Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 9: Xác Trẻ Con Cầu Biện Hà
Mưa cuối tháng hai rơi từ đêm hôm trước, đến sáng chưa dứt.
Sương thấp trên mái Đại lý tự, đọng thành một tầng mỏng nhưng dày như tro ướt. Đá phiến ngoài sân loang lổ, chỗ ứ nước, chỗ hằn dấu giày rơm. Nha lại đi lấy nước sáng đã đi từ giờ Dần, không ai nói lớn. Cả cái sân này giữ giọng bằng nửa hơi thở, giống một phòng khám tử thi mở cửa quanh năm.
Ta đứng dưới hiên phòng khám tử thi, chờ.
Hai tuần trước, vụ Vương phủ đóng lại. Vương Kiêu bị áp giải ra pháp trường ngoài cửa Tây, chém đầu vào giờ Ngọ. Vương thị lang bị đuổi khỏi triều, tài sản sung công một nửa. Ba viên tem sáp đỏ khắc chữ “Trương phủ” mà ta và Lục đại nhân tìm được trong kho ngầm phủ Vương, hiện đang ở đâu, chỉ có hai người biết. Ta biết một nửa. Lục Vô Ngạn biết cả.
Đêm cuối vụ ấy ta thắp một cây nến trầm hương trong phòng riêng, ngồi trước sổ tay, viết tám chữ:
Trương Nguyên Chương. Lục Vô Ngạn giấu gì.
Rồi ta gấp sổ. Cất trong lớp áo trong.
Từ hôm đó tới nay, ta và hắn gặp nhau mỗi ngày trên sân Đại lý tự. Chào bằng bốn chữ: “Lục đại nhân.” “Thẩm ngỗ tác.” Không ai nhắc tem sáp đỏ. Không ai nhắc phủ Vương. Cả hai đều biết cái tên “Trương Nguyên Chương” nằm giữa mình, như một hòn đá lạnh dưới đáy nước giếng, chưa ai kéo lên.
Ta thấy cũng được. Đá lạnh dưới đáy giếng có việc riêng của nó. Người khám xác có việc riêng của người khám xác.
Có tiếng bước lên hiên.
Lục Vô Ngạn khoác trường bào đen nhạt màu vì mưa. Vai áo còn bám sương. Tay trái vẫn xoay chậm chiếc hộ oản gỗ đen, cái xoay quen thuộc mà cả Đại lý tự này chắc chỉ có mình ta để ý. Hắn đến trước mặt ta, đưa một tờ công văn đã cuộn nhỏ.
“Vụ mới.”
Ta nhận. Mở ra dưới hiên. Chữ triện huyện nha phường Bắc, mực còn hơi ướt.
Cầu Biện Hà cửa Bắc. Rạng sáng nay, tuần đinh vớt được một xác trẻ nhỏ dạt vào chân cầu, ước lượng bảy tám tuổi. Đây là xác thứ năm trong ba mươi ngày. Bốn xác trước còn giữ trong phòng lạnh tạm huyện nha, chưa xử.
Ta đọc chậm. Đọc xong ngước lên.
“Bốn xác trước không chuyển Đại lý tự.”
“Không.” Lục Vô Ngạn nhìn thẳng ta. “Huyện nha giữ. Kết án ‘trẻ đi lạc chết đuối’. Đóng. Ba lần liên tiếp.”
“Đến lần thứ năm mới báo Đại lý tự?”
“Đến lần thứ năm mới có người gõ trống lớn ngoài phủ.” Hắn ngưng một nhịp. “Một bà mẹ. Con bà mất tích mười ngày. Bà nghe tin cầu Biện Hà lại vớt được xác nhỏ, bà tự đi ra xem. Không phải con bà. Nhưng bà quỳ ngoài phủ Đại lý tự từ canh năm, không đứng dậy.”
Ta khẽ hít vào một hơi.
Một xác không đủ để một người mẹ quỳ. Ba mươi ngày năm xác, mới đủ.
“Hạ quan xin đi.”
“Đi cùng ta.”
Ta gật. Xức nhẹ nước hoa trầm hương sau tai, sau cổ tay. Mùi trầm chìm dưới lớp vải bố áo trong, thấm ra ngoài chỉ còn nửa. Đủ để vào phòng năm xác trẻ mà mắt không nhoè.
Kiếp trước ta xức nước hoa để đi trực đêm bệnh viện. Kiếp này ta xức để bước qua cửa phòng lạnh có năm đứa bé nằm.
Ta thấy trong lòng có gì đó nhói lên rất khẽ, nhưng mặt vẫn phẳng. Một ngỗ tác không được run tay. Đó là điều đầu tiên cha ta viết trong quyển tay nghề ta tìm được trong hộp gỗ mẹ nuôi giữ. Không được run tay. Không được chớp mắt. Không được nghiêng người tránh. Xác chờ ngươi đọc, ngươi không nợ ai một cái nheo mắt.
Ta cầm quạt cha để lại trong tay áo. Không mở. Bước theo Lục Vô Ngạn ra sân.
Ngựa xám của ta hôm nay đã được nha lại thay yên khô. Ngựa đen của hắn đã chờ sẵn. Mưa nhỏ hạt, xám mượt như tro trên áo. Ra khỏi cổng Đại lý tự, hắn ghì cương chậm lại nửa bước, để ngựa xám ta lên ngang. Chuyện này hai tuần nay hắn làm quen tay, mà chưa lần nào nói.
Ta cũng chưa lần nào cảm ơn.
Đi được nửa canh giờ, tới ngã ba đường vào phường Bắc. Sương lúc này đã nhạt hơn, nhưng khí lạnh còn đọng trong ống áo. Ta liếc hắn nửa mắt.
“Đại nhân.”
“Nói.”
“Bốn xác giữ mấy ngày rồi?”
“Xác thứ nhất, hai mươi bảy ngày. Xác thứ hai, hai mươi mốt. Xác thứ ba, mười lăm. Xác thứ tư, tám. Xác thứ năm, sáng nay.”
Hắn nói theo trí nhớ, không mở giấy.
Ta nhẩm trong đầu. Phòng lạnh tạm của huyện nha phường Bắc xây trên hầm đá, mùa này giữ được xác trong khoảng hai mươi lăm ngày mà không nát. Xác thứ nhất là ngưỡng. Nếu không giải phẫu hôm nay, ngày mai mai lỡ.
“Hạ quan xin phép mở khoang bụng.”
Hắn liếc ta. “Cả năm?”
“Cả năm. Không mở, không đọc được kẻ giết.”
Hắn im nửa nhịp. Ánh mắt hắn xuống ngang mặt nước bên đường, mặt nước đen của kênh Biện Hà đang chảy chậm, phản một dải trời xám. Rồi hắn gật, ngắn.
“Ta xin thay công văn. Ngươi cứ mở.”
Ta không nói cảm ơn.
Trong lòng ta ghi một dòng: Lục Vô Ngạn là loại thiếu khanh trả lời “được” trước khi ngỗ tác kịp giải thích lý do.
Cái đó, trong nghề của ta, đáng giá một canh giờ suy luận.
Huyện nha phường Bắc nhỏ hơn Đại lý tự bốn lần, mà phòng lạnh tạm nằm dưới hầm, sâu ba bậc đá. Cầu thang xuống ẩm mốc, rêu bám hai bên. Ta cầm đèn dầu, đi trước. Lục Vô Ngạn đi sau. Huyện lệnh phường Bắc, một ông già tứ phẩm có cái bụng phệ và nét mặt của kẻ ngại phiền, đứng lại nửa bậc, không dám xuống.
“Lục thiếu khanh, chuyện này…”
“Ngươi ở trên đợi.” Lục Vô Ngạn không quay đầu. “Ta xuống. Ngỗ tác xuống. Ai còn xuống nữa, chậm nhất là canh giờ sau viết bản kiểm.”
Ông già cụp mắt. Không nói tiếp.
Ta bật cười khẽ trong lòng. Bằng bốn chữ “canh giờ sau viết bản kiểm”, hắn dọn cả tầng người tọc mạch phía trên.
Cửa hầm lạnh nặng, kéo ra kêu khô khan. Bên trong, mùi rất đặc trưng ập vào, cái mùi ta không cần miêu tả. Mùi năm xác trẻ nhỏ giữ trong hầm đá gần một tháng.
Ta phất quạt cha để lại trước mặt hai cái. Trầm hương xức lúc sáng bốc lên chậm, quẩn vào lụa cũ. Đủ chặn một nửa mùi. Nửa còn lại, ta không tránh. Ta bước vào.
Năm xác nằm trên năm cái bàn tre. Vải trắng phủ đến vai. Ánh đèn dầu vàng khật khừ chiếu lên vải, thân tre, đá tường ẩm. Không tiếng nào cả, ngoài tiếng nước rỏ từ đầu tường.
Ta đặt đèn xuống án gỗ giữa phòng. Lục Vô Ngạn đóng cửa hầm sau lưng, thắp thêm hai cây đèn dầu ở góc. Ánh sáng đều hơn.
“Ta bắt đầu từ xác thứ năm,” ta nói. “Còn tươi nhất.”
Ta bước tới bàn cuối.
Vén vải trắng.
Một bé gái. Bảy tám tuổi. Người gầy, tay nhỏ, gót chân chai. Mái tóc còn quấn một sợi dây gai đã bạc màu. Da xám nhạt vì nước sông, nhưng chưa phù. Chỉ khoảng nửa ngày trong nước.
Ta hít nhẹ. Bắt đầu.
Ngực trái. Áo mỏng nhuộm nước, thủng một vết. Ta cởi cúc áo trong, vén sang, để hở ngực bên trái. Vết đâm nằm dưới xương đòn khoảng một tấc, chếch chéo. Miệng vết nhỏ, gọn, dài chừng nửa tấc. Vết vào chéo từ trên xuống, từ trái người khám sang phải người khám. Nhưng nằm trên xác, chiều lại đảo.
Kẻ đâm đứng đối diện nạn nhân, đâm bằng tay trái. Từ vai trái nạn nhân xuống dưới bên phải, đi vào ngang tim.
Ta ấn hai đầu ngón tay lên hai bên miệng vết, nhẹ. Da tách ra, để lộ đường vết sâu. Không rách xoẹ. Không đâm nhiều lần. Một nhát. Một tay. Một hướng.
Người đâm biết chỗ đâm. Vào tim.
Ta đứng thẳng dậy, nói khẽ với Lục Vô Ngạn ở góc phòng:
“Xác này, đâm chết bằng tay trái. Một nhát vào tim. Kẻ giết thuận tay trái.”
Hắn gật. Ghi vào giấy.
Ta vén vải bốn xác còn lại lần lượt. Xác thứ tư, bé trai, khoảng chín tuổi. Xác thứ ba, bé gái, sáu tuổi. Xác thứ hai, bé trai, tám tuổi. Xác thứ nhất, bé gái, đã tím đen, phù nề, khó nhìn.
Cả năm, cùng một vết đâm.
Cùng một chỗ dưới xương đòn trái. Cùng một chiều chéo trên xuống. Cùng một nhát. Cùng gọn. Cùng biết đâm chỗ nào chết ngay.
Ta đặt tay lên trán bé gái tím đen ở bàn đầu. Da lạnh, cứng. Nàng đã chết đủ hai mươi bảy ngày rồi. Trên trán còn đọng một sợi tóc mỏng bết lại.
Đứa nhỏ này đi lạc mười ngày trước khi chết, hay đứa nhỏ này bị bắt đi mười ngày trước khi bị đâm, ta chưa biết. Nhưng có một điều ta biết chắc.
Kẻ giết là một người. Không phải năm người ngẫu nhiên. Kẻ ấy đâm quen tay. Đâm để chết, không đâm để hành hạ.
Ta nói ba câu công thức, giọng thấp và bằng, cho Lục Vô Ngạn ghi:
“Xác nhận: cả năm cùng vết đâm ngực trái. Nguyên nhân: đứt động mạch tim. Cơ chế: một tay trái, đâm chéo từ cao xuống thấp, một nhát.”
Ngưng.
“Cùng người giết.”
Lục Vô Ngạn ngẩng mặt. Ánh đèn dầu vàng chạy dọc quai hàm hắn.
“Một kẻ giết năm đứa trẻ trong ba mươi ngày.”
Ta gật.
“Trẻ nhà nghèo,” hắn nói khẽ.
“Chưa xác nhận.”
Ta xoay lại xác thứ năm. Rút trong tay áo ra một con dao mổ mỏng, cán trúc, lưỡi ta tự mài từ mảnh sắt ngỗ tác trong hộp cha để lại. Đủ nhỏ để đi qua đường vết đâm, đủ mỏng để rạch dạ dày mà không rách các phần khác.
Ta rạch mở khoang bụng theo đường dọc từ dưới xương ức xuống rốn. Đường mở dài ba tấc. Đủ để thấy dạ dày.
Dạ dày còn nguyên, chưa phân huỷ nhiều. Trong dạ dày có chất đặc đã lên men chua. Ta dùng đầu dao gạt nhẹ. Có gì đó lấm tấm màu vàng nhạt, nhỏ như hạt cát nhưng hơi to hơn.
Hạt kê. Kê thô. Loại kê chưa xay kỹ, còn vỏ. Con nhà nghèo phường Bắc ăn kê thô độn với khoai sáng chiều. Nhà quý tộc không ăn kê thô. Nhà buôn vừa vừa cũng không.
Kê thô chỉ có nhà rất nghèo, hoặc nhà chùa quét chợ.
Ta cắn môi trong nửa nhịp. Rồi mở luôn xác thứ tư, xác thứ ba, xác thứ hai, xác thứ nhất. Mỗi cái, ta rạch một đường ngắn hơn. Chỉ xem dạ dày. Xong khâu tạm bằng chỉ gai.
Cả năm dạ dày.
Cả năm đều có kê thô.
Ta đặt dao mổ xuống án. Lau tay bằng miếng vải trắng. Ngồi xuống ghế gỗ.
Một canh giờ trôi qua trong hầm đá không nói.
“Đại nhân.”
“Ta nghe.”
“Cả năm đứa đều ăn kê thô trước khi chết. Không phải một đứa. Không phải hai. Cả năm. Đây không phải trẻ đi lạc mỗi đứa một chỗ. Đây là trẻ bị nuôi cùng chỗ trước khi bị giết.”
Ta ngưng.
“Kẻ giết bắt trẻ nghèo, nuôi vài ngày, rồi đâm.”
Lục Vô Ngạn không đáp ngay. Hắn đứng dựa vách đá, tay trái xoay hộ oản gỗ đen. Xoay chậm. Chậm hơn ban sáng. Ánh đèn dầu chạy qua mắt hắn, không thấy được chiều sâu.
“Vì sao nuôi?” hắn hỏi.
“Chưa biết.”
Ta cắn răng nói thật.
“Kiến thức của hạ quan cho tới đây thôi. Hạ quan biết cách chết. Chưa biết mục đích của người bắt.”
Lục Vô Ngạn im nửa nhịp, rồi khẽ nói:
“Ta có thể có một cái tên. Nhưng chưa nói.”
Ta liếc hắn.
Trong lòng ta nổi lên hai chữ: Trương Nguyên Chương. Nhưng ta không nói ra. Ta biết hắn biết ta đang nghĩ gì. Hắn biết ta biết hắn đang nghĩ gì. Cả hai đều giữ cái tên ấy trong họng, chưa nhả.
Đá lạnh dưới đáy giếng.
Ta nhắm mắt hai nhịp thở. Mở ra.
Vấn đề bây giờ là danh tính năm đứa trẻ. Chưa có gia đình nào nhận. Không có đứa nào mang đồ tuỳ thân. Áo quần rách rưới, không thêu tên, không dấu.
Chỉ có mặt.
Nhưng mặt của bốn xác đã biến dạng. Xác thứ nhất tím đen. Xác thứ hai phù nề. Xác thứ ba méo lệch. Xác thứ tư còn nhận được, nhưng chỉ hai gò má.
Kiếp trước, ở phòng pháp y bệnh viện, khi mặt nạn nhân không nhận được, người ta gọi kỹ thuật viên phục dựng khuôn mặt bằng đất sét, đắp lên hộp sọ, xây lại má, mũi, miệng theo cấu trúc xương.
Kiếp này, không có kỹ thuật viên. Không có sách dạy. Không có đất sét chuyên dụng.
Nhưng có ta.
Ta thở ra chậm. Đứng dậy.
“Đại nhân. Hạ quan xin phép mượn phòng làm hai ngày. Xin thêm đất sét mịn phường Đông, một cân son đỏ, một cân son trắng, và một hộp bột lúa mì. Cả bốn xác kia, hạ quan không dời khỏi hầm này. Chỉ mượn hộp sọ.”
Lục Vô Ngạn ngước lên. Chuyện ta xin, không phải chuyện dễ đồng ý. Mượn hộp sọ để… nặn mặt bằng đất sét? Trong triều Đại Tống, cái ý này lạ đến mức chưa có chữ để gọi. Hắn có thể đuổi ta khỏi phòng. Có thể tố giác ta lên đề hình ti tội “tà thuật”.
Hắn không.
Hắn nhìn ta ba nhịp, rồi hỏi một câu.
“Nặn ra có giống mặt lúc sống không?”
“Bảy phần mười.”
“Đủ để mẹ nhận con?”
“Đủ để mẹ nhận.”
Hắn gật.
“Ngày mai giờ Thìn ta cho chuyển đến. Ngươi cần thêm gì, ghi ra giấy.”
Ta cúi đầu.
“Đa tạ đại nhân.”
Ta đóng vải trắng lên năm xác. Ba lần vén, ba lần đắp lại. Bàn tay ta không run. Nhưng khi đắp vải lên xác thứ ba, con bé gái sáu tuổi, ta có dừng nửa nhịp. Ngón trỏ tay phải ta khẽ chạm vào bên má nàng. Da lạnh. Trên má có một vệt gì đó rất mờ, như vết bùn khô. Ta cạo nhẹ. Không phải bùn. Là bột trắng. Nhìn kỹ dưới đèn, ánh trắng đục.
Ta gạt vào miếng vải trắng. Cuộn cất trong tay áo.
Không nói với Lục Vô Ngạn ở phòng đó. Không phải giấu. Chưa đủ chắc, chưa nói. Đó là quy tắc pháp y. Không có sách, chưa mách.
Ra khỏi hầm đá, mưa đã tạnh. Trời còn xám. Sương chưa tan.
Trước cổng huyện nha phường Bắc, có một người đàn bà quỳ. Áo bố nâu, đầu bịt khăn trắng. Không khóc lớn, không kể lể. Chỉ quỳ. Lưng thẳng như một cây tre chưa gãy nhưng đã bị bẻ nửa vòng. Bên cạnh bà, có một cái làn nhỏ, trong làn có một bát cơm nguội và một chiếc khăn trẻ con thêu chữ “Cát”.
“Đại nhân,” ta nói khẽ với Lục Vô Ngạn.
“Ta thấy.”
Hắn bước tới trước người đàn bà. Cúi đầu, không cao.
“Bà là ai?”
“Bẩm đại nhân, tôi họ Điền, nhà ở phường Bắc, ngõ hai. Con tôi tên Cát, năm nay bảy tuổi. Mất tích mười một ngày trước.” Bà ngước lên. “Tôi nghe cầu Biện Hà lại vớt được xác nhỏ. Tôi ra xem. Không phải con tôi. Nhưng tôi xin đại nhân… nếu ngày mai lại có xác…”
Bà không nói hết câu. Cúi đầu.
Ta đứng sau Lục Vô Ngạn nửa bước. Trong tay áo ta có bốn miếng vải trắng ghi bốn dạ dày. Trong ống áo ta có một mảnh vải cạo bột trắng ở má bé gái sáu tuổi. Trong lòng ta có một cân son đỏ chưa mua và một khối đất sét chưa đến.
Ta bước lên nửa bước.
“Bà Điền,” ta nói, giọng thấp. “Con bà mặc áo gì lúc mất?”
Bà ngước lên nhìn ta. Nhìn hạ quan Thẩm Yên, mười tám tuổi, gầy, mặt lạnh, một cái nhìn của bà mẹ đánh giá một đứa trẻ trai mà bà không quen. Rồi ánh nhìn dịu lại.
“Áo bố xanh cũ. Trên vai có một miếng vá đỏ, tôi vá bằng vải khố cũ của chồng tôi mất năm ngoái.”
“Còn tóc?”
“Buộc một dây gai bạc.”
Ta gật đầu chậm. Trong lòng ghi hai dòng. Áo bố xanh cũ. Miếng vá đỏ vai.
Không giống áo của xác thứ năm, xác thứ tư, xác thứ ba. Ba xác kia áo bố nâu. Xác thứ hai và xác thứ nhất, áo đã tan nát trong nước, không đọc được.
Con bà Điền có thể chưa nằm trong hầm này. Hoặc, nếu đã nằm, thì phải là xác thứ hai hoặc thứ nhất. Hai xác đó, mặt không nhận được.
Đến lúc đất sét về.
“Bà đứng dậy,” ta nói. “Hai ngày nữa xin bà quay lại. Hạ quan xin phép giữ mọi xác trong Đại lý tự cho đến khi tìm ra danh tính.”
Bà Điền nhìn ta lâu, rồi cúi mặt xuống đá. Không cúi để lạy. Cúi để giấu nước mắt.
Lục Vô Ngạn khẽ chạm nửa nhịp lên vai ta. Không phải kéo. Chỉ nhắc. Ra xe.
Ta lùi lại.
Hai ngày sau. Giờ Ngọ.
Trong phòng khám tử thi Đại lý tự, ba khối đất sét đã ướt vừa tay. Bột lúa mì trộn với son trắng để làm nền da. Son đỏ pha với dầu vừng, quét môi. Ta nặn bốn khuôn mặt lên bốn hộp sọ. Xác thứ nhất, xác thứ hai, xác thứ ba, xác thứ tư. Xác thứ năm không cần, mặt còn nhìn được.
Bốn khuôn mặt đất sét.
Bốn đứa trẻ nghèo phường Bắc, hoặc phường Nam, hoặc chợ rìa nào đó của Biện Kinh mà bà mẹ nào đó chưa bước qua Đại lý tự.
Ta đứng dậy khỏi ghế. Tay còn dính bột trắng. Tóc buộc cao kiểu thư đồng đã ra một hai sợi rơi ngang tai. Ta gạt vào sau tai. Trong ánh đèn dầu buổi trưa muộn, ta thấy Lục Vô Ngạn đứng bên cửa, nhìn bốn khuôn mặt đất sét, im.
“Ngươi làm được,” hắn nói. Không phải hỏi. Không phải khen.
“Được bảy phần mười,” ta đáp.
“Đủ.”
Hắn quay ra ngoài. Gọi nha lại.
“Cho gọi ba mươi bà mẹ mất con trong ba mươi ngày ở phường Bắc, phường Nam, chợ Vĩnh Bình. Đến Đại lý tự. Chiều nay. Từng người vào phòng khám. Không được nhìn nhau. Không được nói với nhau.”
Nha lại chắp tay. Đi.
Ta đứng bên bốn khuôn mặt đất sét. Bên xác thứ năm phủ vải trắng. Cả năm đứa nhỏ chờ.
Ba mươi ngày. Năm cái chết. Kê thô trong dạ dày. Một tay trái đâm ngực trái. Một mảnh bột trắng trên má bé sáu tuổi mà ta chưa nói với ai.
Sương ngoài cửa sổ đã tan gần hết. Nắng chiều xỉn màu đồng cũ đổ ngang bàn khám. Trong Đại lý tự chỉ có ta, Lục Vô Ngạn, và bốn khuôn mặt đất sét chưa khô hẳn.
Ta thở ra một hơi dài.
Chờ.
Bà mẹ đầu tiên vào phòng lúc giờ Thân. Áo bố xám. Không khăn trắng. Bước hai bước, khựng lại, đưa tay bịt miệng, nước mắt rơi. Không nói được. Ta biết bà nhận. Ta chỉ ra xác thứ ba, khuôn mặt đất sét bé gái sáu tuổi.
“Con… Con là Xuân…” bà thều thào. “Con tôi tên Xuân, sáu tuổi, mất tích mười lăm ngày trước ở chợ Vĩnh Bình…”
Bà quỳ xuống. Ta đỡ khuỷu tay bà. Không nói. Chỉ đỡ.
Bà mẹ thứ hai. Áo bố nâu. Nhận xác thứ tư, khuôn mặt bé trai chín tuổi. “Con tôi… Con Đại… đi bán rau sáng, không về…”
Bà mẹ thứ ba. Là bà Điền. Bà bước vào chậm. Bà nhìn xác thứ hai, khuôn mặt bé trai tám tuổi. Nhìn lâu.
Rồi bà lắc đầu.
Không phải Cát.
Bà chuyển sang xác thứ nhất, khuôn mặt bé gái. Cũng lắc đầu.
Rồi ánh mắt bà chạm vào xác thứ năm. Nàng bé đang phủ vải trắng, khuôn mặt còn nguyên, mắt nhắm, tóc quấn dây gai bạc.
Cát là con trai. Bảy tuổi. Không phải bé gái này.
Bà Điền hít một hơi, chớp mắt. Gật. Không nhận ai trong năm xác.
“Cảm ơn hạ quan,” bà nói khẽ. “Con tôi chưa ở đây.”
Ta cúi đầu chào bà. Không nói gì thừa.
Ba giờ liên tiếp, ba mươi bà mẹ vào ra phòng khám. Ba xác được nhận. Xác thứ ba là bé gái Xuân. Xác thứ tư là bé trai Đại. Xác thứ năm là bé gái Nhài. Cả ba con nhà nghèo phường Bắc. Cả ba mất tích trong khoảng mười đến hai mươi ngày.
Xác thứ nhất, xác thứ hai, không ai nhận.
Bà Điền ra khỏi Đại lý tự. Lưng vẫn thẳng. Không quay đầu.
Đêm buông. Đại lý tự lại yên. Ta ngồi trong phòng khám, đèn dầu để trên bàn. Trên bàn có sổ tay của ta, quyển gai đã sờn. Ta mở trang mới, viết bằng bút chì than:
Xác 3: Xuân, nữ, 6, phường Bắc, mất 15 ngày. Xác 4: Đại, nam, 9, phường Bắc, mất 12 ngày. Xác 5: Nhài, nữ, 7, phường Bắc, mất 10 ngày. Xác 1 và 2: chưa rõ. Có thể ngoại Biện Kinh.
Chung: kê thô dạ dày. Đâm ngực trái, một nhát, tay trái. Cả năm. Ghi thêm: bột trắng đục má xác 3. Chưa nói.
Ta gấp sổ. Đặt xuống bàn.
Bên ngoài phòng có tiếng bước. Lục Vô Ngạn.
Hắn đẩy cửa. Không gõ. Nhưng lần này ta đang mặc đủ áo, không có gì để giật mình. Ta ngước lên. Hắn đứng ở cửa, tay trái xoay hộ oản gỗ đen, tay phải cầm một bát canh nóng.
“Ăn đi.” Hắn đặt bát xuống án, xa sổ tay ta nửa gang. “Nha bếp nấu.”
“Đa tạ đại nhân.”
Hắn không đi ngay. Đứng nhìn ba khuôn mặt đất sét còn lại trên án. Xác thứ nhất, thứ hai, chưa ai nhận. Vệt son đỏ trên môi xác thứ nhất đã khô, dính đôi phần vào đất sét.
“Ngươi mệt,” hắn nói.
Ta không đáp. Ta thật sự mệt. Ta mệt kiểu khám xác mười hai canh giờ liên tiếp. Nhưng ta không được nói. Ngỗ tác không kêu mệt.
Hắn cũng không đợi ta đáp.
“Ngày mai,” hắn nói, “ta cho người sang chợ Vĩnh Bình treo hai bức khuôn mặt còn lại. Ai nhận, dẫn về Đại lý tự.”
“Vâng.”
Hắn đi. Cửa khép nhẹ.
Ta cầm bát canh. Húp một ngụm. Nóng. Muối vừa. Có thịt bằm nhỏ và một sợi gừng. Ta nhận ra hắn dặn nha bếp nấu gừng vì phòng khám tử thi lạnh.
Ta uống hết bát canh. Đặt xuống án. Ngồi thở.
Một lát sau, ta mở tay áo. Lấy mảnh vải trắng cuộn cạo bột trắng ở má xác thứ ba ra. Đặt xuống bàn dưới đèn dầu.
Bột trắng đục. Không phải phấn son. Không phải bột lúa mì. Ta nhấp một chút vào đầu lưỡi, nhẹ.
Miệng ta hơi tê, đắng, không rõ.
Ta lấy ống nước gạo trong hộp cha để lại, nhỏ hai giọt lên bột. Bột không tan hết, kết lại thành cục nhỏ. Ta lấy giấy trắng, ép mảnh bột đó lên, đưa lên đèn dầu.
Dưới ánh vàng, mảnh bột hiện màu trắng đục ngả hơi vàng.
Kiếp trước ta gọi cái này bằng một cái tên gồm bảy chữ tiếng Latin. Kiếp này, Đại Tống gọi bằng hai chữ.
Thạch tín.
Ta ngồi thẳng lên.
Bột thạch tín, dạng thô, dính trên má bé gái sáu tuổi tên Xuân. Không nhiều. Chỉ đủ để ta thấy dưới đèn dầu ba nhịp thở.
Đứa nhỏ này, hoặc nàng bị đầu độc trước khi bị đâm, hoặc nàng bị nhốt trong một chỗ có thạch tín rải, hoặc má nàng chạm vào một thứ có thạch tín ngay trước khi chết.
Ba khả năng.
Nhưng thạch tín trong triều Đại Tống không phải muối, không phải trà, không phải cái mà đứa nhỏ bảy tuổi ăn kê thô độn khoai vô tình chạm vào. Thạch tín là bột chuột. Thạch tín là bột hầm bạc. Thạch tín là bột kho ngầm.
Thạch tín là bột kho ngầm.
Ta nhớ hai tuần trước. Ba vò trong kho ngầm phủ Vương thị lang. Tem sáp đỏ khắc chữ “Trương phủ”. Ta và Lục Vô Ngạn đứng dưới hầm, ánh đèn dầu chạy qua ba vò, một mùi hắc bay lên.
Bên trong ba vò ấy không phải chỉ có diêm thổ. Diêm thổ chế thuốc súng đi kèm bảo quản bằng thạch tín để hút ẩm.
Ta đứng bật dậy. Bàn khẽ rung. Bát canh nghiêng, không đổ.
Đứa nhỏ tên Xuân bị nhốt trong một chỗ có bảo quản diêm thổ.
Đứa nhỏ tên Xuân, và có thể cả bốn đứa còn lại, bị nuôi trước khi bị đâm ở một kho chứa diêm thổ.
Kê thô, để nuôi trẻ rẻ tiền.
Thạch tín trên má, vì bụi thạch tín từ vò diêm thổ đọng trong không khí kho.
Người đâm biết đâm chỗ nào chết ngay, tay trái, một nhát. Người ấy quen giết. Người ấy giết cho ai đó cần trẻ chết mà không cần trẻ mở miệng.
Cần trẻ chết vì trẻ đã thấy gì đó. Cần trẻ chết vì trẻ đã ăn cơm nhiều ngày trong kho diêm thổ, và trẻ đã nghe gì đó.
Trẻ nghèo bị bắt, giữ trong kho diêm thổ, đâm khi hết việc, ném xuống Biện Hà.
Diêm thổ. Thạch tín. Trương Nguyên Chương.
Ba cái tên mà ta đã ghi trong sổ tay hai tuần trước, xoay quanh cùng một cái tên.
Ta đứng giữa phòng khám tử thi. Ánh đèn dầu vàng lay động. Trên án gỗ, ba khuôn mặt đất sét chưa khô hẳn nhìn ta. Bên trong hầm dưới Đại lý tự còn một khuôn mặt bé gái đã tím đen, và một khuôn mặt bé trai đã méo lệch. Cả hai chưa có mẹ đến nhận.
Ta cúi xuống, cầm sổ tay. Mở trang.
Bên dưới ba dòng ta ghi trước, ta viết thêm một dòng, đè xuống mạnh, mực đen:
Kê thô. Thạch tín. Diêm thổ. Trương phủ.
Người xưa dạy: trắng đen phải rõ.
Ta gấp sổ. Cất trong lớp áo trong, cạnh dây vải quấn ngực, cạnh bài đồng khắc chữ “Thẩm” thô.
Ngoài cửa sổ, sương chiều đã đổi thành sương đêm, dày hơn ban sáng, xám hơn ban trưa. Trong lòng ta có một tầng đá lạnh mới xếp thêm bên trên lớp đá lạnh cũ. Xếp gọn.
Bên cạnh Đại lý tự, phòng riêng Lục Vô Ngạn còn thắp đèn. Ta biết hắn cũng chưa ngủ. Ta biết hắn cũng đang xoay hộ oản gỗ đen, chậm.
Ta không sang. Chưa sang.
Đêm nay hắn ghi việc của hắn. Ta ghi việc của ta. Ngày mai, hai bức khuôn mặt đất sét cuối cùng sẽ được treo ở chợ Vĩnh Bình. Nếu có mẹ nhận, ta lại có một dòng nữa trong sổ.
Nếu không có mẹ nhận, ta có một câu hỏi mới.
Hai xác không có mẹ. Cùng vết đâm ngực trái. Cùng kê thô dạ dày. Có thể không phải trẻ Biện Kinh. Có thể trẻ nơi khác, bị chở về Biện Kinh.
Có thể mạng lưới lớn hơn ta tưởng.
Ta thổi đèn. Phòng khám tử thi tối lại. Chỉ còn ánh sáng rọi vào qua khe cửa, từ đèn phòng Lục Vô Ngạn.
Ta ngồi thêm một canh giờ trong bóng, tay đặt lên sổ tay trong ngực áo. Ngoài Đại lý tự, chuông đêm điểm giờ Tuất.
Cha ta chết bất minh hai năm trước.
Năm đứa trẻ nghèo phường Bắc chết trong ba mươi ngày qua.
Có một sợi dây rất mảnh mà rất chắc nối chúng lại. Sợi dây ấy đi qua kho diêm thổ có tem “Trương phủ”. Ta đã biết đầu sợi dây. Ta chưa biết cả sợi.
Ngày mai, sợi dây dài thêm.