Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 10: Kẹp Tóc Trong Túi Xác
Ba cái tên. Ba đứa trẻ đã được nhận.
Còn hai đứa nằm lại.
Đại lý tự đêm mùng bảy. Nến vàng chảy xuống bàn gỗ ẩm, thấm vào từng thớ vân. Ta ngồi bên án khám tử, tay không run. Trước mặt là năm ván gỗ dài phủ vải xám. Ba tấm đã kéo ra khỏi hàng, đưa về cho gia đình khóc. Hai tấm còn lại nằm giữa: đứa nhỏ nhất, và đứa gái.
Bích Đào đứng phía sau ta, tay xách chậu nước lạnh, mắt cụp xuống. Con bé mới mười ba, chưa quen mùi tử thi lâu ngày. Ta không ép. Cứ để nó đứng đó cho quen dần. Trong nghề này ai cũng có canh giờ đầu tiên. Ai cũng phải qua.
“Bích Đào.” Ta gọi khẽ. “Đưa nước hoa trầm.”
Con bé mở nắp chai nhỏ ta để trên án. Ta xức lên khoé tay áo, xức thêm nhẹ dưới mũi. Mùi trầm chậm phủ lên mùi lạnh của xác. Sương pha tro.
Ta bảo Bích Đào kéo tấm vải phủ đứa gái ra.
Trẻ chừng bảy tám tuổi. Tóc bết vào trán, đen mà loãng. Mặt đã tái xanh nhưng chưa rữa, nhờ nước sông lạnh, nhờ được vớt sớm. Áo vải bố, viền tay đã sờn. Ngực trái vẫn còn vết đâm. Vết cũ ba ngày, ta đã ghi rõ tối qua: góc dao lạ, thuận tay trái, sâu ba tấc, xuyên tim trực tiếp. Chết trong ba nhịp thở.
Ta không xem vết đâm nữa. Ta xem quần áo.
Kiếp trước ta học một nguyên tắc. Người ta chôn quần áo cùng người chết. Người ta bỏ đi rất ít. Vì thế trong áo, trong túi, trong lai, trong khe khâu, luôn còn giữ lại chút gì đó của người sống.
Người sống thường không biết mình để lại gì.
Ta cẩn thận cởi khuy áo ngoài của đứa gái. Áo vải bố loại rẻ, khuy đồng cùn. Nàng bé được ai đó dặn mặc áo dày để đi ra ngoài đêm. Bên trong lớp áo ngoài là một yếm cũ đã ngả vàng. Ta rờ dọc lai áo. Rờ dọc đường khâu. Rờ đến túi.
Túi trong bên hông trái. Nhỏ như đốt ngón út. Loại túi các bà mẹ nghèo tự khâu cho con để giấu đồng tiền đi mua muối. Ta thò hai ngón tay vào. Đầu ngón chạm vào một vật cứng, dài, có góc.
Ta rút ra.
Trên lòng bàn tay ta, dưới ánh nến vàng, nằm một chiếc kẹp tóc nhỏ. Cán bằng bạc thau, đầu chạm hình con bươm bướm bằng ngọc xanh nhạt. Cánh bướm mở, dùng một mảnh ngọc lớn tách làm đôi khéo léo. Ở lưng bướm có một hạt trân châu, ánh trắng.
Ta ngồi im ba nhịp thở.
Rồi ta ghé sát nến. Xoay chiếc kẹp một vòng. Ngọc trong. Bạc thau còn ánh, tức là chưa tới nửa năm. Đường chạm bướm mềm, thợ khéo. Không phải hàng chợ.
Bích Đào bên cạnh nghiêng đầu nhìn. “Sư phụ. Đẹp quá… Của em bé kia sao?”
Ta không đáp ngay. Ta lật kẹp xem đế. Có một chữ nhỏ khắc thô: Đường. Không phải chữ tên tiệm. Chỉ một chữ. Một dấu.
Ta ghi vào sổ tay: kẹp bươm bướm ngọc, bạc thau, hạt trân châu, ước giá năm mươi lượng, có dấu Đường.
Rồi ta đặt kẹp lại lên khăn trắng. Mắt vẫn dán vào nó.
Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang
41.000đ
Xem chi tiết →Trong đầu ta bật lên một câu hỏi rất phiền.
Kẹp năm mươi lượng.
Một đứa trẻ có bụng ăn hạt kê thô.
Hai điều này không thể đứng cùng một câu.
Kê thô là thức ăn của những nhà không mua nổi gạo trắng. Ở phường Bắc Biện Kinh, một cân kê thô rẻ hơn nửa cân gạo. Một đứa nhỏ ăn kê thô trong bụng khi chết, mẹ nó không thể mua nổi kẹp bạc chạm ngọc cho nó cài. Mẹ nó nếu có năm mươi lượng, đầu tiên nàng mua gạo. Sau đó mua thịt. Sau nữa mua thuốc. Kẹp tóc bươm bướm ngọc là ước mơ sau cùng, không phải trước.
Vậy kẹp này không phải mẹ nó cho.
Vậy của ai?
Ta gấp sổ tay. Cầm khăn trắng gói kẹp lại, giấu vào tay áo.
“Bích Đào. Đậy vải. Ta đi báo Lục đại nhân.”
Lục Vô Ngạn đang ngồi bên án thư của mình. Bàn dày, gỗ đào, mặt lì trơn. Bên trái hắn là chồng công văn Vương phủ đã đóng vụ. Bên phải là bản đồ Biện Kinh mở nửa. Hộ oản gỗ đen vẫn ở cổ tay trái, xoay chậm.
Ta gõ cửa hai tiếng. Vào.
“Lục đại nhân.”
Hắn ngẩng lên. Ánh mắt như thường ngày. Dao khắc. Không sáng, không tối.
“Nói.”
Ta đặt gói khăn trắng lên án thư. Mở. Chiếc kẹp bươm bướm ngọc nằm giữa ánh nến. Cánh ngọc xanh nhạt bắt ánh sáng, phản lên má Lục một vệt xanh mờ như bóng lá.
“Trong túi xác đứa gái nhỏ. Không phải của nhà nó.”
Lục nhặt kẹp lên. Đầu ngón tay hắn gầy dài, lạnh. Xoay một vòng. Nhìn đế. Rồi đặt xuống.
“Chữ Đường.”
“Vâng.”
“Là tên thợ, hay tên chủ nhân?”
“Chưa rõ.” Ta đáp. “Nhưng chỉ cần một buổi sáng tìm tiệm.”
Hắn nhìn ta. Một nhịp. Rồi gật.
“Đi cùng ngươi.”
Ta biết hắn không cần đi. Việc lần theo dấu bạc là việc của ngỗ tác. Nhưng hắn đứng dậy khoác áo ngoài. Áo đen viền chỉ bạc, tà áo dài quét sạp. Hộ oản vẫn ở cổ tay.
Hắn không nói thêm.
Trong nghề này ta cũng học được một điều. Người trên không giải thích. Người trên chỉ đi.
Sáng mùng tám. Sương chưa tan hết. Phường Đông Biện Kinh, phố Ngân Lan, tiệm ngân trang xen tiệm ngọc, xen quán trà. Vào giờ này chỉ có mấy tiệm mở sớm. Đá phiến ẩm. Nước rửa mặt tiệm nào cũng đổ ra rãnh, chảy thành vệt xám vào cống.
Ta và Lục Vô Ngạn đi ngựa. Ta mặc áo bố xám của ngỗ tác, ngoài khoác thêm áo nâu phủ chân. Trong tay áo ta là gói khăn trắng.
Ta cầm kẹp đi qua ba tiệm bạc. Hai tiệm lắc đầu. Tiệm thứ ba, một ông cụ ngoài sáu mươi, râu bạc rối, cầm kẹp qua ánh sáng cửa sổ. Xoay hai vòng. Rồi ngẩng lên nhìn ta.
“Kẹp này của tiệm ta.”
Ta chưa nói gì. Ông cụ đã đọc mặt ta. Ông tự thêm.
“Chữ Đường ở đế là dấu của tiệm ta. Ngân Lan Đường ký. Ta khắc bằng dao mũi nhỏ, đường nét ta nhớ.”
Lục đứng phía sau ta, không nói. Chỉ nhìn.
“Ai mua?” Ta hỏi.
Ông cụ tần ngần. Đưa tay lên xoa râu.
“Ngỗ tác quan sai đến hỏi… vì việc gì?”
Ta không đáp thẳng. Ta chỉ nói.
“Có mạng người.”
Bốn chữ đủ. Ông cụ lặng đi một nhịp. Rồi ông đi vào trong, lấy ra một cuốn sổ dày bìa gỗ. Bàn tay già run run mở khoá móc đồng.
Ta chờ. Trong ba nhịp thở đầu, ta đã biết ông sẽ khai. Người làm nghề bạc lâu năm sợ một chữ hơn tất cả: chữ can. Kẹp bạc dính máu là can án. Không khai kịp thì bảng hiệu treo trên phố Ngân Lan này cũng gỡ. Cả đời làm nghề bạc, chỉ một dấu sai là mất.
Ông cụ lật sổ đến trang giữa. Chỉ vào một dòng ghi mực đen đã hơi mờ.
“Bốn tháng trước. Ngày mười lăm tháng ba. Kẹp bươm bướm ngọc bạc thau, giá năm mươi lượng ba. Một bộ ba chiếc. Người mua ghi Đường công tử. Địa chỉ Đường Y Quán phường Đông.”
Ta ngẩng lên.
“Ba chiếc?”
“Vâng. Cùng mẫu, cùng ngọc. Ba chiếc.”
Trong đầu ta lặng đi một khoảnh khắc.
Ba chiếc kẹp bươm bướm. Năm cái xác trẻ em. Ba đứa đã có gia đình nhận. Hai đứa vẫn nằm không tên.
Kê thô trong bụng. Vết đâm ngực trái thuận tay trái.
Ta lại ghi vào sổ tay: ba chiếc kẹp, ngày mười lăm tháng ba, người mua Đường công tử, Đường Y Quán phường Đông. Ta viết bằng bút chì than gỗ đào. Nét gọn, không run.
Lục Vô Ngạn bên cạnh vẫn đứng im. Nhưng ta thấy hộ oản gỗ đen ở cổ tay hắn ngừng xoay.
“Đường Y Quán?” Hắn hỏi ông cụ. “Là hiệu thuốc, hay hiệu ngọc?”
“Hiệu thuốc, đại nhân.” Ông cụ đáp. “Chủ tiệm là thầy lang Đường Thanh. Người này chữa được bệnh nan y. Đại phú Biện Kinh ai cũng biết tên. Đêm nào cũng có kiệu đến đón đi khám. Nhà thầy lớn… rất lớn.”
Ta liếc Lục.
Ánh mắt hắn trước đó vốn lạnh. Bây giờ hắn không chớp. Lạnh hơn.
Ta biết ngay. Hắn nghe cái tên này không lạ.
Ra khỏi tiệm ông cụ, gió đầu ngày quét dọc phố Ngân Lan. Lá cây rụng. Chân ngựa gõ vào đá phiến, âm khô như gõ vào ván khám tử.
Ta đi cạnh Lục Vô Ngạn một khoảng. Đến đầu ngõ, hắn dừng lại. Không nhìn ta, chỉ nhìn về hướng phường Đông xa xa. Đằng ấy có mái ngói lam nổi bật giữa những mái đất phía dưới. Ta biết mái ngói lam kiểu ấy là nhà quyền quý. Không phải nhà thầy lang bình thường.
“Đường Thanh.” Hắn nói khẽ. Như đọc tên một cái xác.
Ta hỏi thẳng.
“Đại nhân biết người này?”
Lục im một lúc.
“Nghe tên.”
“Nghe từ đâu?”
Hắn liếc ta. Mắt hắn khi liếc luôn có một tia sáng lạ, không phải cảnh giác, mà là đo lường. Đo xem ta hỏi vì tò mò hay vì công việc.
“Từ phủ ta.” Hắn đáp. “Cha ta trước khi mất, trong nhà từng có kiệu Đường Y Quán đến. Không phải khám cho cha ta. Là khám cho một khách quý ở lại phủ ba đêm.”
Ta không hỏi khách quý đó là ai. Ta biết hỏi cái đó bây giờ là quá xa. Nhưng ta ghi vào lòng: Đường Thanh có liên hệ với vòng quan cấp cao. Không chỉ là một thầy lang bào thuốc quý.
Hắn tiếp.
“Đường Thanh bào chế được thuốc gọi là ‘diên thọ hoàn’. Người Biện Kinh đồn hoàn thuốc này chữa được lao phổi. Một hoàn năm trăm lượng bạc. Chỉ bán cho quý tộc.”
Ta gần như muốn cười lạnh.
Một hoàn năm trăm lượng. Ba chiếc kẹp bạc chạm ngọc. Năm xác trẻ em ăn kê thô, vết đâm thuận tay trái, không cha không mẹ nhận.
Trong ngành nghề này ta học được một điều. Có những vật đắt tiền không phải là quà. Có những vật đắt tiền là bằng chứng.
“Đại nhân.” Ta nói. “Ta xin phép nói thẳng.”
Hắn gật.
“Kẹp bươm bướm không cho không. Người mua ba chiếc, để làm gì? Nếu là quà, thì ba chiếc là ba người quen. Nếu là công cụ, thì ba chiếc là ba lần dùng.”
Lục Vô Ngạn nhìn ta.
“Ngươi nghĩ Đường Thanh dùng kẹp làm mồi?”
“Ta chưa dám nói mồi. Ta chỉ nói: đứa gái nhỏ chết ở cầu Biện Hà có kẹp năm mươi lượng trong túi. Mà nó ăn kê thô. Mẹ nó không mua nổi kẹp. Vậy ai đó cho nó kẹp. Cho không, hay đổi công gì?”
Ta ngừng.
“Đổi công gì mà một đứa bảy tám tuổi có thể trả?”
Lục im ba nhịp. Rồi hắn đáp câu duy nhất.
“Đứa bé đó không trả bằng công.”
Ta hiểu. Hắn hiểu. Trong đầu chúng ta cùng một câu: đứa bé đó trả bằng thân.
Cái ý nghĩ ấy đứng giữa hai chúng ta ba nhịp thở. Không ai nói ra. Bởi vì nói ra rồi thì phải đi. Phải đi rồi thì phải khám. Phải khám rồi thì phải chấp nhận là mình đã đến muộn.
Nhưng đến muộn còn hơn không đến.
Ta rút gói khăn trắng ra khỏi tay áo, nắm chặt trong lòng bàn tay. Vải hơi nóng lên vì thân nhiệt ta. Kẹp ngọc bên trong vẫn lạnh, như một giọt sương chưa tan.
“Đại nhân. Ta đi Đường Y Quán.”
Hắn quay ngựa.
“Ta đi với ngươi.”
Về Đại lý tự trước. Lục Vô Ngạn không đi bắt tay không.
Trong phòng án thư của hắn, ta ngồi mài mực (thói quen kiếp trước còn giữ: khi đợi tin thì mài mực để tay không run). Hắn viết công văn xin điều thị vệ. Bút mực đỏ dấu ấn Đại lý tự thiếu khanh khắc lên giấy vàng. Chữ hắn thô, ít nét, mà nặng. Ta liếc thấy hắn ghi: “điều tra Đường Y Quán phường Đông, nghi liên quan giết trẻ em vô danh, xin mười thị vệ, xin quyền lục soát”.
Ta biết hắn đủ chức để tự điều. Nhưng hắn viết công văn để có giấy. Có giấy thì sau này ai không phục cũng phải phục.
Nói có sách, mách có chứng. Trong triều đình Đại Tống, một mảnh giấy đúng dấu là một mạng.
Ta mài xong mực. Đưa nghiên sang. Hắn nhúng bút, đóng dấu son đỏ vào cuối. Son đỏ trên giấy vàng như một giọt máu tươi rơi trên tro hương.
“Ngươi lấy đồ khám tử.” Hắn không ngẩng đầu. “Ta điều thị vệ. Nửa canh giờ sau ra cửa Đông.”
“Vâng.”
Ta đứng dậy. Định bước ra. Đến cửa, ta dừng.
“Đại nhân.”
Hắn ngẩng lên.
Ta không biết vì sao ta muốn nói câu này. Nhưng ta nói.
“Nếu Đường Thanh có bàn tay trên bàn tay, đừng vội bắt hắn một mình. Kẻ đứng sau lớn hơn một thầy lang.”
Lục Vô Ngạn nhìn ta rất lâu.
“Ngươi mới mười tám tuổi.” Hắn nói. “Sao ngươi biết chuyện này?”
Ta không trả lời được. Vì câu trả lời thật là: kiếp trước ta khám bao xác của những vụ án lớn. Kiếp trước ta đã học rằng đứa thầy lang bắt xác trẻ để bào thuốc không thể một mình. Luôn có kẻ trên trả tiền. Luôn có kẻ trên bảo kê. Bắt được thầy lang mà không bắt được kẻ trên chỉ là chặt một ngón tay của con quái vật. Ngón tay mọc lại. Con quái vật vẫn ăn.
Nhưng ta không nói được câu ấy.
Ta chỉ đáp.
“Vì ta đọc nhiều.”
Hắn cười. Rất ngắn. Ngay khoé miệng. Tưởng như không có.
“Được. Ta không vội.”
Ta cúi đầu, ra ngoài. Đến khi khép cửa, ta còn nghe hắn nói vọng theo, giọng khẽ như tự nói.
“Cẩn thận. Ngươi mắt lạnh, mà xương gầy.”
Ta đứng ngoài cửa một nhịp thở. Rồi đi.
Trong tay áo, gói khăn trắng gói kẹp bươm bướm vẫn ép vào cổ tay ta. Vải lụa lạnh, kẹp cứng, và giữa hai thứ ấy là một mảnh sự thật ta đã cầm được. Một mảnh nhỏ, đủ để bắt đầu.
Nửa canh giờ sau. Cửa Đông Đại lý tự.
Mười thị vệ xếp hàng đôi, cầm gậy dài đầu bịt đồng. Ngựa của Lục Vô Ngạn đứng đầu, ngựa ta đứng sau. Bích Đào đứng bên vệ đường, ôm hộp gỗ trong đó có bộ dao khám của ta, hai chai nước hoa trầm, một cuộn khăn trắng, và ba mảnh giấy vẽ hình chiếc kẹp bươm bướm ngọc ta phác sẵn để đối chiếu nếu tìm thấy trong tiệm.
Ta cột lại khăn buộc ngực dưới lớp áo bố. Đường vải cứng gồ trên da. Không thoải mái, mà quen. Sáu năm ta sống bằng đường vải này. Kiếp trước ta chết trong áo blouse trắng. Kiếp này ta sống trong áo bố xám. Áo nào cũng là áo. Cứ tồn tại đã.
Ta trèo lên ngựa.
Lục Vô Ngạn quay lại, nhìn ta. Ánh sáng ban trưa hắt xiên vào mặt hắn. Sẹo mờ ở khoé mắt (ta chưa bao giờ hỏi). Hộ oản gỗ đen ở cổ tay trái đứng im.
“Đi.”
Hắn thúc ngựa. Ta thúc theo.
Ngựa ra khỏi cửa Đông. Đá phiến kêu khô. Lá vàng cuối thu bay ngược chiều. Trong tay áo ta gói khăn trắng đè lên da cổ tay lạnh.
Phường Đông. Đường Y Quán.
Ta không cầu tìm được kẻ giết cha ta ở đó. Nhưng ta cầu tìm được thêm một cái tên. Kiếp trước lẫn kiếp này ta biết rõ: án lớn không bao giờ chỉ có một hung thủ. Sau lưng thầy lang bào thuốc trẻ em luôn có người trả tiền. Sau lưng người trả tiền luôn có người bảo kê. Ta chỉ cần lần một sợi chỉ. Sợi chỉ nào cũng dẫn về khung dệt.
Tro hương buổi sáng đã dần đầy trong bát bên án thư Đại lý tự. Bút mực đỏ trên công văn hắn viết còn ẩm. Sương buổi trưa chưa tan hẳn ở đầu phố Ngân Lan.
Gieo gió gặt bão. Có kẻ đang gieo. Ta chỉ giúp bão đến sớm hơn một chút thôi.
Ngựa của Lục Vô Ngạn lồng lên phía trước. Ta thúc theo. Trong lòng ta không sợ. Trong lòng ta chỉ có một câu ghi lại kiếp trước, một câu ta đã nói với chính mình trước mỗi ca giải phẫu, một câu bây giờ vẫn còn dùng được:
Nàng bé bảy tuổi. Kẹp bươm bướm ngọc. Kê thô trong dạ dày. Đợi ta một chút. Ta đến ngay.