Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 13: Cả Hai Giả Vờ Không Biết

Đêm ấy ta không ngủ.

Vết thương sườn bên trái, sâu chưa đến một ngón tay, nhưng mỗi lần ta hít vào là như có một sợi kim khâu rút qua da. Ta nằm nghiêng bên phải, tay đặt hờ lên chỗ băng vải, không dám cử động. Trong bóng tối phòng ngỗ tác, ánh trăng cuối tháng lọt qua kẽ song gỗ, vẽ trên nền gạch xanh một mảng bạc mỏng như sương.

Ta nhìn mảng bạc ấy suốt canh ba.

Nghĩ về ba chuyện.

Một: cửa. Ta không cài chốt. Đã hai tháng ta làm ngỗ tác Đại lý tự, chưa lần nào quên cài chốt. Đêm qua là lần đầu. Vì ta vừa từ vụ bắt Đường Thanh về, tay còn dính máu áo, đầu óc nghĩ đến vết thương sườn hơn nghĩ đến then cửa.

Hai: dây vải. Sáu năm ta quấn quanh ngực bằng một mảnh lụa mỏng do Diệp Nương ở phường Nam khâu. Đêm ấy ta vừa cởi áo trong ra, dây vải lỏng nửa nan, còn chưa kịp cuốn lại.

Ba: Lục Vô Ngạn.

Đẩy cửa vào không gõ. Đứng ba giây. Quay lưng ra. Đóng cửa.

Không nói.

Trong ba giây ấy, ta thấy được rất rõ mắt hắn. Không phải mắt của người xem trộm, cũng không phải mắt của người ngơ ngác. Là mắt của người đã hiểu ra một điều mà mình không muốn hiểu, và biết mình sẽ không được quên đi.

Ta xoay người trong chăn. Sườn nhức. Ta nhắm mắt lại. Đèn dầu trên bàn hạ quan đã tắt từ lâu, nhưng bấc còn khói nhẹ, mùi trầm quẩn với mùi máu khô trên áo cũ vắt góc giường.

Trong đầu ta chỉ còn một câu hỏi. Không phải “hắn có tố cáo ta không”. Câu hỏi ấy ta đã cân xong ngay khi hắn đóng cửa. Nếu hắn muốn tố, hắn không cần đợi. Chỉ cần đêm nay hắn gọi một tiếng cho thị vệ, sáng mai ta đã ở tử lao Đại lý tự.

Câu hỏi thực sự là: hắn im vì cái gì?

Bởi vì ai cũng có lý do. Ai cũng có giá.

Ta không tìm ra được lý do của Lục Vô Ngạn. Không phải vì hắn không có, mà vì ta chưa đủ ngày để đọc hắn.

Ta thở nông, nhắm mắt, đợi trời sáng.


Sương chưa tan.

Ta đến Đại lý tự sớm hơn ngày thường một khắc. Bên tay áo trái vẫn giấu quạt cha. Sườn ta được quấn hai lớp vải bố mới, thêm một lớp dây vải quấn ngực chồng lên. Ta mặc thêm áo trong dày hơn để giấu chỗ phồng. Nhìn từ ngoài, ta vẫn là thiếu niên gầy áo bố.

Nhìn từ ngoài. Chữ ấy đêm qua đã hết nghĩa.

Bước qua cổng, ta cúi đầu chào nha lại già cầm chổi. Lão vẫn dạt sang bên như thường lệ. Ít nhất trong mắt lão, ta chưa đổi.

Cửa phòng thiếu khanh mở sẵn.

Lục Vô Ngạn đứng bên án thư, giống mọi sáng. Áo trường bào đen. Tay trái xoay hộ oản gỗ đen. Nghe tiếng bước ta, hắn ngẩng lên. Mắt vẫn thế. Giọng vẫn thế.

“Thẩm Yên.”

“Lục đại nhân.”

Hắn đưa cho ta một tờ giấy công văn.

“Đường Thanh khai đêm qua. Ta hỏi được thêm ba tên khách trong sổ giao dịch. Sáng nay ngươi vào tử lao ghi lời khai bổ sung. Cần chi tiết thời gian, số lượng, cách vận chuyển.”

Ta cầm công văn. Ngón tay ta khô. Ngón tay hắn cũng khô. Không chạm.

“Vâng, thưa đại nhân.”

Ta ngước lên nửa mắt, tìm trong mặt hắn một cái gì đó. Một nếp nhăn dưới mắt. Một nhịp mí mắt chớp lâu hơn. Một chỗ giọng lệch nửa cung.

Không có.

Hắn bình thường tuyệt đối. Bình thường đến mức chính cái bình thường ấy là một câu trả lời.

Đêm qua chưa xảy ra. Đêm qua không có gì.

Ta cầm công văn quay ra, không cúi chào. Ta thở ra nhẹ khi bước qua ngưỡng cửa.

Trong lòng, ta khắc thêm một dòng vào cuốn sổ ngầm mà ta viết cho riêng mình: Lục Vô Ngạn có khả năng chôn một chuyện xuống rất sâu, và không cho ai đọc được lên trên da mặt hắn.

Điều ấy nguy hiểm.

Điều ấy cũng an toàn.

Hai điều ấy đứng cạnh nhau trong đầu ta như hai chiếc đèn dầu chưa châm.


Tử lao Đại lý tự nằm sau nhà cỏ, xuống ba bậc đá. Sáng sớm, hành lang tử lao lạnh hơn hai độ so với sân trên. Đá tường đổ mồ hôi. Tro hương buổi đêm cai ngục thắp cho các phòng chưa cháy hết, khói lẫn với mùi gỗ ẩm.

Đường Thanh trong phòng số bảy.

Hắn đã bốn mươi ngoài, người gầy, da vàng, hai gò má hõm. Đêm qua ta thấy hắn trong ánh đuốc, sáng nay dưới ánh đèn dầu tử lao, mặt hắn còn nhạt hơn nữa. Áo hắn ướt vệt máu ở tay trái, chỗ hắn bị thị vệ giữ. Không phải máu ta bị hắn đâm. Máu ta đã khô trên áo bố ta bỏ ở nhà rồi.

Ta ngồi xuống ghế đối diện, bên ngoài song sắt.

Cai ngục đặt bàn con giữa hai người, đặt bút mực, giấy, và bình mực đỏ nhỏ để ta đánh dấu chỗ khai quan trọng.

Ta giở tờ công văn. Đọc từng dòng.

“Đường Thanh. Ngươi khai đêm qua ba tên khách mua thuốc tăng thọ. Nhắc lại từng tên, tuổi, phường, số lượng, ngày giao.”

Hắn ho một tiếng.

“Ngỗ tác Thẩm… vết thương ngươi…”

“Nhắc lại từng tên.”

Ta cắt. Câu ngắn. Ta không muốn hắn quan tâm đến vết thương ta. Không muốn hắn đoán bất cứ gì.

Đường Thanh nhìn ta nửa giây, thấy trong mắt ta không có cửa sổ nào cho hắn bò vào. Hắn cúi xuống.

“Vương Đại thượng, sáu chục tuổi, phường Đông, một lọ, tháng giêng năm nay.”

Ta ghi.

“Trương gia, không nhớ đầy đủ tên, ước năm mươi, phường Tây, một lọ, tháng ba.”

Ta khựng bút. Mực đỏ nhỏ giọt xuống mép giấy.

“Trương gia… nào?”

“Không rõ, thưa ngỗ tác. Người ta không xưng tên. Chỉ nói ‘gửi cho Trương phủ’.”

“Phủ nào Trương phủ?”

“Không rõ. Chỉ có gia nhân đến lấy. Áo xanh xám. Có đeo bài đồng.”

Ta ghi. Trong lòng đã nghe tiếng đá rơi. Tháng ba năm nay, một Trương phủ giấu tên, mua thuốc tăng thọ bào chế từ gan trẻ. Trên sổ Đường Thanh có tên viết mờ “T. Nguyên C.”. Trương Nguyên Chương. Cùng tên với chủ nhân dấu tem trên vò diêm thổ ở kho phủ Vương thị lang.

Ba manh mối chưa nối thành đường, nhưng ba manh mối đã xếp thành hàng. Ta thấy hàng ấy, ta chưa nói. Chưa đến lúc.

“Khách thứ ba,” ta hỏi tiếp.

Đường Thanh khai. Ta ghi. Ta chấm mực đỏ lên chỗ cần. Một canh giờ trôi qua, ta gấp giấy, gấp bút.

“Ngỗ tác Thẩm.”

Ta ngẩng.

“Đại lý tự có ta là chết,” Đường Thanh cười khẽ. Hắn đã ngoài bốn mươi, ta còn chưa đến hai mươi, mà nụ cười ấy là nụ cười của người sắp chết muốn gửi lại một câu. “Nhưng có kẻ ngoài kia đứng cao hơn. Trương phủ giấu tên ấy. Ta không biết mặt, nhưng ta biết một điều: gia nhân đến lấy thuốc luôn đến lúc canh ba, không bao giờ đi cửa trước. Người sợ ai đi cửa sau. Người không sợ ai đi cửa trước.”

Ta không đáp. Ta gật một cái.

Ra khỏi phòng số bảy, ta để cai ngục khoá lại. Ba bậc đá bước lên. Sương đã tan gần hết. Sân giữa hửng nắng non.

Ta đi qua sân, qua hành lang gỗ ẩm. Sườn ta nhức. Vết thương chưa lành, mà đầu óc ta đã bước tiếp mười bước.


Ta không về phòng thiếu khanh nộp báo cáo ngay. Ta ghé phòng ngỗ tác, cho Bích Đào rót nước ấm.

Bích Đào cháu gái Diệp Nương, mười ba tuổi, mặc áo nâu bố dày, tóc kẹp bằng cây trâm gỗ mộc. Con bé là người duy nhất trong Đại lý tự Yên cho phụ dọn dụng cụ giải phẫu. Nó không sợ máu. Cha nó chết trận, dì nó khâu trang sức, cả nhà không sợ tanh.

Ta ngồi xuống ghế gỗ. Bích Đào bưng bát nước ấm đến, đặt trước mặt ta.

“Thẩm huynh,” con bé nói, mắt nhìn xuống bát. “Đêm qua huynh về khuya.”

“Ừ.”

“Áo huynh có máu.”

“Ừ.”

“Mẹ dặn nếu huynh có gì đau đến tiệm bạc chị lấy thuốc bôi. Chị gói sẵn rồi.”

Ta nhìn con bé. Bích Đào không nhìn lên, đầu vẫn cúi. Nó biết ta là nữ (dì nó đã kể từ ngày đầu). Nó không nói ra chữ ấy. Nó chỉ gọi “huynh” như mọi người khác.

Ta cầm bát nước. Uống nửa.

“Chiều nay Đại lý tự có án mới không?”

“Chưa nghe, Thẩm huynh. Nhưng thiếu khanh dặn… buổi chiều huynh vào phòng thiếu khanh trình báo cáo Đường Thanh. Xong việc rồi huynh về sớm.”

Ta khựng bát nước một chút.

“Về sớm?”

“Vâng. Thiếu khanh nói vậy.”

Ta gật đầu. Không nói.

Trong lòng ta, một điều rất nhỏ rất mềm bò lên. Ta ép nó xuống. Không phải lúc.

Ta để bát nước xuống bàn, mở tay áo, kiểm tra băng vải. Máu chưa thấm ra. Tốt.

Bích Đào đứng bên cạnh, tay xếp lại vải trắng, không nhìn ta. Con bé quen với những ngày ta im. Ta cũng quen với những ngày con bé không hỏi.

Trong nghề này, im lặng là một cách thương nhau.


Buổi chiều muộn.

Ta bước qua ngưỡng cửa phòng thiếu khanh. Trong tay là bản báo cáo lời khai Đường Thanh, đã sao thành ba bản: một cho Đại lý tự, một cho Đề Hình Ti, một cho Lục Vô Ngạn giữ riêng.

Cửa mở.

Không đóng.

Ta liếc thấy điều đó ngay khi bước qua ngưỡng.

Trong phòng thiếu khanh mọi ngày, khi ta vào báo cáo án nhạy cảm, Lục Vô Ngạn đóng cửa. Không phải cửa chính, mà cửa gỗ trong ngăn phòng với hành lang. Đóng cho tiếng nói không lọt ra ngoài.

Hôm nay cửa mở toang. Ánh nắng non chiều muộn chiếu vào tận án thư, đổ một mảng vàng lên chồng công văn.

Lục Vô Ngạn ngồi bên án. Đứng dậy khi thấy ta.

“Ngồi.”

Ta ngồi xuống ghế đối diện. Đặt ba tập báo cáo lên án thư.

“Lời khai Đường Thanh, hạ quan đã ghi. Trong đó có một dòng đáng chú ý. Tháng ba năm nay, Đường Thanh giao một lọ thuốc tăng thọ cho gia nhân của một Trương phủ giấu tên. Gia nhân mặc áo xanh xám, đeo bài đồng, đến canh ba đi cửa sau.”

Lục Vô Ngạn nhận báo cáo. Lật trang.

Ta thấy tay hắn dừng ở dòng ta viết bằng mực đỏ. Ngón tay hắn khẽ nhíu lên, chỉ một tí. Rồi thả xuống.

“Ghi kỹ.”

“Vâng.”

“Ngày mai ta cho thị vệ theo dõi cửa sau Trương phủ. Xem có gia nhân áo xanh xám đi ra không.”

“Vâng.”

Ta chờ hắn đóng tập báo cáo. Hắn không đóng ngay. Hắn để tập báo cáo hờ trên án, tay hắn xoay hộ oản gỗ đen chậm.

Mắt hắn không nhìn ta. Nhìn xuống án thư.

“Thẩm Yên.”

Ta căng người một nhịp. Không lộ.

“Vâng, thưa đại nhân.”

“Vết thương sườn ngươi hôm qua.”

Ba chữ. Ta thấy trong đầu vang một tiếng nước rơi vào giếng. Không lớn. Nhưng ta biết bên trong giếng có tiếng.

Ta đáp thẳng, mặt phẳng.

“Vết nông. Hạ quan tự băng bó, đã khô. Ngày mai không ảnh hưởng làm việc.”

Lục Vô Ngạn ngẩng lên. Nhìn ta. Không nhìn xuống sườn ta. Nhìn thẳng vào mắt ta.

“Ta không hỏi có ảnh hưởng làm việc hay không. Ta hỏi ngươi có băng đúng không.”

Ta hơi khựng.

“Băng đúng.”

“Ai băng?”

Ta im.

Không thể nói ta tự băng. Vì tự băng cho vết ở sườn, một thiếu niên nam bình thường sẽ nhờ y viên Đại lý tự hoặc quân y. Không có lý do gì tự băng một mình trong phòng đóng cửa. Trừ khi có gì cần giấu.

Ta chọn câu trả lời ngắn nhất.

“Hạ quan.”

Lục Vô Ngạn không nhíu mày. Cũng không mỉm cười. Hắn chỉ gật đầu một cái rất nhẹ, như một người xem lời khai và đã ghi nhận vào lòng.

“Đại lý tự có phòng tắm riêng.”

Ta ngước lên.

“Vâng?”

“Phòng tắm riêng của thiếu khanh, phía đông sau án thư này, có cửa gỗ khoá được. Chốt bên trong. Không ai được vào.”

Ta không đáp ngay.

Hắn tiếp, giọng không cao, không lệch nửa cung so với sáng.

“Ngươi dùng khi cần. Vết thương ở sườn không nên thay băng ở phòng ngỗ tác. Phòng ngỗ tác đông người ra vào. Người bên trong không cài chốt kịp. Không tốt.”

Bốn câu.

Câu thứ nhất là một cái cớ. Câu thứ hai là một sự thật. Câu thứ ba là một nhắc nhở. Câu thứ tư… câu thứ tư có thể là một câu ngẫu nhiên. Cũng có thể là một câu nói lại chuyện đêm qua bằng ngôn ngữ khác. Người bên trong không cài chốt kịp.

Ta nhìn hắn.

Mắt hắn vẫn thẳng, vẫn không đổi. Nhưng có một thứ ta thấy trong đó mà đêm qua chưa thấy: hắn đã cân nhắc từng chữ.

Ta cúi đầu.

“Đa tạ đại nhân.”

“Không phải tạ. Sắp xếp công việc. Vụ án tới cần ngươi khoẻ.”

“Vâng.”

Ta cầm hai bản báo cáo còn lại lên tay. Đứng dậy.

Ra khỏi phòng, ta bước đi bình thường. Bước chậm hơn nửa nhịp, không ai để ý được. Chỉ ta biết mỗi bước chân của ta lúc ấy nặng hơn buổi sáng nửa lượng.


Chiều muộn, ta không về nhà ngay.

Ta ghé phòng ngỗ tác. Ngồi xuống bàn viết. Mở sổ tay riêng, không phải sổ Đại lý tự.

Sổ này ta giấu trong hộc bàn hai lớp, lớp gỗ ngoài phủ tro hương giả bụi. Chỉ ta mở được.

Ta chấm bút vào mực. Không phải mực đỏ. Mực đen thường.

Trang mới. Viết ba dòng:

Ngày mười bảy tháng chín. Lục Vô Ngạn thấy dây vải giấu ngực của ta tối qua.

Sáng nay hắn không nhắc. Chiều nay hắn cho ta dùng phòng tắm riêng của hắn.

Hắn im. Ta chưa biết vì cái gì.

Ta cầm bút. Dừng một nhịp.

Rồi ta viết thêm dòng thứ tư, chữ nhỏ hơn ba dòng trên, như thể viết cho một mình ta đọc:

Trong ánh mắt hắn không có kinh sợ. Không có tò mò. Chỉ có bình thản. Người bình thản trước một bí mật lớn như thế, không phải người đàn ông thông thường.

Ta hong mực. Đóng sổ. Cất vào hộc.

Ngoài cửa sổ phòng ngỗ tác, mặt trời đã lặn sau tường Đại lý tự. Ánh sáng còn lại trên ngói xanh chỉ là một đường mực đỏ mảnh như đường khắc trên bảng án. Ta ngồi im một lúc, tay đặt lên chỗ băng vải bên sườn.

Nói có sách, mách có chứng. Đêm qua có chuyện, mà không ai nhắc. Cả hai giả vờ không thấy. Ta chọn giả vờ vì sống chết ta không thể mất chức ngỗ tác. Hắn chọn giả vờ vì… vì gì?

Ba lý do có thể.

Một: hắn thương ta. Không thể. Ta và hắn quen chưa đầy ba tháng, hắn là thiếu khanh danh môn, ta là ngỗ tác con nhà nghèo. Không có gì thương.

Hai: hắn có tính toán. Có thể. Nữ giả nam làm ngỗ tác Đại lý tự là tội chém, giữ trong tay một tội chém của người khác thì đó là một sợi dây cương vô hình. Hắn muốn kéo ta về phía hắn khi cần.

Ba: hắn có bí mật riêng, mà bí mật ấy khiến hắn hiểu tại sao ta phải giả nam.

Ta lấy ngón tay gõ nhẹ ba nhịp lên mặt bàn.

Lý do thứ hai và thứ ba đứng cạnh nhau, chưa phân được cái nào cao hơn. Nhưng cả hai đều dẫn về một chỗ: Lục Vô Ngạn không phải là một thiếu khanh bình thường.

Ba tháng nay ta biết điều ấy rồi. Đêm qua chỉ là gạch thêm một đường nữa vào bức tường ta vẫn đang khắc.

Ta đứng dậy. Sườn nhức. Ta chịu.

Ra khỏi phòng ngỗ tác, ta đóng cửa. Lần này cài chốt.


Trên đường về nhà, ngựa xám đi chậm.

Phường Nam đèn dầu lên chưa đủ. Nhà cửa hai bên phố mở cửa nửa cánh, gió nhẹ mang mùi cơm chiều lẫn với mùi tro trấu.

Ta cưỡi qua tiệm ngân trang của Diệp Nương. Cửa tiệm đóng. Ta không ghé. Có gì cần nói với Diệp tỷ, ngày mai ta gửi Bích Đào chuyển.

Ta đi tiếp. Qua ngõ nhỏ. Về ngõ cụt cuối phường Nam. Nhà tranh vách bùn. Mẹ nuôi đang ngồi bên cửa, tay ôm chén thuốc bốc khói mỏng.

“Yên tử?”

“Con về mẹ.”

Mẹ nuôi ngước lên. Ánh đèn dầu trong nhà hắt qua khe cửa, chiếu lên mặt bà một nửa vàng, một nửa xám. Bà đã sáu mươi hai, tóc bạc quá nửa, tay chai như vỏ cây.

“Hôm nay muộn.”

“Vụ Đường Thanh, con phải ghi khai thêm.”

Bà không hỏi thêm. Bà không bao giờ hỏi về nghề. Chỉ đưa ta chén thuốc: “Con uống nửa. Còn nửa mẹ.”

“Mẹ uống hết. Con không cảm.”

“Yên tử…”

“Con không cảm, mẹ.”

Bà nhìn ta. Bà nhìn ra ta thay đổi. Nhưng bà cũng không nói gì, chỉ đưa cho ta cái bát rỗng, tay ta cầm.

Ta ngồi xuống bậc cửa, sườn ép vào cột gỗ, đau nhẹ. Tay ta ôm bát rỗng, ngước nhìn trời phường Nam. Trăng chưa lên. Sao mờ. Có một ngôi sao ở đông nam nhấp nháy như đèn dầu chưa châm đủ dầu.

Trong đầu ta, câu Lục Vô Ngạn nói buổi chiều lại vang lên một lần: “Người bên trong không cài chốt kịp. Không tốt.”

Ta nhắm mắt.

Không tốt.

Ta không hiểu hắn dùng “không tốt” cho cái gì. Không tốt cho ta, hay không tốt cho hắn.

Có thể là cả hai.

Cả hai giả vờ không biết. Đó là hợp đồng ngầm hai người vừa ký sáng nay, không viết, không đóng dấu, không lời khai, chỉ có bốn câu nói về phòng tắm riêng.

Ta thở ra. Đứng dậy. Vào nhà. Cài chốt.

Đêm nay ta sẽ ngủ được. Có thể.

Đèn dầu trong phòng mẹ nuôi cháy chậm. Trên tường, bóng ta gầy, in nghiêng lên vách bùn. Ta nhìn bóng mình một lúc.

Trên vách, cái bóng ấy vẫn là bóng của một thiếu niên nam. Vai gầy. Tóc buộc cao. Không lộ bất kỳ đường cong nào.

Nhưng bây giờ, ngoài ta ra, đã có một người khác biết đằng sau cái bóng ấy là ai.

Ta không sợ. Ta chỉ cẩn thận thêm một tầng.

Trên đá lạnh dưới đáy giếng, một viên đá nhỏ vừa nứt ra một vệt mới. Ta nghe được tiếng.

Ngoài cửa, gió khuya thổi qua vòm ngô đồng cuối ngõ. Lá vàng rơi lộp bộp xuống mái tranh nhà bên cạnh.

Ta đặt bát rỗng xuống bàn. Rót một chén nước lạnh. Uống cạn.

Sáng mai, Đại lý tự có án mới thì có án mới. Có án cũ thì có án cũ. Có Lục Vô Ngạn thì có Lục Vô Ngạn.

Ta là ngỗ tác Thẩm Yên. Kiếp trước ta chết một lần trong phòng giải phẫu. Kiếp này ta chưa chết. Ta còn một sợi vải xanh non ở phường Đông chưa lần, một tem diêm thổ Trương phủ ở kho Vương thị lang chưa đưa lên vua, một dòng “T. Nguyên C.” trong sổ Đường Thanh chưa nối vào cha ta.

Còn nhiều việc phải làm.

Trước khi làm những việc ấy, đêm nay ta phải ngủ.

Ta thổi tắt đèn dầu. Vào giường. Nằm nghiêng phải, để sườn trái không đè lên chăn.

Trong bóng tối, ta nghe được tiếng thở của mẹ nuôi đều đặn ở phòng ngoài. Ta nghe được tiếng gió luồn qua khe vách. Ta nghe được cả tiếng chính ta thở nhẹ, chậm, đều.

Trước khi ngủ, ta mở mắt một lần cuối, nhìn lên trần tranh.

Trong đầu ta hiện ra bốn câu nói của Lục Vô Ngạn buổi chiều. Hai câu bên ngoài. Hai câu bên trong.

“Người bên trong không cài chốt kịp. Không tốt.”

Ta nhắm mắt.

Đêm nay ta cài chốt.