Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 11: Thầy Lang Giết Trẻ Em

Đường Y Quán ở phường Đông, mặt tiền quay ra ngõ Hoè.

Sáng ấy sương rất dày. Ta cưỡi ngựa xám, đi sau lưng Lục Vô Ngạn. Sau ta là mười hai thị vệ Đại lý tự, đao ngắn giấu dưới bào đen, tay áo cột chặt. Không ai nói. Nhịp móng ngựa gõ trên đá lát cùng một điệu, gõ vào sương sớm như búa nhỏ gõ vào tro.

Ta xức nước hoa trầm ở sau tai từ canh năm. Hôm nay không phải để đi khám xác. Hôm nay để đi bắt người khám xác.

Trong ngực áo ta cài một mảnh giấy nhỏ đã ghi từ tối qua. Bên trên viết ba chữ: Đường Thanh, gan. Bên dưới, một dấu chấm hỏi cỡ đầu ngón út.

Kẹp bươm bướm ngọc trong túi xác đứa nhỏ vô danh đã dẫn đến tiệm bán kẹp. Chủ tiệm bán kẹp đã dẫn đến Đường Thanh. Đường Thanh mua kẹp làm gì, hôm nay ta muốn biết.

Ta chưa dám nghĩ đến câu trả lời.

Trong đầu ta, kiếp trước có một mảng ký ức mà ta luôn cố quên. Một vụ án ở bệnh viện cũ. Đứa trẻ tám tuổi mất tích ba ngày, tìm ra khi đã bị moi gan. Ngày ấy ta đứng khám tử thi hết ba canh giờ liên tiếp không nghỉ, sau đó ra ngoài lan can hút mười điếu thuốc rồi mới nói được câu đầu.

Ta không thích khám xác trẻ em. Kiếp trước không thích. Kiếp này càng không.


Lục Vô Ngạn ghìm ngựa lại ở đầu ngõ Hoè. Ta ghìm theo. Sương chưa tan, mái ngói Đường Y Quán ướt đen, giọt nước rơi xuống thềm đá thành từng vết nhỏ. Trước cửa quán treo hai đèn lồng lụa trắng, chưa dập nến.

“Nến chưa dập,” ta nói khẽ.

“Người trong quán chưa dậy,” Lục Vô Ngạn đáp. Giọng hắn không cao hơn tiếng gió một chút. “Hoặc dậy rồi mà chưa mở cửa.”

“Đại nhân định vào cửa nào?”

Lục Vô Ngạn liếc mắt sang bên hông tiệm. Ở đó có một cửa hông nhỏ, gỗ mộc chưa sơn, chốt bằng thanh sắt đơn. Cửa sau bếp.

“Cửa hông. Ta không muốn hắn kịp đốt sổ.”

Ta gật.

Thị vệ chia hai. Sáu tên vòng ra sau, chặn cửa bếp và mái nhà. Sáu tên còn lại theo Lục Vô Ngạn vào cửa trước. Ta đi giữa. Trên vai ta khoác trường bào đen của Đại lý tự, cổ dựng, che nửa cằm. Tóc buộc cao. Trong tay áo, ngoài dụng cụ khám xác quen thuộc, ta có thêm một ống thổi tro dài bằng ngón tay, để dập nến cách xa nếu ai đó cố đốt giấy.

Lục Vô Ngạn không đập cửa. Hắn kéo chuông.

Trước cửa Đường Y Quán treo một dây chuông đồng nhỏ, người muốn xin khám bệnh phải kéo. Kéo hai tiếng, hẹn trước. Kéo một tiếng, có bệnh gấp.

Lục Vô Ngạn kéo một tiếng.

Ba nhịp sau, có tiếng lê giày trong quán. Rồi tiếng chốt. Cửa mở ra một khe.

Bên trong, một tiểu đồng khoảng mười ba tuổi thò đầu ra. Mặt sạm nhưng mắt to, tóc buộc theo kiểu học trò thầy lang. Nó nhìn ta nhìn Lục, chưa kịp mở miệng, Lục đã bước lên nửa bước, tay đặt lên cửa, đẩy nhẹ.

“Ta đến khám. Cho ta gặp Đường tiên sinh.”

Tiểu đồng lùi lại một nhịp. Nó chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, cho đến khi sáu thị vệ theo sau bước vào không tiếng. Nó chỉ kịp há miệng, chưa kịp kêu, một tên thị vệ đã đặt tay lên miệng nó, bế nó sang góc.

“Không hại ngươi,” ta ghé tai nói. “Nín.”

Tiểu đồng gật gật. Mắt nó chớp một cái nước.


Đường Y Quán bên trong sạch một cách kỳ lạ.

Sảnh trước lát gạch trắng, quét không một hạt bụi. Trên tường treo bốn bức tranh sơn thuỷ, mỗi bức đóng khung gỗ tử đàn. Bên góc phòng có một tủ thuốc lớn, gỗ mun đen, mỗi ngăn nhỏ đề chữ đỏ: cam thảo, đương quy, xuyên khung, bạch chỉ. Trước tủ là bàn khám dài bằng đá phiến, phủ vải trắng.

Sạch quá.

Tiệm thuốc nào cũng có mùi. Cam thảo, đại hoàng, quế chi, ngũ vị tử. Ta bước vào Đường Y Quán, ngửi rất kỹ. Trong không khí có mùi thuốc bắc nhẹ. Ngoài ra còn mùi khác, mờ hơn, chua nhẹ ở đầu mũi, đọng lại trên vòm họng.

Ta biết mùi ấy.

Mùi máu cũ, đã bị rửa nhiều nước và ướp trầm để lấp.

Trong lòng ta lạnh xuống một tầng.

Cửa buồng trong mở. Đường Thanh bước ra.

Ta đã tưởng tượng ra hắn nhiều lần trong đêm qua. Ta nghĩ có lẽ hắn to lớn, mắt sâu, có sẹo. Ta đã sai.

Đường Thanh gầy. Cao hơn Lục Vô Ngạn nửa cái đầu, nhưng vai xuôi, gầy đến mức áo bào lụa trắng của hắn treo trên người như treo trên móc. Tóc bạc hai bên thái dương, búi cao, cài trâm gỗ đàn. Mặt sáng, sạch, không có nếp nhăn sâu. Mắt hắn hiền như mắt tăng nhân, hai bên khoé còn có nét cười ngày thường.

Lục Vô Ngạn thấy hắn thì gật đầu. “Đường tiên sinh.”

Đường Thanh cúi chào rất khoan thai. “Lục thiếu khanh. Sáng sớm… phiền ngài.”

“Ta có việc nhờ tiên sinh.”

“Xin nói.”

Lục Vô Ngạn đưa ra một chiếc kẹp bươm bướm ngọc. Kẹp ấy nằm gọn trong lòng bàn tay hắn, ngọc nõn trắng, cánh bướm mảnh như cánh hoa. Cùng kiểu chiếc kẹp đã tìm được trong túi áo đứa nhỏ thứ tư ở cầu Biện Hà.

“Kẹp này tiên sinh mua ở phường Tây tháng trước?”

Đường Thanh nhìn kẹp. Mắt hắn không đổi. Miệng vẫn cong nhẹ như đang chào một bệnh nhân quen.

“Đúng vậy. Ta mua tặng cháu gái người quen.”

“Cháu gái ấy tên gì?”

“Kim Nhi, con của lão Trịnh bán vải phường Bắc.”

“Kim Nhi được kẹp lúc nào?”

“Đầu tháng.”

“Nàng ta còn sống chứ?”

Đường Thanh khựng nửa giây.

Nửa giây ấy rất mảnh. Người không có nghề nhìn không thấy. Ta thấy. Lục Vô Ngạn thấy. Trong nửa giây ấy, mắt hắn không đổi, nhưng khoé môi giật một nhịp cực nhỏ, như da mí trên co lại một sợi tơ.

Rồi hắn cười tiếp. “Đại nhân sao đùa vậy. Đứa nhỏ khoẻ lắm.”

“Vậy phiền tiên sinh đi cùng ta về Đại lý tự.”

“Ơ…”

“Bây giờ.”

Lục Vô Ngạn không rút đao. Không cần rút. Sáu tên thị vệ đã đứng đúng bốn góc gian sảnh, một ở cửa trước, một ở cửa buồng trong. Đường Thanh nhìn quanh một vòng. Cái nhìn ấy cũng rất mảnh. Nhưng ta thấy nó.

Cái nhìn của một người đang tính đường thoát mà không tính ra.

Hắn cụp mắt xuống. “Vâng. Xin đi.”

Cúi đầu quá dễ. Ta cụp mắt liếc Lục Vô Ngạn. Hắn cũng liếc ta nửa mắt. Không ai nói, nhưng ta biết cả hai cùng nghĩ một điều. Người này quá bình tĩnh.


Lục Vô Ngạn ra hiệu bốn thị vệ giữ Đường Thanh ngoài sảnh. Hắn quay sang ta.

“Ngươi và ta khám kho.”

“Vâng.”

Buồng trong Đường Y Quán chia làm ba lớp. Lớp thứ nhất là phòng khám của Đường Thanh, bàn khám gỗ nạm ngọc, gối tay bằng gấm, dụng cụ bắt mạch xếp thẳng hàng. Sạch một cách phi nghề.

Lớp thứ hai là bếp thuốc, bốn cái lò gốm, ống thổi, bó củi khô, chảo đồng. Trong không khí ám mùi thuốc bắc rất rõ. Trên vách treo mấy chục cân dược thảo phơi khô. Sạch, gọn.

Lớp thứ ba, là cửa gỗ đen.

Cửa ấy đặt cuối bếp, gỗ dày, khoá đồng, không có then ngoài. Then trong. Chỉ có người ở bên trong mới khoá được. Nghĩa là nếu người ở đây, khoá bên trong. Nếu người đi ra, mở khoá, rồi bỏ then.

Then đang treo lỏng.

Nghĩa là có người vừa từ trong đi ra sáng nay.

Ta liếc Lục Vô Ngạn. “Đại nhân, có người vừa ra.”

“Ta thấy.”

Lục Vô Ngạn đẩy cửa. Cửa mở ra, không rít.

Bên trong là kho.

Không lớn. Chỉ khoảng ba mét mỗi bề. Nhưng bên trong, ta ngưng một nhịp.

Trước hết là mùi.

Đúng cái mùi ta ngửi được lúc bước vào sảnh trước, giờ đậm gấp mười. Mùi máu cũ. Mùi thịt ướp muối. Mùi trầm bên trên phủ mà không phủ nổi. Người thường vào là ói. Kiếp trước ta đứng trong phòng lạnh nhà xác cả buổi. Ta không ói. Nhưng ta phất quạt lụa nâu của cha ra, phất trước mặt ba cái, cho có đủ khoảng cách giữa mũi và không khí.

Rồi ta nhìn.

Bên trái là kệ gỗ ba tầng. Trên kệ xếp chai gốm sứ trắng, cỡ vừa lòng bàn tay, mỗi chai bịt nút bằng sáp đỏ. Đếm nhanh: ba mươi hai chai. Trên nút sáp có đóng chữ triện nhỏ, thọ. Chữ triện ấy Đường Thanh đóng làm dấu.

Bên phải là bàn dài, khảm đồng. Trên bàn có dao. Có kéo. Có cưa xương nhỏ, loại thợ mộc dùng cắt tre. Có bốn cái chậu đồng, chậu nhỏ nhất bằng nắm tay, chậu lớn nhất bằng chậu tắm trẻ sơ sinh. Trong chậu lớn còn đọng một lớp gì đó sánh, đã se lại thành cục, màu nâu đỏ.

Ta biết đó là gì. Ta không muốn tin.

Cuối phòng, sát vách, có một hòm gỗ dài. Ta đi tới. Mở nắp.

Trong hòm có bốn tấm vải trắng cuốn.

Ta cởi tấm trên cùng ra.

Bên dưới lớp vải là một đứa nhỏ.

Đứa nhỏ khoảng bảy tuổi. Nam. Gầy. Da xám tro. Trên ngực, một vết mổ đã khâu lại bằng chỉ gai đen, đường khâu dài từ dưới xương ức đến dưới rốn. Đường khâu đều, kỹ, cách nhau đúng nửa phân. Một tay lành nghề khâu.

Cái tay lành nghề ấy là tay Đường Thanh.

Ta đặt mảnh vải trắng lại. Cẩn thận. Nhẹ.

Ta không phất quạt nữa. Ta cụp quạt vào tay áo. Đứng dậy.

Nếu ta phất quạt trước xác đứa nhỏ này, ta không xứng làm ngỗ tác. Người sống cần chặn mùi, người chết cần được tôn.

Bên cạnh ta, Lục Vô Ngạn cũng đã đi tới. Hắn nhìn vào hòm. Ta thấy tay trái hắn ngừng xoay hộ oản gỗ đen. Ngừng hẳn.

Cả hai đứng im nửa canh giờ. Không ai nói.

Rồi Lục Vô Ngạn quay ra. Giọng hắn hạ xuống một tầng, thấp, gằn.

“Trói Đường Thanh. Áp giải về Đại lý tự. Kho niêm phong. Ai bước vào không phép, chém.”

Thị vệ dạ. Ta nghe tiếng chân giày rơm ngoài sảnh chạy về hướng Đường Thanh. Có tiếng vải rách. Đường Thanh chưa kịp kêu.

Trong lòng ta, có gì đó bắt đầu run. Không phải sợ. Là giận. Cái giận rất lâu rồi ta chưa cảm được, giận đến mức cơ hàm cứng lại.

Ta hít một hơi rất dài. Đếm đến bảy. Thở ra. Đếm đến bảy nữa.

Kiếp trước, ta được thầy dạy: giận thì đừng khám. Giận thì lỡ tay.

Ta không lỡ tay. Ta ra lệnh cho lồng ngực mình bình lại.

Ta quay sang Lục Vô Ngạn.

“Đại nhân. Hạ quan xin phép sau khi về Đại lý tự, giải phẫu xác đứa nhỏ này. Cần xem gan còn không.”

“Được.”

Hai chữ. Không thêm.


Về đến Đại lý tự đã giữa giờ tị.

Đường Thanh bị áp giải vào phòng thẩm vấn. Áo bào lụa trắng của hắn bị dây một vết máu ở khuỷu, chắc do va trong lúc bị trói. Ngoài ra hắn vẫn sạch, thẳng, tóc còn cài trâm gỗ đàn.

Ta không vào phòng thẩm vấn. Việc thẩm vấn là việc Lục Vô Ngạn. Việc của ta là xác.

Ta xuống phòng khám tử thi.

Bích Đào đã chờ sẵn. Con bé mười ba, cháu của Diệp Nương, mảnh, tóc buộc kín, khăn xanh nhạt. Diệp Nương gửi con bé sang từ tuần trước làm trợ lý ngỗ tác. Bích Đào không nói nhiều, làm việc nhanh, không sợ xác.

“Đặt xác lên án,” ta nói.

“Vâng.”

Ta rửa tay bằng nước gừng, đến khuỷu. Sau đó rửa nữa bằng nước rượu. Rồi lấy vải trắng bọc khăn tay áo lại, cài kín. Đường Y Quán hôm nay chưa hết. Ta cần khám xác này trước, để có chứng cứ khi Lục hỏi Đường Thanh.

Xác đứa nhỏ nam. Bảy tuổi. Ước trọng khoảng mười cân.

Ta cởi lớp vải trắng cuối cùng. Đứng nghiêng, để ánh đèn dầu chiếu ngang lên vết mổ dọc bụng.

Đường khâu chỉ gai đen. Ba mươi bảy mũi. Ta đếm bằng cách chạm nhẹ đầu bút than lên từng mũi, không rạch. Ta không rạch chỉ. Vết khâu là bằng chứng. Ta chỉ cần biết trong đó có gan hay không.

Ta ấn hai đầu ngón tay lên bụng đứa nhỏ, chỗ dưới xương sườn phải. Chỗ ấy, nếu còn gan, sẽ chắc. Chắc như một quả táo cứng nằm dưới lớp vải bọc.

Bên dưới ngón tay ta, mềm.

Rỗng.

Ta ấn thêm, chỗ khác. Vẫn rỗng.

Gan không còn.

Ta ngẩng lên. Bích Đào đứng bên bàn, cầm đèn dầu, tay hơi run. Con bé đã thấy nhiều xác từ khi vào Đại lý tự, nhưng xác đứa nhỏ vẫn khác. Ta hiểu.

“Bích Đào.”

“Dạ.”

“Ghi. Xác nam. Bảy tuổi ước lượng. Vết mổ dài bảy tấc dọc bụng, đường khâu chỉ gai đen, ba mươi bảy mũi. Bụng dưới xương sườn phải rỗng. Kết: gan đã bị lấy.”

“Vâng.”

Ta không thấy Bích Đào ghi. Ta nghe tiếng bút cào trên giấy. Chậm. Cẩn thận.

Ta khám tay xác. Móng tay đứa nhỏ ngắn, sạch, không có dấu vùng vẫy dài. Không như xác Uyển Cầm. Có nghĩa là khi bị bắt, đứa nhỏ không kịp vùng. Có nghĩa là đứa nhỏ bị bất tỉnh trước khi bị mổ. Ta hy vọng như vậy. Nếu đứa nhỏ tỉnh trong lúc bị mổ, ta sẽ không đủ bình tĩnh viết báo cáo hôm nay.

Ta ngửi khoang miệng. Có mùi ngọt gắt, mùi của một loại thuốc mê. Mùi ấy ta biết. Kiếp trước gọi là cà độc dược. Đại Tống gọi là mạn đà la. Đại Tống dùng mạn đà la trước khi giải phẫu xương.

Ngày ấy Hoa Đà cũng dùng mạn đà la. Bây giờ Đường Thanh cũng dùng.

Cùng một cây thuốc. Người dùng để cứu. Người dùng để giết.

Ta viết vào miếng vải trắng nhỏ:

Đứa nhỏ nam, ước 7 tuổi. Vết mổ dọc bụng 7 tấc, chỉ gai đen 37 mũi. Gan bị lấy hoàn toàn. Miệng có mùi mạn đà la. Móng tay sạch, không dấu vùng vẫy. Suy: đứa nhỏ bị đánh thuốc mê trước khi bị mổ.

Ta gấp giấy, cài vào tay áo bên trái. Đứng dậy.

“Bích Đào. Đắp vải. Không được để hở.”

“Vâng.”

Con bé phủ vải, chậm rãi, hai đầu vải kéo đều. Sau khi phủ, con bé chắp tay trước ngực đứa nhỏ, đứng nhắm mắt một nhịp. Ta không nói. Ta biết con bé cần khoảnh khắc đó. Ta chờ.

Sau một nhịp, con bé mở mắt. “Sư phụ, con dọn xong.”

“Ừ.”


Phòng thẩm vấn của Đại lý tự nằm ở tầng dưới, sát nhà giam. Tường đá dày, chỉ có một cửa sắt và hai lỗ thông gió trên cao. Đèn dầu treo bốn cây, để tránh bóng đè lên mặt kẻ bị thẩm.

Khi ta vào, Đường Thanh đã ngồi trên ghế gỗ giữa phòng. Tay trói sau lưng, chân trói vào chân ghế. Áo bào lụa trắng đã rách một mảng ở cổ, tóc xổ xuống một nửa. Mặt hắn vẫn không đổi mấy. Chỉ có mí mắt hơi sụp hơn ban sáng.

Lục Vô Ngạn ngồi đối diện, bàn dài, trên bàn có một tập sổ. Sổ bìa da đen, mép cạnh sờn.

“Đại nhân,” ta chắp tay.

“Ngỗ tác Thẩm. Ngồi.”

Ta ngồi bên tay trái Lục. Đối diện Đường Thanh chéo góc.

Ta không nhìn Đường Thanh trước tiên. Ta nhìn sổ.

Sổ ấy Lục vừa lấy từ kho ngầm ra. Bìa da đen, khoá đồng nhỏ, đã bị chặt đứt. Trên bàn còn lưỡi dao găm của thị vệ dùng chặt khoá.

Lục Vô Ngạn hỏi Đường Thanh, giọng vẫn phẳng.

“Đường tiên sinh. Trong kho ngầm, tìm được xác một trẻ nam. Ba mươi hai chai gốm nút sáp đỏ, khắc chữ ‘thọ’. Bốn chậu đồng, dụng cụ mổ. Sổ này. Tiên sinh muốn khai từ đâu?”

Đường Thanh nhìn Lục. Rồi nhìn ta. Rồi cụp mắt xuống bàn.

Hắn cười khẽ.

Cái cười ấy làm ta lạnh gáy hơn cả kho ngầm.

“Ta khai,” hắn nói. Giọng hắn vẫn dịu, vẫn kiểu thầy lang giữ gìn miệng khi khám bệnh. “Ta không giấu. Ta khai hết. Nhưng đại nhân, trước khi ta khai, ta xin một điều.”

“Xin gì?”

“Xin ngài đừng gọi ta là ‘kẻ sát nhân’. Ta không phải sát nhân. Ta là thầy lang.”

Ta đặt tay lên bàn. Rất nhẹ.

“Tiên sinh,” ta nói. “Trong kho tiên sinh có xác trẻ bảy tuổi bị mổ lấy gan. Trên bàn tiên sinh có bốn chậu đồng còn dính máu khô. Chậu lớn nhất bằng chậu tắm sơ sinh. Tiên sinh không phải sát nhân, tiên sinh là gì?”

“Người cứu người.”

Ta không đáp.

Đường Thanh ngẩng lên. Nhìn thẳng ta. Lần đầu từ sáng ta thấy mắt hắn thực sự có ánh. Ánh ấy hắn giấu bao lâu, giờ để ra.

“Ngỗ tác Thẩm,” hắn nói. “Ngươi trẻ. Ngươi chưa biết. Ta đã cứu hai mươi tư quý nhân trong ba năm. Có Thượng thư mắc lao phổi. Có Vương phi mắc kinh phong. Có công chúa út mắc đậu mùa. Bọn họ đều sống. Nhờ thuốc ta. Nhờ gan trẻ.”

Ta không đáp. Ta để hắn nói.

“Trẻ nghèo phường Bắc chết đói mỗi ngày. Không ai để ý. Ta chọn lấy vài đứa. Cho ăn ba ngày. Đánh mê bằng mạn đà la. Không đau. Không sợ. Rồi ta lấy gan. Bào chế ba tháng. Thành thuốc tăng thọ. Bán một chai năm trăm lượng. Trong ba tháng vừa qua, ta bán năm chai. Cứu năm mạng quý. Đổi lại, năm đứa nhỏ. Đại nhân, đó là cứu người. Không phải giết người.”

Hắn nói một câu dài mà không thay đổi giọng. Như đọc kinh.

Ta liếc Lục Vô Ngạn. Mặt hắn không đổi. Nhưng tay trái đã lại xoay hộ oản gỗ đen. Xoay nhanh hơn ban sáng.

Ta hít một hơi. Rồi ta nhìn Đường Thanh.

“Tiên sinh. Ta hỏi tiên sinh một câu. Nếu năm đứa nhỏ ấy là con tiên sinh, tiên sinh có mổ không?”

Đường Thanh khựng nửa nhịp.

“Con ta là con ta.”

“Vậy con của mẹ khác không phải con?”

“Trẻ nghèo phường Bắc…”

“Trẻ nghèo phường Bắc là con của mẹ nào đó,” ta cắt lời hắn. Lần đầu ta cắt lời một kẻ bị thẩm. Ta không hối. “Đêm qua có một người đàn bà phường Bắc đứng ở cầu Biện Hà, cầm nắm gạo cuối cùng trong nhà rắc xuống nước. Bà ta rắc gạo cho đứa nhỏ mất tích của mình. Bà ta không biết con đã ở kho tiên sinh.”

Ta không lớn tiếng. Ta chỉ đè giọng xuống. Nhưng câu ấy có sức nặng như đè tảng đá lên nắp giếng.

Đường Thanh không đáp. Lần đầu từ sáng, mí mắt hắn giật một cái.

Ta không thúc. Ta chờ.


Lục Vô Ngạn mở sổ.

Sổ ba mươi mấy trang. Chữ mực đen, viết đứng, chân phương, ngày tháng ghi rõ. Cột đầu, ngày. Cột hai, thuốc. Cột ba, khách. Cột bốn, bạc.

Ba tháng qua, Đường Thanh bán năm chai thuốc.

Tên khách hàng, hắn viết bằng ám hiệu. Không phải tên đầy đủ. Theo lệ ngành, viết chữ đầu và chữ cuối, giữa chấm.

Ta đọc từng dòng.

Ngày mười lăm tháng ba. Thọ đan một chai. Vương ph. Năm trăm lượng.

Ngày mười tám tháng ba. Thọ đan một chai. Lý th. Bốn trăm tám mươi lượng.

Ngày mùng hai tháng tư. Thọ đan một chai. Từ h. Năm trăm lượng.

Ngày mười bảy tháng tư. Thọ đan một chai. Đ. Thư. Năm trăm lượng.

Đến dòng thứ năm.

Ta ngưng đọc.

Mực trên dòng ấy có gì đó khác. Đường Thanh dùng loại mực đen kỹ, viết khô ráo. Nhưng dòng thứ năm, tên khách hàng bị viết chồng nhiều nét, mờ hơn các dòng khác. Như thể lúc viết, hắn đã dừng một nhịp, đè lại, tô lại một lần nữa. Rồi lại dừng.

Ta nghiêng sổ về phía đèn dầu.

Ngày hai mươi tám tháng năm. Thọ đan một chai. T. Nguyên C. Năm trăm lượng.

T. Nguyên C.

Ba chữ. Chấm giữa.

Ta ngồi im.

Trong đầu ta, một sợi dây khẽ khàng nối lại. Sợi vải xanh non chương bảy. Dấu tem Trương phủ trên vò diêm thổ trong kho Vương thị lang. Trương Nguyên Chương. Lễ bộ thượng thư.

Bây giờ. Ba chữ T. Nguyên C. trong sổ giao dịch của Đường Thanh.

Trong cả triều Đại Tống, có bao nhiêu người có ba chữ đầu và chữ cuối trùng đủ để tô thành T. Nguyên C.? Ta đếm nhẩm trong đầu. Không quá ba người. Trong ba người ấy, chỉ một người đủ giàu để mua thuốc tăng thọ năm trăm lượng một chai.

Trương Nguyên Chương.

Ta ngẩng lên. Lục Vô Ngạn đã nhìn ta. Mắt hắn thẳng, dài, sâu. Trong mắt ấy không có ngạc nhiên. Có một tầng gì đó ta chưa gọi tên được, nhưng ta biết. Hắn đã nghĩ đến Trương từ trước.

Ta khẽ xoay sổ lại, chỉ đầu bút than vào dòng thứ năm.

“Đại nhân. Tên khách hàng cuối này…”

“Ta thấy.”

Hai chữ.

Ta không nói thêm. Trong phòng thẩm vấn, có hai kẻ đứng ngoài canh, không thể để lộ. Ta cụp mắt xuống bàn. Lục Vô Ngạn cũng cụp mắt.

Đường Thanh ngồi đối diện. Hắn không thấy dòng thứ năm ta chỉ vào là dòng nào. Nhưng ta thấy. Cổ hắn bắt đầu có mồ hôi. Vệt mồ hôi chạy từ dưới trâm gỗ đàn xuống đến cổ áo, trong ánh đèn dầu, ướt loang một mảng.

Ta hỏi hắn, giọng vẫn phẳng.

“Đường tiên sinh. Khách cuối cùng ngày hai mươi tám tháng năm, ai?”

Đường Thanh không đáp.

Ta đợi. Đèn dầu chảy xuống bàn một giọt sáp vàng. Lục Vô Ngạn không thúc. Ta cũng không.

“Không nhớ,” Đường Thanh nói. Lần đầu giọng hắn có vết run rất nhỏ.

“Sổ của tiên sinh, tiên sinh không nhớ?”

“Không nhớ.”

“Vậy ta viết vào báo cáo là ‘khách không rõ’?”

“Vâng.”

Ta gấp sổ lại. Nhẹ. Không đóng mạnh.

“Được. Ta viết ‘khách không rõ’.”

Ta ngẩng lên nhìn Đường Thanh. Bây giờ hắn không dám nhìn lại ta. Mí mắt hắn cụp thấp.

Bên trong ta lạnh và yên. Đá giếng đáy nước. Ta không cần Đường Thanh khai. Sổ đã khai giùm. Ba chữ T. Nguyên C. đã khai giùm. Vết mực chồng đã khai giùm.

Người xưa dạy: gieo gió gặt bão. Đường Thanh giết trẻ nghèo trong ba tháng, hôm nay chưa gặt hết. Người đứng trên hắn còn chưa gặt.


Ta đứng dậy.

“Đại nhân. Hạ quan xin phép về phòng viết báo cáo.”

“Được. Đi.”

Ta chắp tay chào Lục. Bước ra khỏi phòng thẩm vấn. Cánh cửa sắt đóng lại sau lưng ta, tiếng vang dội xuống hành lang đá.

Ngoài hành lang, sương đã tan. Ánh nắng buổi giờ ngọ chiếu chéo qua khung cửa mái, đổ xuống nền một vệt vàng dài. Ta đứng trong vệt vàng ấy một nhịp. Hít thở. Đếm đến bảy.

Trong tay áo ta có ba miếng vải trắng. Một miếng ghi báo cáo giải phẫu đứa nhỏ. Một miếng ghi ba dòng khách hàng đầu. Một miếng, ta rút ra, cầm bằng hai đầu ngón.

Trên miếng ấy, ta chưa ghi gì.

Ta cắn nhẹ đầu bút than.

Rồi ta viết. Chậm. Đè xuống mạnh.

Ngày 28 tháng 5. Thọ đan 1 chai. T. Nguyên C. 500 lượng.

Bên dưới ba dòng, ta viết một dòng nữa, chữ nhỏ hơn:

Manh mối lớn thứ hai.

Ta cuộn miếng vải lại. Nhét vào ngực áo, sát bên mảnh giấy đêm qua ta đã ghi Đường Thanh, gan. Hai mảnh chồng lên nhau, ép vào lớp vải dày quấn ngực, chạm da lạnh.

Lạnh mà yên.


Đêm ấy về nhà, mẹ nuôi đã ngủ. Ta ngồi trước án thư trong phòng riêng, thắp một cây đèn dầu. Mở sổ tay ra.

Trang trước ta đã viết: Trương Nguyên Chương, mắt xích 1. Lục Vô Ngạn có bí mật với Trương.

Trang này ta lật sang, ghi tiếp.

Ngày 28 tháng 5. T. Nguyên C. mua Thọ đan Đường Thanh. Thọ đan bào chế từ gan trẻ. Vụ Vương phủ (giếng): diêm thổ dấu Trương. Vụ Đường Y Quán: thuốc bào chế bằng trẻ, Trương mua. Hai vụ. Hai kiểu tội. Một tên chung.

Ta ngừng bút. Nhìn vào ngọn đèn dầu.

Ngọn đèn cháy đều. Bóng đèn nhảy nhẹ trên mặt giấy. Ta thấy trong ánh đèn hình ảnh cha ta. Hai năm trước cha ta chết bất minh. Cha ta là ngỗ tác Đại lý tự. Cha ta khám vụ nào trước khi chết? Ta chưa biết. Nhưng ta bắt đầu ngờ.

Ta lật sang một trang trắng. Viết một dòng cuối.

Ngày mai, xin phép Lục đại nhân, tra hồ sơ cha trong kho Đại lý tự.

Ta thổi đèn. Ngồi im trong bóng tối.

Bên ngoài, tiếng canh ba vừa gõ. Ba tiếng gỗ khô, gõ vào đêm Biện Kinh như bút mực đỏ khắc lên bảng án.

Trong lòng ta, có một sợi dây mảnh vừa buộc thêm một nút.

Nút thứ hai.

Còn ba, bốn nút nữa. Rồi sợi dây sẽ đủ dài để thắt cổ ai.

Ta chưa biết ai sẽ vào tròng trước, người ngồi ghế thượng thư, hay chính ta. Nhưng đêm nay, ta cho phép mình nghĩ đến câu ấy. Chỉ một đêm thôi.

Sáng mai ta lại là hạ quan Thẩm Yên. Bổng lộc ba lượng một tháng. Ngỗ tác Đại lý tự. Mặt phẳng. Câu ngắn.

Ta đặt tay lên ngực, chạm mảnh giấy mới ghi. Rồi ta nhắm mắt.

Ngoài cửa sổ, sương đêm bắt đầu rơi trên mái ngói.