Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 14: Phú Thương Treo Cổ
Ba tuần đi qua bằng sương và bằng bụi.
Trong ba tuần đó, ta khám thêm bốn tử thi nhỏ. Một cụ già chết trong ngõ vì lạnh đêm. Một phu khuân vác gãy chân rơi từ giàn giáo, xương đùi đâm thủng động mạch. Một kỹ nữ chết trẻ vì ho lâu năm, phổi hai lá phủ hạt trắng như đá vôi. Một tên trộm bị đánh chết trong quán trọ, xương sườn thứ bảy bên trái gãy đâm vào tim. Bốn vụ, không vụ nào cần ta dùng đến kiến thức của kiếp trước. Ta viết báo cáo bằng bút mực đỏ Đại Tống, câu công thức: xác nhận danh tính, nguyên nhân chết, cơ chế chết. Lục Vô Ngạn đọc, dấu son, đóng hồ sơ.
Đơn giản. Đơn giản đến mức phiền.
Bởi vì cứ chiều muộn, khi ta về phòng riêng phía sau hành lang Đại lý tự, ta thấy chốt gỗ trên cửa đã được ai đó tra dầu mới. Ổ khoá đồng cũng sáng lên như vừa được lau. Ta không hỏi ai làm. Hắn không nói ai làm. Ba tuần, ta và hắn cùng sống trong một khoảng im lặng nặng như đá lạnh dưới đáy giếng chưa cạn.
Ta gọi hắn “Lục đại nhân”. Hắn gọi ta “Thẩm ngỗ tác”. Giữa hai tiếng ấy có một khoảng trắng vừa đủ chỗ để giấu một dây vải quấn ngực.
Đôi lần, ta cúi đầu ghi báo cáo, khoé mắt bắt gặp hắn nhìn. Không phải nhìn cả người ta. Chỉ nhìn cổ tay ta, hoặc bờ vai bên trái, hoặc cái sẹo giả trên môi trên ta tô bằng nước ép quả hồng khô. Cái nhìn ấy giữ đúng nửa nhịp thở, rồi rời đi. Không hỏi. Không tránh. Chỉ nhìn, rồi rời đi.
Ta cũng không nói.
Nội tâm ta gõ như trống canh mỗi đêm: hắn giữ im lặng vì lòng thương hại? Vì tính toán? Hay vì gì khác?
Ta chưa dám nghĩ đến chữ thứ ba.
…
Sáng ngày rằm tháng chín, sương phủ dày đến mức mái ngói Đại lý tự đọng nước, nhỏ giọt xuống thềm nghe như đếm canh.
Ta xức nước hoa trầm sau tai, ở cổ tay, ở khoé áo. Kiếp trước ta xức để đi họp giao ban buổi sáng. Kiếp này ta xức để giấu một mùi ta chưa ngửi thấy.
Cửa phòng Lục đại nhân mở sẵn. Bên trong, hắn đứng bên án thư, tay trái vẫn xoay chậm chiếc hộ oản gỗ đen. Trên án thư có một tờ giấy phủ dấu đỏ. Nét mực còn tanh.
“Hạ quan xin ra mắt.”
“Thẩm ngỗ tác.” Hắn không ngẩng lên ngay. “Có vụ.”
Ta cúi đầu, chờ.
“Lâm gia. Đông thành, phường Kim Ngư. Chủ nhà Lâm Đại lang, phú thương buôn muối và tơ tằm, có nộp thuế cho Hộ bộ. Đêm qua, treo cổ trong thư phòng riêng. Cửa khoá từ bên trong. Sáng nay gia đình phá cửa mới vào. Vợ khai chồng thua lỗ ba tháng nay vì thuyền hàng chìm ở Trường Giang, uống rượu một mình rồi tự treo.”
Ta hiểu tại sao vụ này chuyển thẳng lên Đại lý tự. Phòng khoá kín, không dấu tay lạ. Với ngỗ tác quan phủ thường, chỉ có một cách kết: tự sát vì thua lỗ, đóng hồ sơ trong ngày. Nhưng Lâm Đại lang là tên có mặt trong sổ Hộ bộ. Một cái tên trong sổ Hộ bộ chết thì phải có Đại lý tự chứng nhận. Đó là lệ.
“Có thư tuyệt mệnh không?” Ta hỏi.
Hắn cuối cùng cũng ngẩng lên. Mắt hắn sáng sớm bao giờ cũng lạnh hơn buổi chiều. “Có. Ba dòng chữ nghiêng bên án thư. Chưa đối chiếu bút tích.”
Ba dòng thư tuyệt mệnh. Ta ghi nhận. Phú thương biết chữ, thường viết dài hơn thế. Ba dòng thì quá gọn cho một người chuẩn bị bỏ mạng.
“Hạ quan xin đi cùng đại nhân.”
Hắn nhìn ta một cái. Cái nhìn ấy dừng ở khoé môi ta khoảng nửa nhịp thở, rồi rời đi. Ta biết hắn lại đang xem cái sẹo giả. Đêm qua ta bôi lại nước hồng khô, sáng nay chưa kịp kiểm tra viền đường ranh. Có lẽ mờ.
Ta cũng không sửa.
Ba tuần rồi, ta cùng hắn học một loại ngôn ngữ mới. Ngôn ngữ không lời. Trong đó có một quy tắc duy nhất: cả hai giả vờ không biết.
Ta ra khỏi phòng trước. Hắn đi sau, khoác trường bào đen.
…
Kiệu Đại lý tự vào cửa phường Kim Ngư khi mặt trời đã lên khỏi mái nhà. Sương tan. Đường lát đá bắt đầu khô. Lâm gia là toà tường trắng ba lớp, cổng đá xanh. Đúng kiểu nhà phú thương làm ăn đủ lớn để nộp thuế, chưa lớn đến mức phải sợ triều đình đánh.
Gia nhân mở cổng. Bên trong sân, ba người đứng chờ.
Một phụ nữ trạc ba mươi, mặc áo tang trắng đã cắt gọn sát cổ, quỳ giữa sân. Đây là Lâm phu nhân. Mắt nàng ta đỏ, nhưng không sưng đến mức khóc suốt đêm. Mặt trắng, nhưng đều màu, không có vệt loang của nước mắt lăn qua phấn cũ.
Cạnh nàng ta, một thiếu niên chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mặc áo trắng chưa quen tay. Ống tay áo dài quá cổ tay hai đốt. Cậu ta cúi mặt, không dám nhìn ta và Lục đại nhân. Đây là con trai duy nhất của Lâm gia.
Đứng sau con trai, một lão đầu bếp mặt tròn, khoảng năm mươi tuổi, tay còn dính bột mì đã khô cứng thành mảng. Đôi bàn tay ấy to, ngón thô, có sẹo dao cắt cũ dày trên đốt trỏ. Không phải sẹo mới. Không phải kiểu sẹo do đêm qua đưa xác từ phòng này sang phòng kia.
Ba người. Ba đôi tay. Ba đôi giày. Trong đầu ta, ta xếp họ lên một khay bạc như xếp dụng cụ. Chưa vội đoán. Xếp cho ngăn nắp trước đã.
Lục Vô Ngạn giơ tay, bảo Lâm phu nhân đứng lên. Nàng ta đứng. Ta cúi đầu chào theo lễ. Rồi ta liếc xuống tay nàng ta.
Móng tay Lâm phu nhân sạch. Trắng hồng, sạch đến mức thấy được vằn nhỏ trên phần bán nguyệt. Không có vết cào cào của người vừa ôm xác chồng khóc. Không có tro hương dính. Không có bụi.
Sáng nay nàng ta có thể mới rửa tay. Nhưng người vừa mất chồng, dù có rửa tay, cũng không rửa được đến mức trong bán nguyệt móng cũng sạch bóng. Trong ngành ta, người ta gọi đó là “sạch quá thành bẩn”.
Ta ghi nhận. Chưa nói gì.
“Xin đại nhân dẫn đến thư phòng.” Ta nói, giọng phẳng.
Lâm phu nhân gật, đi trước.
…
Thư phòng nằm ở sân sau, cách khu chính bằng một cây cầu gỗ nhỏ vắt qua ao cá. Ao cá đã cạn nước. Trong đáy ao, ba con cá chép chết, phơi bụng trắng lên trời. Ruồi đã đến, đậu thành từng đám nhỏ.
Ta bước qua cầu, khoé mắt liếc xuống. Cá chết không mới. Vảy đã bong lỗ chỗ. Ao cạn ít nhất ba, bốn đêm rồi.
Một nhà phú thương làm ăn còn đủ nộp thuế, nuôi được đầu bếp riêng, thư phòng riêng, mà để ao cá chết cạn ba đêm không ai kịp thay nước. Chuyện ấy nói lên một điều: cả nhà đã có mấy đêm không ai chú ý gì ngoài chuyện chính.
Chuyện chính đây là gì?
Ta tự hỏi trong đầu. Chưa trả lời.
Cửa thư phòng đã bị phá vỡ ở chốt trong. Vết phá tươi. Gỗ nứt trắng, dăm gỗ còn dính trên nền. Chốt bên trong là loại chốt sập ngang, làm bằng gỗ lim, dày bằng ngón tay cái. Loại chốt này khi sập xuống, muốn mở từ ngoài chỉ có hai cách: phá cửa hoặc luồn dây câu qua khe cửa nâng chốt lên.
Ta ngồi xổm xuống, nhìn kỹ khe cửa. Khe hẹp, khít. Không có dấu dây câu.
Vậy là gia nhân sáng nay phá cửa thật. Chốt sập từ bên trong thật.
Ta đứng lên, bước vào.
Bên trong tối. Một cây đèn dầu đã tàn còn le lói trên án thư, dầu cạn còn dày bằng đốt ngón tay út. Bên trên xà nhà, một sợi dây gai vẫn vắt vẻo qua khấc gỗ. Xác đã được hạ xuống, đặt trên chiếu tre trải giữa nhà. Áo choàng lụa xám. Mặt hơi biến sắc.
Ta quỳ xuống bên xác.
“Hạ quan xin phép.” Ta nói khẽ, không rõ đang xin ai. Cha kiếp này đã dạy: trước khi khám xác, phải xin phép. Đó là lễ. Đó cũng là để tay mình chậm lại một nhịp, đừng làm hỏng gì.
Lục Vô Ngạn đứng cách một bước sau ta, không tới gần. Hắn quen với cách làm việc của ta rồi. Trong ba tuần qua, hắn đã học được: khi ta ngồi xuống trước một tử thi, hắn nên đứng yên, im, và chờ.
Ta bắt đầu.
…
Xác nhận danh tính: Lâm Đại lang. Nam. Bốn mươi hai tuổi theo lời khai. Cao khoảng năm thước tám. Cân nặng ước lượng chín mươi cân. Trên trán trái có một vết chàm hình lá tre, khớp mô tả gia nhân trên đường vào.
Vết dây trên cổ: Rãnh dây gai đè xiên từ dưới cằm chéo lên sau tai. Kiếp trước ta gọi đây là kiểu vết treo cổ điển hình, không tự sát, không tha nhân, chỉ nhìn rãnh thì không đủ kết. Nhưng ta nhìn thêm: rãnh chỉ có ở phần trước cổ, còn phần sau gáy sạch, không có vết đè.
Kỳ.
Nếu người treo tự leo lên ghế, thắt dây, buông ghế, dây phải cắt đều quanh cổ trong một khoảng canh giờ. Rãnh phải đè liền vòng, ít nhất bảy phần mười vòng cổ. Đằng này rãnh chỉ đi trước, sạch sau, có nghĩa là dây chỉ đè cổ trong thời gian ngắn, không đủ để cắt qua da sau.
Có nghĩa là. Người này bị treo lên khi đã chết. Cổ đã cứng, dây chỉ hằn được lên phần trước.
Ta hít một hơi nhẹ. Ghi nhận.
Cơ tay: Ta lật tay hắn ra, cầm bàn tay phải. Cứng. Không phải cứng vừa. Cứng như một mảnh gỗ khô. Ngón cái không co được. Bốn ngón còn lại cũng không co. Ta thử nắn cổ tay, cứng. Ta thử nắn khuỷu, cứng.
Cơ thịt cứng như đá sau canh giờ đầu, cha kiếp này ghi thế trong sổ tay. Kiếp trước ta ghi là hiện tượng chết rồi cơ thể co cứng dần, đạt đỉnh khoảng bảy đến chín canh giờ sau khi ngừng thở, rồi mềm ra chậm trong một ngày. Người bên ngoài nhìn xác cứng, thường đoán chết đã ba, bốn canh giờ. Nhưng người khám kỹ biết: cứng đến mức khoá được ngón cái thế này, phải là chết đã tám, chín canh giờ trở lên.
Ta ghi trong đầu: thời gian chết ước lượng theo cơ cứng, khoảng canh Hai đêm qua.
Nếu Lâm phu nhân khai chồng vào thư phòng canh một tối muộn, thì canh Hai đã chết, có nghĩa là chồng nàng ta chết chưa đầy một canh giờ sau khi vào phòng.
Có thể. Nhưng chưa đủ.
Nhiệt độ da: Ta chạm mu bàn tay hắn.
Lạnh.
Lạnh hơn nhiều so với ta chờ đợi.
Sáng nay không phải sáng lạnh. Sương có, nhưng trời không lạnh sâu. Đại lý tự sáng nay ta còn cởi được áo khoác ngoài mà vào phòng ngồi. Nếu một người chết vào canh Hai đêm qua, đến giờ Thìn sáng nay, mu bàn tay hắn còn phải giữ được chút ấm dưới lớp da. Đằng này, tay hắn lạnh như tay vừa nhấc ra khỏi mặt nước sông vào tháng chạp.
Nhiệt độ cơ thể lạnh dần theo từng canh. Kiếp trước ta gọi đó là quy luật lạnh sau chết. Kiếp này ta gọi đó là chuyện của trời và tro. Sau khi ngừng thở, cơ thể lạnh xuống bằng nhiệt độ môi trường theo một nhịp gần đều. Trời hôm nay không đủ lạnh để giải thích mức lạnh này.
Trừ khi.
Trừ khi xác đã nằm ở một nơi lạnh hơn nhiều trong nhiều canh giờ, rồi mới được đưa vào đây.
Ta luồn tay xuống dưới lưng áo hắn, mò vào giữa hai bả vai. Lạnh. Ta rút tay ra, ngón tay ta có một chút bụi ẩm dính. Bụi ẩm này không phải bụi gỗ thư phòng. Gỗ thư phòng khô, bụi khô, thơm mùi gỗ hương. Đây là bụi có mùi rất nhạt, hơi hôi, gần như là bụi đất hầm.
Ta nghiêng ngón tay, đưa lên gần mũi. Ngửi nhẹ.
Mùi kho. Mùi hầm dưới đất. Có thoáng vị rượu ngâm lâu năm.
Ta đứng lên.
“Đại nhân.”
Lục Vô Ngạn bước lại một bước. “Nói.”
“Xin đại nhân cho gọi Lâm phu nhân đến đứng ngoài cửa. Đừng cho vào phòng.”
Hắn nhìn ta nửa nhịp thở. Rồi ra dấu cho một thị vệ ngoài sân. Lâm phu nhân đến, đứng ngoài bậc cửa, không dám bước vào. Ta chắp tay theo lễ.
“Xin phu nhân cho hạ quan hỏi ngắn.”
“Xin đại nhân.”
“Đêm qua chủ nhà vào thư phòng lúc nào?”
“Canh một, tối muộn.”
“Ngoài chủ nhà, có ai vào thư phòng sau đó không?”
“Không. Ai cũng biết chồng ta uống rượu một mình, không muốn ai làm phiền.”
“Đêm qua trời gió lớn không?”
“Không. Trời lặng lắm.”
“Nhà có hầm rượu ở đâu?”
Lâm phu nhân ngừng nửa nhịp. Rất nhỏ. Ta bắt được. Ánh mắt nàng ta chớp một cái, rồi nàng ta đáp, giọng vẫn phẳng.
“Sau bếp. Có một hầm nhỏ, đầu bếp giữ chìa.”
“Cảm ơn phu nhân. Xin phu nhân đứng ngoài, đừng vào cho hạ quan thất lễ.”
Nàng ta cúi đầu, lui.
…
Ta quay lại xác. Lục Vô Ngạn nhìn ta. Ánh mắt hắn đã sáng thêm một bậc. Hắn hiểu ta đang đi đến đâu, nhưng không cắt lời. Hắn chờ ta lắp ráp câu trả lời cho hắn như ta lắp ráp một cỗ máy.
Ta quỳ xuống lần nữa. Ta cởi khuy áo trên của Lâm Đại lang. Da ngực trắng bệch. Không có vết bầm ngoài. Ta luồn xuống bụng, cũng lạnh đều. Ta vén một góc quần lụa lên, nhìn phần đùi trong.
Đây rồi.
Trên đùi trong bên trái, một vệt tím nhạt kéo dài, hình cung cong, giống như bị đè lâu trên một bề mặt cứng có gờ. Kiếp trước ta gọi đó là vết tụ máu tử thi. Sau khi chết, máu ngừng chảy, dồn xuống chỗ thấp của cơ thể theo trọng lực. Chỗ nào bị nén thì máu không tụ được, để lại vết trắng hình vật đè. Chỗ nào không nén thì máu tụ, tím lại.
Vệt tím trên đùi trong bên trái này. Nó không hợp với tư thế treo cổ.
Nếu Lâm Đại lang chết trong tư thế treo, máu phải tụ dần xuống bàn chân, ngón chân, mu bàn tay buông thẳng. Sau nhiều canh giờ, những chỗ đó phải tím sẫm, gần như đen. Còn vệt tím hình cung ở đùi trong này chỉ có thể xuất hiện nếu xác đã nằm nghiêng bên trái trên một bề mặt cứng, có gờ, trong nhiều canh giờ đầu sau chết.
Ta kiểm tra tiếp. Bàn chân hắn, ngón chân hắn. Trắng. Không có vết tụ máu ngón chân. Không có vết đen mu bàn tay. Chỉ có vệt tím cung cong trên đùi trái.
Bây giờ mọi thứ khớp vào nhau như răng lược cắn răng lược.
Ta đứng lên.
Nói theo cha kiếp này ghi trong sổ tay: nói có sách, mách có chứng.
Ta chắp tay.
“Đại nhân. Hạ quan có kết luận sơ bộ.”
Lục Vô Ngạn giữ tay trái trên hộ oản gỗ đen, không xoay nữa. “Nói.”
Ta hạ giọng. Trong đầu, ta liệt kê từng mảnh, đều, không nhanh.
Một. Rãnh dây gai chỉ đè trước cổ, sạch sau gáy. Cổ đã cứng khi bị treo. Có nghĩa là Lâm Đại lang bị treo lên sau khi đã chết.
Hai. Cơ tay hắn cứng đến mức khoá được ngón cái. Chết đã tám, chín canh giờ. Không phải ba, bốn canh giờ như câu chuyện tự treo đêm qua.
Ba. Nhiệt độ da lạnh hơn mức đêm nay cho phép. Xác đã nằm ở nơi lạnh hơn phòng thư nhiều canh giờ.
Bốn. Vệt tụ máu ở đùi trái cong hình gờ. Xác đã nằm nghiêng trên bề mặt cứng có gờ, không treo, trong nhiều canh giờ đầu sau chết.
Năm. Bụi ẩm dưới lưng áo có mùi hầm đất, thoáng mùi rượu ngâm lâu năm. Nơi ấy là hầm rượu, không phải thư phòng.
“Đây không phải phòng khoá kín gốc. Lâm Đại lang không chết ở đây. Xác đã được di từ nơi khác vào.”
…
Trong phòng thư yên tĩnh đến mức nghe được tiếng dầu tàn trong đèn còn kêu tí tách. Ngoài kia, ao cá cạn không có tiếng cá quẫy.
Lục Vô Ngạn không hỏi lý do. Hắn tin ta. Ba tuần qua ta đưa ra sáu, bảy kết luận nhỏ đều đúng, hắn học được: khi ta nói “sơ bộ”, nghĩa là ta đã đi qua ba lớp kiểm tra trong đầu. Hắn chỉ hỏi một câu.
“Ai di được xác vào phòng khoá?”
Ta nhìn ra ngoài cửa. Ánh nắng đã lên qua đầu cầu gỗ, hắt xuống mặt ao cạn thành ba vệt vàng. Ba vệt. Rất tình cờ, đúng ba vệt.
Ta đáp, giọng phẳng như mặt đá lạnh.
“Người có chìa.”
Ta ngừng một nhịp.
“Vợ. Đầu bếp. Con trai.”
Ba cái tên rơi xuống nền gạch thư phòng, không tiếng. Nhưng ngoài kia, ta nghe được một tiếng nấc rất nhỏ. Không rõ của người nào trong ba.
Lục Vô Ngạn gật đầu. Rất khẽ. Rồi hắn nói, giọng còn thấp hơn của ta.
“Vậy hôm nay ta và ngươi đóng cổng Lâm gia. Ba người đó, không ai được ra khỏi phủ này. Ta cho thị vệ giữ hầm rượu. Không ai được xuống.”
“Vâng, đại nhân.”
Hắn nhìn ta thêm một khoảng nửa nhịp thở. Cái nhìn dừng ở khoé môi ta, rồi trượt xuống bàn tay ta còn dính chút bụi ẩm mùi hầm. Rồi rời đi.
Ta cúi đầu, không sửa lại tay áo.
Ba tuần qua ta cùng hắn học một loại ngôn ngữ không lời, luật đầu tiên là giả vờ không biết. Nhưng sáng nay, trong phòng thư khoá kín này, có một luật thứ hai bắt đầu hình thành, chưa ai gọi tên: khi ta đưa hắn một kết luận, hắn không đòi bằng chứng thêm. Hắn tin. Và cái tin ấy nặng hơn cả một tờ giấy son.
Ta bước ra khỏi thư phòng, đi qua cây cầu gỗ, không nhìn xuống ao cá. Ba con cá chết đã im. Ruồi đã dạt lên bờ.
Trong tay áo ta, chiếc quạt lụa của cha vẫn nằm im. Ta chưa mở nó ra. Nhưng ta cảm thấy nó nặng thêm một chút. Như thể cha kiếp này đang gõ nhẹ vào lòng bàn tay ta từ bên kia bờ ao, nói: gieo gió gặt bão, con ạ, ba tháng nay Lâm gia không phải thua lỗ vì Trường Giang.
Ba tháng nay Lâm gia đang giấu một thứ khác trong hầm rượu.
Và một trong ba người có chìa hầm rượu đó, đã tính đến chuyện dời cả một cái xác từ hầm lên xà nhà thư phòng, cho vừa một câu chuyện tự treo.
Ta nghĩ đến bàn tay Lâm phu nhân sạch bóng. Đến ống tay áo con trai dài quá cổ tay hai đốt. Đến sẹo dao cũ dày trên đốt trỏ đầu bếp.
Ba đôi bàn tay. Ba loại sạch, ba loại bẩn.
Cây bút mực đỏ trong tay áo ta, kiếp này, sẽ phải chấm thêm ba dấu son nữa trước khi vụ này khép.
Ta chỉ chưa biết, một trong ba dấu son đó sẽ dẫn ta đi xa hơn hầm rượu Lâm gia đến mức nào.