Nữ Ngỗ Tác Đêm Khám Xác Thái Tử
Chương 4: Trầm Hương Ngọt
Ta trở lại phản. Bắt đầu khám chi tiết lần thứ hai.
Đèn dầu vặn cao thêm nửa phân. Ánh vàng liếm lên vai chàng, hắt bóng ngược lên vách gỗ. Ngoài cửa sổ hẹp, sương canh dần đã trắng. Ta nhúng khăn vải vào chậu nước đồng, vắt bớt, lau lại hai bàn tay mình. Ba năm nghề dạy ta một điều: khám xác lần hai luôn tìm được thứ khám lần một bỏ sót. Chỉ cần đèn nghiêng đúng góc, chỉ cần ngón tay đủ tĩnh.
Ta kéo áo bào trắng tang của chàng, lộ cổ tay. Không dấu. Lộ cánh tay. Không dấu. Kéo tay bên kia, chậm hơn. Cũng không. Ta chuyển sang chân, tháo bít vải mỏng nơi cổ chân. Da chàng lạnh, không xanh, thứ lạnh của Giả Tử Đan là lạnh giả, khác lạnh xác thật ba canh giờ mà ta đã sờ hàng chục lần trong phòng xác Đại lý tự. Kỳ lạ. Ta biết là kỳ lạ dù chưa gọi tên được.
Không dấu ở chân.
Không dấu ở ngực dưới lớp áo trong. Ta chỉ vén một khoảng ba tấc cạnh xương đòn, đủ để đưa đèn chiếu, rồi kéo lại. Ba năm giả nam khiến ngón tay ta biết dừng đúng ranh giới nào không nên vượt. Đêm nay lại càng biết.
Quay lại gáy chàng.
Ta nghiêng đầu chàng sang trái, chậm, như đang nắn cơ hàm. Bên ngoài rèm phòng có tiếng thái giám bước ngang, guốc gỗ nện hai nhịp rồi im. Ta ngừng tay. Đợi ba nhịp thở. Không có ai gõ.
Kéo tóc chàng lên. Đưa đèn dầu chiếu chéo bốn mươi lăm độ, đúng góc chú tay cha dạy. Chấm chính, gần huyệt Phong Trì, nàng đã ghi. Bây giờ ta chiếu góc thứ hai, nghiêng bên trái mười lăm độ nữa.
Ngón trỏ ta khựng.
Cách chấm chính hai tấc, gần chân tai chàng. Một chấm khác. Nhỏ hơn chấm đầu, nhưng còn đỏ nhẹ, chưa phai. Ta đưa gương đồng nhỏ trong bao dụng cụ ra, lật mặt bóng, phản chiếu ngược để nhìn rõ hơn. Đúng chấm. Kích thước đầu bút, viền hơi hồng, mới nhất.
Ba đêm trước. Không hơn.
Ta đặt gương xuống án. Không ghi vội. Chiếu góc thứ ba, ngửa đầu chàng sát chân tóc phía sau. Đèn nghiêng chéo lần nữa.
Chấm thứ ba.
Cách chấm chính ba tấc, gần chân tóc, mờ nhất. Đã phai gần hết, chỉ còn dấu sẹo li ti dưới da. Cỡ tháng trước. Có thể hơn.
Ba dấu. Cùng một vùng huyệt Phong Trì. Cùng cỡ đầu bút. Ba lần đâm liên tiếp trong sáu tháng, đêm nay là dấu thứ ba tính từ dấu cũ nhất, và bà định lần thứ tư đêm nay.
Ta ngồi xuống ghế cạnh án. Không thở sâu. Ba dấu không phải trùng hợp. Ba dấu là chữ ký.
Nội tâm ta chạy nhanh hơn tay ta viết. Chàng không được sống qua tuần này, đó là kế hoạch của bà. Đêm nay bà đến “thăm xác” là để chốt, không phải để khóc. Kim thứ tư còn giấu đâu đó trong áo bà, chỉ chờ khoảnh khắc một mình bên phản.
Ta thò tay vào tay áo trái, moi ra tờ giấy dâu ban đầu, tờ nàng viết ở Ch1 rồi vò lại đêm nay. Kết luận sơ bộ, xác chết dưới một canh giờ. Chữ ta viết lúc đó còn bay bướm. Ta mở tờ giấy, xé đôi, ném vào chậu than nhỏ dưới án. Giấy dâu bắt lửa nhanh. Cháy hết trong ba khắc.
Ta xé một tờ giấy dâu mới trong bao dụng cụ. Ngâm bút mực đỏ vào lọ nhỏ. Viết bản báo cáo giả chính thức, chữ nắn nót, đúng thể lệ trình Đại lý tự và cung:
“Ngỗ tác Kỷ Nguyên bậc ba, chấp lệnh khám nghiệm Thái tử Tiêu Chiêu Diễn đêm canh tí. Kết luận: điện hạ trúng gió do lao thần quá độ, phong bế đường khí trung nguyên. Không dấu vết ngoại lai. Không thuốc độc. Xác nghiệm khớp giờ tuất.”
Ký tên. Đóng dấu bằng ấn son nhỏ đeo trong bao dụng cụ. Bản này để giao Hoàng hậu sáng ra. Bà đọc sẽ tin, sẽ mỉm cười trong tay áo, sẽ nghĩ ngỗ tác Đại lý tự đêm nay chuyên môn kém.
Ta xé tờ giấy dâu thứ hai. Không dùng ấn son. Viết chậm hơn, chữ nhỏ:
“Bản thứ hai. Trình Hoàng thượng. Ba dấu chấm sau gáy điện hạ Tiêu Chiêu Diễn, cùng vùng huyệt Phong Trì. Dấu một: chính giữa, phai một phần, cỡ tháng trước tính từ đêm khám. Dấu hai: cách chấm chính hai tấc, còn đỏ, ba đêm trước. Dấu ba: cách chấm chính ba tấc, mờ nhất, cỡ tháng trước cộng thêm hai chục ngày. Cả ba đều dấu kim châm chậm ngâm Tế Tâm Thảo, dòng Đường ngoại thích chế. Kết luận: điện hạ bị cố tình hạ độc trong sáu tháng, ba lần liên tiếp, đêm nay chết thật nếu không được ngăn.”
Ký tên. Không đóng ấn. Gấp bốn nếp. Nhét vào lai áo bào lam trong cùng, sát da bụng. Chỗ ấy ba năm ta giấu vài thứ tối kỵ, chưa bị lộ.
Bên phản, Thái tử mở mắt hé. Chỉ hai phần. Giọng chàng khàn, còn khô hơn Ch2, thuốc Giả Tử Đan tới canh dần đã hút nước cổ họng chàng cạn.
“Kỷ đại nhân. Có tin gì?”
Ta không đáp bằng lời. Đứng dậy, đưa tờ báo cáo thật cho chàng cầm. Ta chống một tay lên án, thân thấp xuống để tờ giấy che tầm nhìn của Lang Tứ ở góc phòng, chàng đọc trong bóng ngón tay ta. Đọc xong, chàng khép mắt lại. Khoé miệng khẽ nhếch một cái, không phải cười, là thở phào ngầm. Ba năm chàng đoán hai đến ba dấu. Đêm nay có ngỗ tác chuyên môn xác nhận đủ, chàng có chứng cứ cứng cầm tay.
Ta nhận lại tờ giấy, gấp, nhét lại lai áo. Ngồi xuống bên án.
Trong khắc lặng ấy, mũi ta bắt lại mùi ngọt lạ trong phòng. Ban đầu ta ngửi ở Ch2, ghi nhớ, chưa gọi tên được. Bây giờ ta biết tên.
Ta đứng dậy, đi sang lư trầm bên tường. Ba nén trầm hương còn cháy, khói mảnh cuộn lên trần. Ta cầm một nén, thổi tắt, đưa lên mũi ngửi lần nữa. Không phải nam ưu chất Trường An. Không phải bạch mộc Kinh Đô. Ngọt, hậu vị hơi cay, dư vị đọng lại nơi khoang miệng như thấm dầu chứ không phải đọng ở mũi.
Xuyên Thiên Hương. Dòng Đường Tây Vực. Chú tay cha viết bảy chữ, ta thuộc từ hồi mười ba tuổi.
Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm
179.000đ
Xem chi tiết →Ta quay đầu lại. Giọng ép trầm nam, đủ Lang Tứ nghe rõ:
“Lang hộ vệ. Trầm này ai đặt trong phòng điện hạ?”
Lang Tứ đứng góc chuyển thân, tay vẫn chống chuôi kiếm. Hắn không cần suy nghĩ:
“Hoàng hậu điện hạ ban chiều nay, canh mùi. Nói để cầu nguyện cho Thái tử, xin thần Phật độ trì tan gió cảm. Hạ quan nhận. Hạ quan đốt sẵn ba nén, thay khi tàn.”
“Xuyên Thiên Hương. Dòng Đường Tây Vực nhập qua Lũng Hữu.”
Hắn im.
“Trầm này không phải để cầu nguyện. Trầm này có tác dụng làm mờ mùi thuốc trong phòng kín, che dấu vết kim châm ngâm Tế Tâm Thảo trong ba khắc. Bà không chỉ định giết điện hạ đêm nay. Bà còn dọn hiện trường trước khi hạ quan đến. Nếu hạ quan không đọc chú tay cha, hạ quan sẽ ghi báo cáo thật là trúng gió.”
Sắc mặt Lang Tứ tái đi lần đầu tiên đêm nay. Không phải sốc kiểu văn thư. Là sốc kiểu quân đội, sắc chuyển từ đỏ sang xám trong nửa nhịp thở, hàm siết một lần rồi buông. Hắn cúi đầu.
“Hạ quan không biết. Hạ quan cầm nến đặt trong phòng điện hạ đã ba năm, chưa từng biết trầm dòng Đường.”
Hắn ngước lên. Có gì đó ở khoé mắt hắn ta đọc được. Là hối hận của một quân nhân, thứ hối hận nặng hơn hối hận của quan văn vì quân nhân xem việc bảo hộ chủ nhân là mạng đổi mạng. Đêm nay hắn suýt đưa mạng chủ mình đi bằng chính tay hắn châm nến.
“Không phải lỗi Lang hộ vệ. Ai không đọc sách cha ta chú tay đều không biết. Cả kinh thành có thể đếm trên đầu ngón tay ba người từng nghe hai chữ Xuyên Thiên. Hạ quan đọc vì hạ quan làm nghề khám dấu. Lang hộ vệ không cần đọc vì Lang hộ vệ làm nghề giữ mạng người sống.”
Câu cuối ta nói khẽ, không cho Thái tử nghe. Nhưng chàng nghe được. Ta thấy ngón tay chàng khẽ động một cái trên nếp áo tang trắng, rồi im. Chàng biết ta đang giấu chuyện gì. Đêm nay chàng không hỏi. Chàng chờ.
Ta đặt nén trầm thổi tắt xuống án, không đốt lại. Hai nén còn lại trên lư ta cũng vẩy nước dập. Khói tan chậm, mùi ngọt vẫn còn treo trong không khí, nhưng đã loãng.
Bên ngoài cửa sổ hẹp, có tiếng mèo hoang trong sân sau kêu một tiếng, dài, rồi im. Không phải dế Ch3. Là mèo. Trường An đêm dần, mèo ra săn chuột kho lúa. Ta biết là mèo vì tiếng ngân ba nhịp cuối trầm hơn dế. Ba năm sống một mình ở nhà nhỏ nam thành, ta phân biệt được.
Ta quay lại phản. Lang Tứ đã lấy khăn khô lau đầu Thái tử chỗ ta khám. Chàng nằm ngay ngắn lại. Ta ngồi xuống ghế cạnh án.
“Lang hộ vệ. Ba việc trước Hoàng hậu đến. Một, hạ quan đứng bên phản như đang khám dấu cuối. Lang hộ vệ đứng góc như hộ vệ chờ. Hai, khi Hoàng hậu điện hạ cầm vật gì đến gần gáy điện hạ, hạ quan sẽ ngã người sang tình cờ, tay chống bàn, đánh đổ lọ mực đỏ. Đó là tín hiệu.”
Lang Tứ nghe, đầu hắn cúi xuống. Hắn ghi từng ý.
“Ba, kim thứ tư bà mang phải bắt nguyên vẹn có thuốc. Không được để bà kịp giấu lại hoặc bẻ gãy. Trâm hoa, kẹp ngọc, hộp phấn, đũa ăn, bất cứ vật gì gần đầu điện hạ đều có thể là chỗ giấu. Lang hộ vệ để ý tay bà. Không rời một khắc.”
“Được.”
“Điện hạ mở mắt khi mực đỏ đổ. Không sớm hơn. Bà phải cầm được kim trong tay tại chỗ đó mới đủ chứng.”
Thái tử nằm nhắm mắt, giữ liều thuốc, nhưng ngón cái tay phải chàng co một lần rồi duỗi. Ta thấy. Chàng nghe rõ. Chàng gật.
Lang Tứ nhìn ta một khắc, ánh mắt hắn khác đêm đầu. Ch1 hắn nghi kỵ. Ch3 hắn xác nhận. Bây giờ hắn thấp giọng, gần như một câu hỏi riêng:
“Đại nhân. Ba năm ngỗ tác. Đại nhân nghĩ ra cả kịch bản trong nửa canh giờ. Nghề binh mười năm hạ quan không dạy được cấp dưới nhanh như đại nhân dạy hạ quan đêm nay.”
Ta không đáp câu ấy.
Trong đầu ta lại vọng lên câu khác. Không phải ngỗ tác dạy. Là cha ta dạy khi ta còn tám tuổi. Cha ngồi bên án trong thư phòng nhỏ nhà cũ, mở “Tẩy Oan Tập Lục” bản chú tay, dạy ta cách nhìn dấu chấm, cách nghiêng đèn, cách viết hai bản báo cáo, một cho quan trên, một cho lương tâm. Ông dạy ta cách rót trà không ngửng đầu, cách nghe bước chân ngoài rèm, cách nhớ giờ bằng bóng nến trên tường. Ông dạy ta trước khi ông biết ông sắp chết.
Hoặc có lẽ, ông dạy ta vì ông đã biết.
Trăm nghe không bằng một thấy, câu cha hay lặp. Ta nhớ giọng cha đêm nay rõ hơn cả mười năm qua. Kỳ lạ. Ta không gọi tên được vì sao.
Ta cầm bút mực đỏ. Đặt xuống. Cầm lên. Ta bồi hồi một khắc, không đủ dài để Lang Tứ chú ý.
Rồi ta mở “Tẩy Oan Tập Lục” bản chú tay cha, lật đến trang cuối cùng.
Trang này ta chưa từng đọc.
Ba năm nay ta lật sách hơn năm chục lần, đọc trang Tế Tâm Thảo, trang Bạch Đầu Ông, trang phân định máu tụ, trang canh giờ tử vong. Ta chưa lật đến trang cuối vì trang cuối cha buộc chỉ hồng, gói một lớp giấy dâu mỏng, viết ngoài hai chữ: “Sau cùng”. Ta hiểu là trang riêng của cha, không phải kiến thức pháp y chung. Ta để yên.
Đêm nay ta gỡ chỉ hồng.
Trang cuối chỉ nửa mặt giấy. Chữ cha khác các trang trước. Nhỏ hơn. Run hơn. Nét bút tay ép mạnh xuống mặt giấy, có chỗ mực đâm thủng sang mặt sau. Đây là chữ viết đêm cuối cùng.
“Nếu Vãn Chi đọc được, tra dòng Đường. Đường Chiêu Kính. Đường Uyển. Đường quý phi. Ba năm cha tra chưa xong. Đêm nay cha uống một chén trà lạ, tay tê từ khuỷu tay, chân bước không vững. Cha biết là gì. Cha viết cho con vì cha không kịp viết cho ai khác. Không được để chúng biết con là con cha. Đổi tên. Đổi phận. Tra đến khi hết. Cha xin lỗi con.”
Ta gấp lai trang. Đóng sách. Cẩn thận buộc lại chỉ hồng, đặt sách trở về góc án.
Không ngước. Không đứng dậy. Ta ngồi im nghe tiếng đèn dầu nổ tí tách một lần. Giọt sáp nhỏ rơi xuống án, đọng thành chấm vàng bằng đầu ngón út. Ta nhìn chấm sáp. Cỡ đầu bút chì. Bằng đúng dấu chấm sau gáy chàng, đúng dấu chấm đã cướp cha ta mười năm trước. Cùng cỡ. Cùng bà. Cùng thuốc. Không phải trùng hợp. Không có gì trong đêm nay là trùng hợp.
Đường Uyển.
Là tên thật của Hoàng hậu bây giờ. Trước khi bà lên hoàng hậu, cả Trường An biết bà là Đường quý phi. Trước khi vào cung làm quý phi, dòng bà gọi bà là Đường Uyển, tam tiểu thư nhà thái sư Đường Chiêu Kính. Ba tên khác nhau, một người.
Cha ta biết.
Mười năm trước.
Cha ta uống một chén trà lạ, tay tê từ khuỷu tay, chân bước không vững. Cha biết là gì. Cha viết cho ta trong khoảng thời gian giữa hai canh giờ, giữa lúc kim châm thuốc thấm dần từ gáy vào máu và lúc tim cha ngừng đập. Trong khoảng ấy, cha không gọi tên bà. Cha gọi Đường Uyển. Là tên bà ba mươi tuổi. Là tên bà ngày cha lần đầu tra.
Ta còn ba canh giờ. Ta còn một bẫy. Ta còn một chén nợ mười năm chưa trả.
Ta đứng dậy. Chỉnh lại mũ ô sa quan. Buộc chặt đai áo bào lam. Ngồi lại xuống án, cầm bút mực đỏ, viết vào lề tờ báo cáo thật ba chữ chỉ ta đọc được:
“Trả canh này.”