng cạnh cha, mắt đỏ hoe, tay đại ca to bè chai sạm siết lấy vai cha đỡ cha đứng cho vững. Nhị ca đứng bên chỉ khịt mũi, cắn môi cố giữ không khóc theo, mà nước mắt cứ rớt xuống áo vá. Cả nhà đứng thành một vòng, ôm nhau mà khóc mà cười, sứ giả áo tím cũng bùi ngùi quay đi, cầm biển vàng cho tùy tùng đặt vào giữa sân.
Tối hôm ấy, sứ giả nghỉ lại trấn Thanh Châu, cả thôn Đào Khê đến chúc mừng, tiếng cười tiếng nói vang trong sân từ chập tối đến canh hai. Mẹ nấu một nồi cháo đường phèn to nhất từ trước tới nay, chan cho cả thôn mỗi người một chén, nhà nào cũng khen mẹ mát tay. Muội ngồi trong lòng cha, nghe cha cười ha hả với ông bác Ba mà lòng muội yên như con mèo con ngủ trên chăn bông.
Đêm ấy trong không gian tâm linh, muội mở hộp gỗ khảm trai. Cánh trái bướm ngọc vẫn nằm im trên vải lụa đỏ bợt, bên cạnh là phong thư niêm son phu nhân Trấn phủ gửi tam ca. Muội đưa tay chạm cánh trái, thầm nói: mẹ ruột tam ca ơi, tam ca đã đỗ trạng nguyên rồi, mẹ ở dưới suối vàng chắc cũng cười được rồi.
Sáng hôm sau, sứ giả áo tím ghé lại lần nữa, mang theo một bức thư tay do đích thân tam ca viết. Cha run tay mở thư, không dám mở, cuối cùng đưa cho muội: “Kiều Kiều nhi, muội đọc cho cha nghe. Cha đọc chậm sợ tam ca chờ.”
Ta cầm thư, giấy hoa vàng ấm hắt lên đầu ngón tay như một cánh hoa cúc mùa thu. Chữ tam ca đẹp, nét mực đen như son mài, ngòi thẳng như thân trúc mọc bên suối. Muội đọc từng chữ chậm rãi, cả nhà ngồi vòng quanh nghe chăm chú như trẻ con nghe bà kể chuyện.
“Cha kính mến, mẹ kính mến, đại ca nhị ca, muội nhi.
Con đã đỗ Trạng Nguyên. Đêm nhận yến ở điện Thái Hoà, con quỳ trước hoàng thượng, hoàng thượng hỏi con quê ở đâu, cha mẹ con là ai. Con thưa, cha con là Trần lão bá, mẹ con là Lâm thị, quê ở thôn Đào Khê ven suối đào, con có đại ca Trần Đại Sơn, nhị ca Trần Nhị Lâm, muội nhi Trần Kiều Kiều. Hoàng thượng cười lớn, ban cho con hai chữ Trung Hiếu treo trước cửa nhà.
Con xin cha mẹ cùng đại ca nhị ca muội nhi lên Kinh Sư nghỉ ngơi hai tháng. Con đã xin hoàng thượng ban cho cha mẹ mỗi người một tấm áo lụa gấm, một cỗ xe ngựa tốt sẽ tới đón cả nhà. Đường xa nhưng có tùy tùng hộ tống, cha mẹ khỏi lo.
Con còn một chuyện muốn thưa với cha mẹ. Chuyện dài lắm, con xin đợi cha mẹ lên Kinh Sư nghỉ ngơi ba hôm, ăn được vài bữa cơm ngon, ngủ được vài giấc êm, con mới dám thưa. Trước bàn dân bá quan, con vẫn xưng cha là cha, mẹ là mẹ, đại ca là đại ca, muội nhi là muội nhi. Muôn đời cha mẹ vẫn là cha mẹ. Con là Trần Thanh Vân của Đào Khê, không đổi.
Con của cha mẹ,
Thanh Vân.”
Muội đọc xong, cả nhà im lặng một lát. Cha thò tay lau nước mắt, tay cha run: “Tam ca nhà mình… đúng là ăn học tới nơi tới chốn rồi, viết thư mà chữ chữ đều làm cha ứa nước mắt.”
Mẹ cầm bức thư áp vào ngực, mãi mới ngẩng lên nhìn muội: “Kiều Kiều nhi, muội nghĩ tam ca viết chuyện dài kia là chuyện gì. Sao tự dưng tam ca lại nói câu muôn đời cha mẹ vẫn là cha mẹ. Mẹ nghe câu ấy tự dưng thấy đau nhói giữa ngực.”
Ta trong lòng ta cắn nhẹ đầu lưỡi. Mẹ tinh lắm, mẹ mười bốn năm trước đã cất giữ bí mật này trong lòng, giờ chỉ một chữ tam ca đặt vào đúng chỗ là mẹ bắt được ngay. Muội nắm tay mẹ, giọng chậm rãi như đếm hạt gạo trong lu: “Mẹ ơi, chắc tam ca xa nhà nhớ mẹ, tam ca viết cho ấm bụng, mẹ đừng nghĩ nhiều. Lên Kinh Sư gặp tam ca mẹ hỏi trực tiếp, tam ca kể mẹ nghe hết, mẹ nhé.”
Mẹ gật đầu, thở dài rất khẽ, mà bàn tay mẹ nắm chặt cái thư như nắm cả một mái nhà không muốn ai lấy đi.
Ba ngày sau, đúng giờ Tị, ngoài đầu ngõ Đào Khê lại vang tiếng vó ngựa, lần này không phải sứ giả áo tím mà là bốn cỗ xe ngựa đen chạm bạc, mỗi cỗ đều có hai bên tùy tùng mặc thường phục nhưng đao dấu trong ống trúc. Người xuống xe đi đầu, khoác áo lụa trắng như tuyết đầu mùa, dáng cao gầy, mắt đen thẳm sáng như sao đêm mùa hạ, là Bùi công tử.
Cha chạy ra đón, cuống quýt mời trà lá vườn. Muội đứng nép sau cha, tim đập loạn xạ, ta trong lòng ta thầm nghĩ: Bùi công tử tự dưng lại đến đón, chàng phải chăng có chuyện khác muốn nói.
Bùi công tử không vào nhà, chỉ đứng giữa sân gạch mẻ, cúi mình rất chậm rất sâu trước cha mẹ muội. Chàng cởi mũ vải lụa, để lộ mái tóc đen buộc gọn bằng một sợi ngọc trắng chạm khắc hình rồng năm móng.
Cả sân im phăng phắc.
Bùi công tử ngẩng lên, giọng chàng thấp mà chắc như tiếng chuông chiều đổ trong sương: “Trần lão gia, Trần phu nhân, tại hạ xin cúi đầu tạ tội. Nửa năm nay tại hạ đến Đào Khê không đơn thuần là công tử nhà buôn hương liệu Kinh Sư. Tại hạ tên thật là Bùi Cẩn Nguyên, là Thế tử Tấn vương phủ Kinh Sư, phụng mật chỉ hoàng thượng xuống đây truy tra vụ án hoả hoạn Trấn phủ mười bốn năm trước. Tại hạ đã lừa cả nhà nửa năm, tại hạ đáng phải chịu tội.”
Cha muội đứng tại chỗ, hai tay đưa lên đưa xuống không biết đặt vào đâu, cuối cùng chà chà lên vạt áo bố cũ, giọng cha lắp bắp: “Thế… Thế tử… thế tử nhà chúng tôi nghèo chỉ có mấy cái ghế đẩu tre, thế tử ngồi tạm…”
Mẹ đứng cạnh cha, tay mẹ run run níu vạt áo cha, mắt mẹ đảo qua đảo lại từ Bùi công tử đến muội đến cha, cuối cùng đổ sụp xuống mà khóc: “Ông trời ơi… nhà mình nuôi thế tử vương phủ nửa năm, cho ngồi ghế đẩu tre, chan cháo cám bằng bát sứ mẻ…”
Ta trong lòng ta than thầm: nâng như nâng trứng cả nhà, cả nhà cứ tưởng bình yên, hoá ra tam ca lẫn Bùi công tử đều có thân phận nặng. Ta của hai mươi lăm năm kiếp trước ngồi trong cô nhi viện chưa từng dám mơ gặp một Thế tử vương phủ, kiếp này ta gặp hai người thân phận nặng cùng lúc, hoá ra là phúc hay là hoạ ta cũng không dám đoán.
Bùi công tử nghe mẹ khóc, mắt chàng cũng ửng đỏ, chàng quỳ xuống một chân trên sân gạch mẻ, ngẩng đầu nhìn cha mẹ muội, giọng chàng dịu như trà ấm rót đầy chén sứ: “Cha mẹ đừng khóc. Nửa năm ở Đào Khê, tại hạ được uống trà lá vườn của cha, được ăn cháo cám của mẹ, được ngồi ghế đẩu tre nghe cả nhà cười. Đó là nửa năm đẹp nhất của tại hạ. Ở vương phủ Kinh Sư, tại hạ ăn yến sào tổ chim bao năm cũng không ngọt bằng chén cháo đường phèn mẹ nấu ngày phiên chợ đầu.”
Cả nhà nghe câu ấy đều rơi nước mắt. Muội đứng cạnh mẹ, tay khẽ vịn vai mẹ, mà tim ta đập thình thịch. Chàng còn quỳ chưa dậy, chắc còn chuyện khác chưa nói ra.
Quả nhiên, Bùi công tử vẫn giữ tư thế quỳ, ngẩng đầu nhìn thẳng cha muội, giọng chậm rãi mà quyết: “Trần lão gia, Trần phu nhân. Tại hạ hôm nay đến đây, còn một chuyện quan trọng muốn xin cha mẹ. Kiều Kiều muội nhi trí tuệ, tay chế nến trầm hương và kẹp bướm ngọc, tâm hồn muội nhi trong sạch như một tấm ngọc trắng chưa vấy bụi. Tại hạ đã dâng tấu lên hoàng thượng, xin hoàng thượng chấp thuận cho tại hạ được cưới Kiều Kiều muội nhi làm Thế tử phi Tấn vương phủ.”
Cha đứng lặng, tay chân cha đờ ra như cột đình mùa đông. Mẹ khóc thành tiếng, tay bíu lấy vai cha không chịu buông. Đại ca đứng nắm chặt hai bàn tay, mắt đại ca sắc như dao vót tre, đại ca nhìn Bùi công tử đăm đăm không nói.
Bùi công tử vẫn quỳ, giọng chàng vẫn dịu mà chắc: “Muội nhi mới bảy tuổi, tại hạ biết tuổi còn nhỏ. Tại hạ xin cha mẹ cho phép đính ước, đợi muội nhi tròn mười lăm tuổi, tại hạ mới mang lễ vật đón muội nhi về vương phủ. Trong những năm ấy, muội nhi vẫn ở với cha mẹ, tại hạ không dám nôn nóng. Nếu sau này muội nhi đổi ý, tại hạ chấp nhận trả lễ, không ép muội nhi một chữ.”
Muội đứng cạnh mẹ, ta trong lòng ta bối rối. Kiếp trước ta hai mươi lăm năm cô độc, chưa từng có ai xin ta một lời hứa hôn nhân. Kiếp này ta bảy tuổi, ta chưa biết yêu đương là gì, ta chỉ biết chàng là người nửa năm trước cầm cây nến trầm hương đầu tay ta lên ngửi, đôi mắt chàng nhìn ta sáng như sao qua giếng nước. Ta biết chàng là người tốt, biết chàng thương ta thật lòng, biết chàng không phải hạng người ép uổng ai bao giờ.
Cha muội run tay chưa dám gật, cha đưa tay ra sau xoa xoa gáy, mấy sợi tóc bạc lấm tấm rung theo. Cha nhìn muội, đôi mắt cha rưng rưng: “Kiều Kiều nhi, muội của cha… muội muốn thế nào.”
Muội bước lên hai bước, đứng trước Bùi công tử, hai tay muội chắp lại như một bé gái tập lễ. Muội cắn môi, ngẩng lên nhìn cha, giọng non nớt mà rành rọt: “Cha ơi mẹ ơi, muội xin gả cho Bùi công tử. Nhưng muội có một điều xin cha mẹ đồng ý trước.”
Cả sân lại lặng đi. Bùi công tử ngước lên nhìn muội, ánh mắt chàng dịu như đèn dầu vặn nhỏ. Chàng gật đầu khẽ: “Muội nhi nói. Ta nghe.”
Muội hít một hơi, giọng chậm rãi: “Muội xin cả nhà cùng lên Kinh Sư. Không phải chỉ nghỉ ngơi hai tháng rồi về Đào Khê. Cả nhà cùng ở Kinh Sư. Tam ca đã ở Kinh Sư, muội gả về Tấn vương phủ, chỉ còn cha mẹ với đại ca nhị ca ở Đào Khê là muội không yên. Cha mẹ vẫn là cha mẹ của muội, đại ca nhị ca vẫn là đại ca nhị ca của muội, dù muội có gả về vương phủ đi nữa. Ăn cây nào rào cây ấy, muội gả về vương phủ nhưng vẫn phải rào cây Trần gia đầu tiên.”
Ta lấy hơi, nhìn thẳng Bùi công tử: “Chàng nếu đồng ý muội gả, chàng phải đồng ý luôn cha mẹ, đại ca, nhị ca của muội đều ở Kinh Sư. Muội không rời cha mẹ được. Từ nay đến chết, cha mẹ vẫn là cha mẹ.”
Bùi công tử nhìn muội chăm chú ba nhịp thở, rồi nở nụ cười, nụ cười đầu tiên chàng nở kể từ khi bước vào sân. Nụ cười ấy ấm như đèn dầu leo lét đêm sương xuống, dịu như tách trà lá vườn mẹ pha sáng nào cũng có. Chàng cúi đầu, giọng chàng chắc như đá dưới lòng suối: “Muội nhi, ta hứa. Cả nhà lên Kinh Sư, cha mẹ vẫn là cha mẹ. Tấn vương phủ có nhà khách riêng, cha mẹ ở nhà khách, ngày ngày đại ca nhị ca ra vào ăn cơm, muội nhi qua chào cha mẹ sớm chiều. Không đổi.”
Mẹ nghe câu ấy, khóc oà lên, ôm muội vào lòng, mà mẹ vẫn còn khóc: “Kiều Kiều nhi… muội gả về vương phủ, mẹ chỉ mong muội đừng bị ai bắt nạt, mẹ với cha ở đâu chả được, miễn muội yên là mẹ yên…”
Muội vịn mặt mẹ, lau nước mắt cho mẹ, ta thầm nói: mẹ ơi, kiếp này ta gả về vương phủ mà không có mẹ ở gần, ta gả làm gì. Ta hai mươi lăm năm kiếp trước không có mẹ, kiếp này có mẹ mà mất mẹ nữa, ta thà không gả.
Cha muội thở dài một cái rất dài, cuối cùng gật đầu, giọng cha khàn: “Thế tử… Bùi công tử, tại hạ nhà nghèo, con gái tại hạ mới bảy tuổi, gả về vương phủ là gánh nặng cho công tử. Nhưng nếu công tử đã hứa cả nhà cùng ở Kinh Sư, tại hạ xin đồng ý. Kiều Kiều nhi mà đổi ý, xin công tử nhớ lời hôm nay.”
Bùi công tử đứng dậy, cúi đầu chắp tay trước cha muội: “Tại hạ nhớ. Đời này không đổi.”
Ba ngày sau, cả nhà thu xếp lên đường. Nhà tranh, chum nước, lu gạo, cối xay lúa nhờ bà hàng xóm trông giúp, cha mẹ dặn kỹ, hứa mấy tháng nữa về sẽ mang biếu bà hai lượng bạc. Bùi công tử đã sai người dựng lại nhà, thay mái ngói mới, đóng lại cửa gỗ, chỉ giữ nguyên cái bàn tre gãy chân mẹ kê bằng viên gạch mẻ, vì mẹ nói bàn ấy có kỷ niệm.
Xe ngựa lên đường vào một sáng sớm sương xuống đầy vườn hoa lê. Muội ngồi trong xe cạnh cha, mẹ ngồi đối diện với đại ca nhị ca. Bùi công tử cưỡi ngựa đi trước, tuỳ tùng theo hai bên. Cả đoàn xe kéo dài, đi qua đầu ngõ Đào Khê, cả thôn ra tiễn, ai cũng khóc, bà hàng xóm khóc to nhất, dặn cha mẹ nhớ về ăn Tết ở Đào Khê.
Trên xe, cha muội nắm chặt tay muội trong lòng bàn tay chai sạm, mắt cha ngân ngấn nước, giọng cha run run như đèn dầu trước gió: “Kiều Kiều nhi, kiếp này cha nuôi được muội, là cha có phúc bảy đời. Không cần muội đền đáp cho cha một xu bạc nào. Muội mà sống vui trong vương phủ là cha đủ rồi. Muội mà mệt, muội mà buồn, muội cứ về nhà khách cha mẹ ngồi khóc một trận, cha vẫn có chăn bông cũ đắp cho muội.”
Muội úp mặt vào tay cha, nước mắt muội chảy xuống bàn tay chai đen của cha, ướt cả vết chân chim. Ta thầm nói: cha ơi, kiếp này con là con của cha, không phải Thế tử phi của Tấn vương phủ mới là con của cha. Muôn đời cha vẫn là cha, mẹ vẫn là mẹ. Con là muội nhi Trần Kiều Kiều, không đổi.
Xe ngựa chầm chậm lăn bánh, sương xuống lất phất ngoài cửa xe, hoa lê rụng đầy đường ra khỏi thôn, trắng lấm tấm như một trận tuyết muộn. Muội ngoảnh lại nhìn túp lều tranh cũ, mái ngói mới lợp còn nồng mùi rơm khô, cửa gỗ đóng kín chờ ngày cha mẹ về. Đầu ngõ có cây đào già bảy mươi tuổi, gốc đào là chỗ ta ngày đầu tỉnh dậy đã cảm nhận được khe cửa không gian tâm linh mở ra.
Cây đào ấy vẫy vẫy cành trong gió xuân, như tiễn muội đi, hẹn muội mấy mùa hoa lê nữa quay về. Ta trong lòng ta hứa: cây đào ơi, ta sẽ về. Kiếp này ta có cả cha mẹ có ba huynh trai có chàng, ta có tất cả, ta không quên cây đào cũ.
Xe lăn bánh được một đoạn, muội chợt thấy tam ca cưỡi ngựa ghé sát cửa xe, khẽ ghé tai muội thì thầm một câu khiến muội giật mình quay phắt lại nhìn huynh, nhưng tam ca chỉ mỉm cười, giục ngựa vượt lên trước, không nói thêm lời nào nữa.