Nữ Ngỗ Tác Đêm Khám Xác Thái Tử
Chương 3: Hộp Khảm Trai
Ta đóng cửa phòng khám. Ba người bên trong. Đèn dầu vặn thấp hơn.
Chốt cửa gỗ đưa vào rãnh, kêu một tiếng khô. Ta xoay lưng. Trầm trong lư vẫn đang cháy, khói mảnh bốc lên trần rồi tan. Mùi ngọt lạ chưa nhạt.
Ta nhìn Thái tử. Chàng mở mắt hai phần, chờ. Thuốc Giả Tử Đan chỉ cho chàng tỉnh táo bên trong; mỗi lần nói, cổ họng khàn đi thêm một bậc. Ta biết chàng không nói dài được. Câu hỏi ta để chàng sau. Trước hết, Lang Tứ.
Ta ngồi xuống ghế bên án, tay đặt trên đầu gối. Ép giọng nam trầm nửa cung xuống: “Lang hộ vệ. Chuyện hộp khảm trai điện hạ nhắc ban nãy. Nói.”
Lang Tứ đứng ở góc, tay vẫn chống chuôi kiếm. Hắn liếc Thái tử một lượt xin phép. Thái tử khẽ nhấc ngón trỏ hai phân trên phản. Đủ.
“Ba năm trước,” Lang Tứ mở lời, giọng cũng ép thấp cho lọt trong cửa gỗ, “điện hạ dọn lại cung của cựu hoàng hậu Lý nương nương. Trên ban thờ có một hộp trang sức khảm trai. Điện hạ giữ để giỗ mẹ. Đêm ấy, điện hạ vô ý xoay đế hộp, đế trượt. Ngăn kép lộ ra. Bên trong có một mảnh kim gãy, đầu kim còn đen thẫm mùi thuốc lạ.”
Ta ghi nhớ. Không cắt lời.
“Điện hạ mang mảnh kim ra ngoài thành. Có một ông thầy thuốc già ẩn cư ở núi Chung Nam, tên tuổi trước là ngự y triều Cao Tổ đầu, cáo bệnh về hai mươi năm nay. Điện hạ đến ba ngày liền, ông mới chịu ngửi. Ngửi xong ông đứng dậy đóng cửa. Nói ba câu.”
“Nói.”
“Câu một: kim này ngâm Tế Tâm Thảo. Câu hai: thuốc chỉ dòng Đường Tây Vực biết chế. Câu ba: cựu hoàng hậu Lý nương nương chết không phải cảm hàn.”
Ta khép mắt nửa nhịp. Ba câu ấy đủ cho một người bình thường mất ngủ nửa năm. Với một Thái tử hai mươi ba tuổi vừa mất mẹ bảy năm, đủ cho một quyết định điều tra ba năm không nghỉ.
“Sau đó?” Ta hỏi.
“Sau đó điện hạ tìm hạ quan. Vì hạ quan trước theo lệnh Kỷ Trọng Nghiêm đại nhân, được cha đại nhân dạy cách nhận kim châm chậm. Điện hạ biết hạ quan tin được. Ba năm điều tra ngầm, chín phần bằng chứng đã có. Thiếu một phần: kim còn nguyên với thuốc, chưa bay hơi.”
Kỷ Trọng Nghiêm. Ta ép mí không động. Tên cha ta bật ra khỏi miệng một cận vệ Đông cung mà cha ta chưa từng gặp lúc còn sống. Ba năm ta khoác áo bào lam, chưa ai gọi tên ấy trước mặt ta. Bây giờ, canh sửu cuối, trong một phòng đóng cửa cạnh xác Thái tử đang thở, tên cha ta được đọc như một dấu chấm mực đỏ vừa nhỏ xuống giấy dâu.
Kỳ lạ. Ta biết là kỳ lạ dù chưa gọi tên được.
“Hộp ấy,” ta nói, “đâu?”
Lang Tứ nhìn Thái tử lần nữa. Thái tử gật rất khẽ.
Hắn quay người, đi đến tủ gỗ tử đàn kê sát vách phía đông phòng. Tủ ba tầng, khóa đồng. Hắn rút chìa nhỏ từ đai lưng, mở tầng giữa. Bên trong lót vải lụa vàng cũ. Ở giữa lụa vàng là một hộp trang sức khảm trai, kích thước bằng lòng bàn tay chàng.
Hắn nâng hộp bằng cả hai tay. Đặt trên án trước mặt ta.
Ta không đưa tay ngay. Đưa đèn dầu xích lại nửa tấc. Nhìn.
Gỗ tử đàn tam sắc, đen ngoài, tím nâu giữa, ửng đỏ trong khe khoá. Mặt nắp khảm hoa mai bảy cánh bằng mảnh vỏ trai mỏng, viền chạy đường mây tinh xảo. Bảy cánh, không phải sáu. Bảy là dòng Lý ngoại thích, sáu là dòng Đường. Người khảm hộp ba mươi năm trước đã ngầm ghi lai lịch chủ nhân vào từng cánh mai. Cả một phe phái nằm trong lòng bàn tay chàng.
Ta chạm ngón trỏ vào nắp. Vỏ trai lạnh. Không lạnh như đá phản khám xác, lạnh kiểu vật cũ ngủ trong tủ gỗ ba năm không ai mở. Bên hông hộp có khoá đồng nhỏ, ổ tí hon bằng đầu ngón út.
Lang Tứ đưa chìa. Ta không nhận: “Điện hạ giữ chìa. Điện hạ mở.”
Chàng nhận chìa. Ngón tay vẫn còn hơi cứng vì thuốc, nhưng động tác mở khoá quen. Ba năm mỗi tháng chàng mở một lần thắp hương giỗ mẹ. Ta không nhìn mặt chàng lúc chàng xoay chìa. Ta nhìn ngón trỏ chàng. Ngón trỏ chàng biết cái ổ khoá này. Ngón trỏ chàng ba năm chờ đêm nay.
Nắp mở. Bên trong lụa hồng cũ đã sờn. Một sợi dây chuyền bạc đen, một đôi khuyên tai ngọc phỉ thúy, một cây trâm gãy đôi. Ta không đụng. Chỉ nhìn.
Thái tử: “Đế hộp. Trượt.”
Ta gật. Lấy hộp trên tay chàng. Đặt lên án. Xoay đế theo chiều kim đồng hồ hai phân. Đế trượt. Ngăn kép lộ ra.
Bên trong ngăn, trên một lớp lụa xám mỏng, một mảnh kim gãy dài bằng nửa đốt ngón út. Thân kim mảnh như sợi tóc. Đầu kim đen thẫm.
Bộ 2 hộp trang sức khảm trai
350.000đ
Xem chi tiết →Ta cầm mảnh kim lên bằng hai đầu ngón kẹp giấy dâu. Đưa lên đèn dầu. Chiếu chéo bốn mươi lăm độ giống lúc chiếu gáy Thái tử.
Cùng loại.
Ta biết ngay. Đường kính kim, độ mảnh, độ dài, cách vát đầu, màu đen phai của thuốc thấm vào kim thép. Cùng loại với dấu chấm sau gáy chàng cách đây một canh giờ.
Ngón trỏ ta khẽ run một cái. Không sợ. Là nhận ra.
Nhận ra không phải chỉ vì so mắt hai vật. Là nhận ra vì trong sách của cha ta có một trang vẽ hình kim này. Cha ta vẽ bằng bút mực đỏ, cạnh ghi kích thước “dài nửa đốt, mảnh sợi tóc, đầu vát ba mươi độ”. Ta đọc trang ấy lần đầu năm mười ba tuổi, một năm sau khi ông chết, khi ta lén giở “Tẩy Oan Tập Lục” bản chú tay ông cất trong rương lụa. Đọc lần đầu ta không hiểu. Đọc lần thứ mười ta hiểu chữ, chưa hiểu vì sao cha ta vẽ. Đêm nay lần thứ mười một. Ta hiểu vì sao.
Cha ta biết kim này trước khi ông chết. Ông vẽ để lại cho ta.
Ta không nói. Đặt mảnh kim gãy xuống lụa xám. Đẩy ngăn kép trở vào. Xoay đế ngược. Đóng nắp. Khoá lại. Đẩy hộp về phía Lang Tứ.
“Cất vào tủ. Đúng chỗ. Đúng cách.”
Lang Tứ nhận, không hỏi. Cất. Khoá. Ngồi lại chỗ cũ ở góc phòng.
Ta lấy trong bao vải bên chân ra cuốn sách bìa cứng bọc lụa xanh đã bạc. “Tẩy Oan Tập Lục”, bản chú tay cha. Ta không lật đến trang có hình kim. Trang ấy ta chưa muốn Thái tử thấy. Ta lật đến trang Tế Tâm Thảo, ở giữa sách. Chú lớn của cha viết bằng bút thô nét đứng: “Tế Tâm Thảo. Thảo dược cấm. Dòng Đường Tây Vực chế. Ngấm qua da, thấm vào máu, tê liệt tim mạch trong một canh giờ.”
Bên lề, chữ nhỏ hơn, cha viết bằng bút khác, mực đã ngả nâu: “Kèm Xuyên Thiên Hương Tây Vực khi hạ độc phòng kín. Che mùi thuốc trong ba khắc. Kẻ khám sau ba khắc không phân biệt được.”
Xuyên Thiên Hương.
Ta ngước mắt liếc lư trầm. Khói vẫn bốc mảnh. Ngọt.
Ta biết mùi ấy rồi. Không phải trầm nam ưu chất. Không phải trầm Trường An. Là Xuyên Thiên Hương dòng Đường Tây Vực nhập cống. Ai đặt trầm này trong phòng đêm Thái tử “đột tử” cùng lúc kim châm đâm sau gáy chàng thì người ấy đã tính từ trước cả việc dọn hiện trường sau khi giết.
Ta không nói với Thái tử. Chưa nói. Câu này để cho canh dần, khi ta khám kỹ hơn tìm dấu chấm thứ hai. Bây giờ ta cần biết một chuyện khác trước.
Ta gấp sách. Cẩn thận. Đặt sang bên trái án, gáy sách quay vào lòng ta.
Thái tử mở mắt hé lần thứ ba đêm nay. Giọng khàn hơn hai lần trước: “Đại nhân. Ngươi tin?”
Ta đáp không do dự: “Hạ quan tin dấu chấm sau gáy điện hạ và mảnh kim trong hộp cùng nguồn. Cùng loại kim, cùng thuốc. Chuyện Hoàng hậu là kẻ đâm, hạ quan tin điện hạ nói. Còn thiếu bằng chứng trực tiếp trước mặt nhân chứng. Đêm nay bà đến sẽ có.”
Chàng: “Vậy ngươi giúp?”
Ta ngừng một khắc. Không phải ta cần khắc ấy để nghĩ. Ta đã quyết từ lúc cầm mảnh kim gãy. Ta ngừng để nghe. Ngoài cửa có tiếng bước chân xa. Một thái giám đêm đi ngang hành lang, giày mềm quét gạch, không dừng. Xa dần.
Ta nhìn thẳng chàng. Câu ta hỏi tiếp không phải câu ngỗ tác hỏi Thái tử. Là câu Kỷ Vãn Chi hỏi Tiêu Chiêu Diễn. Ta biết. Ta hỏi được:
“Điện hạ chọn hạ quan vì hồ sơ ba năm sạch. Đó là lý do duy nhất?”
Chàng im.
Ta không thúc. Ba năm ta khám xác đã học được: người sống nói dối một khắc thứ nhất, nói thật khắc thứ ba. Người chết không nói được nữa; câu người sống giữ trong miệng ba khắc là câu đắt nhất.
Chàng khép mắt lại. Rồi mở. Rồi khép. Cuối cùng: “Không. Còn một lý do. Nhưng ta chưa nói được đêm nay. Sau khi bà bị bắt, ta nói.”
Ta ghi nhận. Không truy. Nàng biết chàng đang giấu gì. Đêm này chưa cần biết. Đêm này giấu bằng chứng đủ nặng đã.
Ta ngồi xuống ghế bên án. Kéo sách “Tẩy Oan Tập Lục” về phía mình. Lật.
Không lật đến trang Tế Tâm Thảo lần nữa. Lật đến trang cha ta ghi về kim châm chậm, sau trang Tế Tâm Thảo ba tờ. Ta đọc trang này lần thứ mười trong đời rồi. Đêm nay lần thứ mười một, lần đầu tiên đọc trong bối cảnh có nạn nhân sống nằm cách ta ba bước.
Chú cha ta viết bằng bút thô nét đứng, cùng một nét với chú Tế Tâm Thảo trang trước. Nhưng ở đây có bốn dòng cuối, chữ nhỏ hơn, mực nhạt hơn, đường bút run hơn. Ta ép mắt đọc chậm:
“Tế Tâm Thảo. Kim châm chậm. Huyệt Phong Trì gáy. Đầu bút phai ba ngày.”
Bốn câu đầu là chú nghề. Ta đọc mười lần rồi.
“Dòng Đường ngoại thích. Đường Chiêu Kính. Đường quý phi. Ba năm điều tra chưa xong.”
Bốn câu sau là chú riêng. Ta đọc mười lần rồi mà lần này khác.
Đường Chiêu Kính. Thái sư dòng Đường. Cha của Đường quý phi. Đường quý phi bây giờ là Hoàng hậu. Là bà đêm nay.
Ba năm điều tra chưa xong. Cha ta ghi năm ta mười một tuổi. Mười tháng sau ông chết “trúng gió giữa đêm”.
Ta đọc mười lần trước đây, ta hiểu chữ. Ta chưa hiểu chữ nào là chữ định mệnh. Đêm nay, lần thứ mười một, ta hiểu.
Cha ta điều tra dòng Đường ba năm trước khi ông chết. Cùng dòng Đường đêm nay giết Thái tử. Cùng người, cùng kim, cùng thuốc.
Ta gấp sách. Cẩn thận. Ép bìa lụa xanh xuống lòng ta, không cho Thái tử liếc thấy trang.
Vụ này không chỉ liên quan cựu hoàng hậu Lý Thục Uyển. Còn cha ta.
Cha ta chết mười năm trước cùng cách. Vì ông tra dòng Đường. Ta chưa biết. Đến đêm nay ta mới biết.
Ta chưa muốn biết đêm nay.
Muộn rồi. Đã biết.
Ta thở đều. Đặt sách xuống án. Đứng dậy. Khép áo bào lam gọn lại. Ép giọng nam trầm nửa cung xuống lần nữa. Đêm còn ba canh. Bà chưa đến.
“Điện hạ. Hạ quan giúp. Ba việc cần làm trước Hoàng hậu tới.”
Chàng mở mắt. Chờ.
“Một. Hạ quan khám lại toàn thân điện hạ. Nếu bà đâm ba đêm trước như điện hạ tính, dấu chấm mới còn chưa phai. Hạ quan tìm được, ghi vào báo cáo. Chứng vật lý cứng.”
“Hai. Lang hộ vệ chuẩn bị bố trí phòng. Khi bà vào, điện hạ vẫn nằm giả xác, hạ quan đứng bên án như đang khám lần cuối, Lang hộ vệ đứng góc như hộ vệ chờ tang lễ. Không ai được động khi bà chưa hạ tay. Đợi bà hạ tay lần thứ ba. Bắt trên tay.”
“Ba. Kim thứ ba bà mang tới, hạ quan cần bắt được nguyên vẹn còn thuốc. Kim gãy ba năm cựu hoàng hậu để lại thuốc đã bay hơi. Chỉ kim mới đêm nay còn ngâm thuốc mới. Chứng cuối cùng.”
Thái tử gật một cái. “Ngươi tính ba việc trong nửa canh giờ. Ta điều tra ba năm mới ra ba việc.”
“Điện hạ điều tra ba năm không có sách của cha hạ quan. Hạ quan ba năm đọc lại chú cha mỗi tối. Không phải hạ quan giỏi. Là cha hạ quan giỏi.”
Ta nói câu ấy giọng nam bình thản. Bên trong, ngực ta nặng một chỗ mà ba năm nay ta chưa để ý. Là chỗ ta chôn cha ta, chôn không đủ sâu.
Thái tử nhắm mắt. Giữ dose thuốc. Chàng không hỏi thêm. Chàng cũng biết đêm nay giữa hai người có một câu chưa nói được. Câu ấy để canh sau.
Lang Tứ đứng dậy. Đi đến cửa. Kiểm chốt. Rồi đi ra trước phòng, đứng canh. Ta còn lại một mình với chàng, thêm lư trầm ngọt.
Ta ngồi xuống bên án. Cầm bút mực đỏ. Cầm giấy dâu bản chính thức đã viết dở “kết luận sơ bộ: xác chết dưới một canh giờ”. Giấy này ta còn giấu trong tay áo, chưa cháy, chưa quyết viết theo hướng nào.
Ta xé một mảnh nhỏ ở góc giấy dâu. Không phải giấy báo cáo. Mảnh riêng của ta. Viết bằng bút mực đỏ, chữ nhỏ hơn chữ báo cáo ba lần, chỉ mình ta đọc được nếu không đưa đèn sát.
“Cha. Vụ cha tra mười năm trước. Có phải cha đã tìm ra bà ta không?”
Ta viết xong, gấp mảnh giấy nhỏ đặt trong lòng bàn tay trái. Không cất. Không đốt. Giữ.
Ngoài cửa có tiếng dế lại kêu một tiếng. Ngắn. Rồi im.
Ta ngước nhìn đồng hồ nước trên án. Mực nước đã xuống thêm một vạch từ lúc ta bước vào phòng. Vạch tiếp theo cách vạch này ba khớp ngón. Ba khớp ngón, một canh giờ. Ba canh giờ, chín khớp. Chín khớp đủ cho bà đi từ Trường Xuân cung sang Đông cung, đủ cho Đường thượng thư mặc áo triều, đủ cho ta khám thêm hai lượt tìm hai dấu chấm còn lại. Chưa đủ cho ta trả lời câu ta viết trong lòng bàn tay trái.
Ta khép năm ngón lại. Mảnh giấy dâu nhỏ nằm gọn trong lòng, không cấn.
Chỉ còn ba canh giờ đến bình minh.