Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 15: Giải Phẫu Ruột

Ta xin Lục Vô Ngạn ba việc.

Một: cho ta mượn phòng khám tử thi phía sau Đại lý tự, đóng cửa, khoá then.

Hai: không cho ai khác vào ngoài hai người, thêm một trợ lý.

Ba: cho phép ta mở khoang bụng phú thương Lâm Đại lang.

Xin việc thứ ba, ta biết là xin cái mà cả Đại Tống không cho. Đại Tống có Đề Hình Ti. Đại Tống có ngỗ tác. Nhưng Đại Tống không mổ xác. Xác được sờ ngoài, được ấn ngực, được lật mí mắt, được rạch một đường mỏng ở bụng để ép hơi độc trào lên. Không ai mổ dạ dày. Không ai kéo ruột ra sắp lên vải. Ai làm việc đó, người sống sẽ gọi là phanh thây, và người sống có quyền lôi cả nhà kẻ mổ ra chém.

Ta biết. Ta vẫn xin.

Lục Vô Ngạn nghe ba việc, ngồi im bên án thư. Ánh đèn dầu vàng hắt vào nửa mặt hắn, chia đường ranh giới rõ như một vết dao mài. Tay trái xoay hộ oản gỗ đen. Xoay chậm, xoay ba vòng liền, không dừng.

Ta không giục.

Trong nghề này, ta học được một điều: khi người ta đang nghĩ về một điều nặng, ta không đẩy. Đẩy làm sập cả toà.

Lục Vô Ngạn xoay hộ oản đủ mười một vòng, rồi dừng.

“Ngươi mở khoang bụng, phạm luật,” hắn nói. Giọng thấp.

“Hạ quan biết.”

“Nhà Lâm sẽ tố.”

“Nhà Lâm đã tố ba lần rồi. Từ sáng đến trưa.”

Ta không nhìn hắn. Ta nhìn cây bút son đỏ trên án. Cán trúc trơn. Đầu bút khô. Đại lý tự dùng bút son đỏ chỉ khi phán quyết cuối. Nếu Lục Vô Ngạn không cho phép, hôm nay bút này sẽ khô thêm một ngày. Vụ Lâm Đại lang đóng lại. Ba loại độc chưa được thấy, ba mối dây chưa được kéo.

Ta thở ra rất khẽ.

“Đại nhân. Xác cứng, thời điểm chết không hợp phòng khoá. Xác đã bị di. Nếu chỉ khám ngoài, hạ quan có thể nói xác bị di. Không nói được kẻ nào giết. Không nói được giết bằng cách nào. Muốn nói được, cần mở.”

Ta hít vào nửa nhịp.

“Xác không nói tiếng người. Xác nói bằng dạ dày.”

Lục Vô Ngạn nhìn ta. Mắt hắn không đổi. Nhưng ta thấy tay trái hắn buông hộ oản xuống.

“Đêm nay,” hắn nói. “Sau canh ba. Cửa sau.”

Ba chữ và một câu.

Ta cúi đầu.

“Hạ quan lãnh mệnh.”

Ra khỏi phòng hắn, sương chiều đã xuống trên mái ngói Đại lý tự. Ta đi dọc hành lang. Tay áo lạnh. Ngực áo ta có một mảnh vải giấu, dày và bó, ta quen như da mình. Nhưng sau ch…

Sau đêm ấy ở phòng riêng, khi Lục Vô Ngạn đẩy cửa vào không gõ, ta thấy mảnh vải này như đá lạnh chưa tan. Mỗi lần bó lại buổi sáng, mỗi lần lỏng ra buổi tối, ta biết hắn biết.

Hắn không nói. Ta cũng không.

Cái không nói ấy còn nặng hơn cái nói.

Ta gạt qua. Đêm nay có ba loại độc phải tìm. Ta không được nghĩ về mảnh vải.


Canh hai, ta về nhà mẹ nuôi.

Thẩm bà nằm giường. Ta hâm cháo, đút cho bà nửa bát. Bà uống chậm, tay còn run. Ta đặt bát xuống, cầm tay bà ép nhẹ vào chăn.

“Mẹ ngủ sớm. Đêm nay con về muộn.”

“Yên tử,” Thẩm bà nói. Giọng bà khàn. “Đại lý tự có việc gì mà đêm cũng đi?”

“Có một vụ. Chưa xong.”

“Cẩn thận.”

“Dạ.”

Ta xức nước hoa trầm sau tai, ở cổ tay, ở khoé áo. Mùi trầm chìm dưới lớp vải bố xám. Kiếp trước, ta xức trước khi vào phòng giải phẫu bệnh viện. Kiếp này, ta xức trước khi ra cửa đi mổ phú thương Lâm Đại lang trong phòng khoá then của Đại lý tự.

Cái nghề đổi thời đại, mùi nước hoa không đổi.

Ra khỏi ngõ, ta ghé qua tiệm ngân trang của Diệp Nương ở phường Nam. Đèn còn sáng. Diệp Nương ngồi bên bàn, đang khảm một chiếc kẹp bạc.

“Diệp tỷ.”

“Yên.”

Ta ngồi đối diện tỷ, không cởi áo khoác.

“Bích Đào ở đâu?”

Diệp Nương đặt kẹp bạc xuống, mắt hơi nhíu. Bích Đào là cháu gái tỷ, mười ba tuổi, mắt lì, tay ổn. Trước ta chưa dùng đến, nhưng đêm nay không dùng không được.

“Nó ở trong. Việc gì?”

Ta nói khẽ ba chữ.

“Mở khoang bụng.”

Diệp Nương im một nhịp. Rồi tỷ đứng dậy, ra sau vén rèm.

“Bích Đào.”

Bích Đào đi ra. Áo vải nâu, tóc buộc thấp, mắt sáng. Không cao. Nhỏ nhắn như một đứa con nít mười ba, nhưng ánh mắt là ánh mắt của người đã chôn cha.

“Thẩm huynh.”

“Đêm nay có việc,” ta nói. “Cần một người tay không run. Người này phải giữ đèn, giữ chậu nước, giữ vải trắng. Không được nói ra. Không được nói với ai. Kể cả với mẹ ngươi sau này.”

Bích Đào không hỏi việc gì.

“Được.”

Diệp Nương thở ra một hơi dài. Nhưng tỷ không cản. Tỷ chỉ cầm tay ta, siết một cái, không nói.

Ta hiểu. Diệp Nương biết ta là nữ. Diệp Nương biết đêm nay ta đi làm một việc mà một cô gái mười tám tuổi không nên làm. Nhưng Diệp Nương cũng biết: có những việc phải làm, dù giới nào cũng phải làm.

Bích Đào lấy khăn quấn tóc, đi theo ta ra cửa.


Cửa sau Đại lý tự, canh ba thiếu nửa.

Lục Vô Ngạn đứng ở đấy, áo đen, không mang đèn. Nghe tiếng bước ta thì nghiêng đầu. Mắt hắn liếc qua Bích Đào, dừng nửa nhịp.

“Ai?”

“Trợ lý của hạ quan,” ta đáp. “Con gái Diệp Nương chủ tiệm ngân trang phường Nam. Tay ổn. Miệng kín.”

Lục Vô Ngạn không hỏi thêm. Mở then cửa. Ba người vào.

Phòng khám tử thi Đại lý tự vào đêm là một chỗ ta thấy thân. Bốn bức tường gỗ ẩm. Một cái bàn dài giữa phòng, gỗ đào cứng, mặt bàn có mấy vết dao cũ từ thời cha ta hoặc trước cha ta nữa. Một cái chậu đồng dưới bàn để hứng nước. Trên vách, treo bốn cái đèn dầu, tim bấc đã ướt vì hơi lạnh. Cửa sổ đóng kín, chỉ có một khe hẹp thông ra sân sau, đủ để mùi thoát mà không đủ để người ngoài nhìn vào.

Trên bàn, đã đặt sẵn xác phú thương Lâm Đại lang.

Ta đóng cửa. Cài then. Then gỗ khô kêu một tiếng cụp.

Bích Đào đứng ở góc, nhìn xác một cái, không nhăn mặt. Ta khen ngầm trong lòng. Ta đưa cho nàng ta một mảnh vải trắng, chỉ vào cái chậu đồng.

“Chậu, để nước. Ngươi rót nửa chậu, đặt cạnh bàn.”

“Vâng.”

Ta quay lại Lục Vô Ngạn. Hắn đã cởi trường bào ngoài, chỉ mặc áo trong lụa đen. Tay áo hắn xắn lên đến khuỷu. Da tay hắn trắng, không phải trắng thư sinh, mà trắng của người ít phơi nắng. Trên cổ tay trái, hộ oản gỗ đen vẫn đấy.

“Đại nhân xắn áo?” ta hỏi.

“Ta phụ ngươi.”

Ta nhìn hắn. Một Đại lý tự thiếu khanh, dòng dõi danh môn Lục thị, xắn tay áo phụ ngỗ tác mổ dạ dày một phú thương trong đêm.

Ta không hỏi tại sao.

Ta nghĩ một câu trong lòng, không nói ra: Người này có thù riêng với sự thật.

Sương chiều đã tan, đá lạnh dưới chân bàn bốc lên một tầng hơi mờ. Ta cần ánh sáng ổn định. Bốn cây đèn dầu treo tường không đủ. Tim bấc ướt, ánh vàng lay động, không tốt cho việc đọc màu ruột.

Ta rút từ tay áo ra một cây nến trầm hương.

Nến này ta thắp từ đêm giải phẫu vụ án 1. Từ ấy ta thắp mỗi đêm khám xác. Nến trầm hương chảy chậm, ánh sáng ổn, tim không nổ. Quan trọng hơn: mùi trầm nặng át được mùi ruột non khi ta mở khoang bụng. Người thường vào phòng khám xác đêm sẽ ói. Ta không được ói.

Ta đặt nến lên đế đồng, châm bằng ngọn đèn dầu. Ánh vàng lan ra, chậm, đầy. Mùi trầm bốc lên, mềm và nặng, quẩn quanh xác Lâm Đại lang.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Bích Đào hít một hơi. “Thơm.”

“Thơm để đè mùi khác,” ta nói. “Nến này ngươi giữ. Khi nào tim bấc cong quá, ngươi cắt bằng kim khâu. Không được để tắt. Nếu tắt, ta không đọc được ruột.”

“Vâng.”

Ta quay lại xác Lâm Đại lang. Người khoảng bốn mươi lăm, gầy, râu ngắn, tay có vết mực đen ở ngón cái phải, dấu của người quen ký sổ tính. Trên cổ có một vòng bầm hình dây, giả tự treo cổ. Vòng bầm ấy ta đã đọc từ sáng ở phòng khoá nhà Lâm phủ, biết là giả. Kẻ giết treo xác lên sau khi nạn nhân đã chết ít nhất bốn canh giờ.

Đêm nay ta đi tìm cái mà mắt thường không thấy: chất gì làm hắn chết trước khi bị treo?

Ta cởi áo trong của xác. Bụng Lâm Đại lang phẳng, hơi phù. Da xám tro. Rốn hơi thâm.

Ta rút dao.

Dao của ta là một cây trổ nhỏ, cán trúc, lưỡi mỏng như một mảnh trăng non. Ta không dùng dao thịt. Dao thịt cắt ruột đi kèm mỡ, mỡ dây ra bàn, đọc không sạch. Dao trổ cắt vào đâu, cắt đúng đấy, không kéo đường thừa.

Kiếp trước ta dùng dao mổ thép không gỉ, cán nhựa, đặt ngăn nắp trên khay inox. Kiếp này ta dùng dao trổ thợ khắc gỗ, đun sôi trong nước muối một canh giờ trước. Cùng một tay, cùng một tâm. Chỉ khác vỏ.

Ta đặt mũi dao vào rốn Lâm Đại lang. Ấn nhẹ.

“Đại nhân giữ đèn dầu góc trái. Bích Đào giữ nến trầm cao lên nửa thước.”

Hai người đồng loạt làm theo. Ánh sáng dồn về khoang bụng.

Ta rạch một đường thẳng, từ rốn xuống dưới, dài chừng bốn ngón tay. Sau đó rẽ ngang bên trái, ngắn hơn, đủ để mở một cửa. Không phanh, không banh. Cửa mỏng, mở như mở nắp hộp gỗ khảm trai.

Da bụng tách. Máu đen chảy chậm ra hai bên vết cắt, gần như không chảy. Xác đã đông máu từ lâu, chỉ còn dịch đục đục.

Ta luồn ngón tay vào, sờ dạ dày.

Dạ dày Lâm Đại lang căng, nhưng không cứng. Có thức ăn nhưng chưa tiêu hết. Ta gật thầm. Hắn chết trong vòng ba đến bốn canh giờ sau bữa cơm cuối. Bữa cơm cuối, theo lời khai gia đình, là bữa tối gồm cá tráp hấp, canh rau muống, cơm trắng, một chén rượu.

Ta khẽ nghiêng đầu về Bích Đào. “Đưa ta cái chậu con nhất.”

Bích Đào đưa. Chậu sứ trắng, đường kính hai gang. Ta đặt lên bàn bên xác.

Rồi ta rạch dạ dày.

Dịch bên trong tràn ra. Vàng đục, có lẫn cặn nâu. Ta múc bằng thìa gỗ, đổ sang chậu sứ trắng. Đủ ba thìa. Ta đưa nến trầm lại gần, ánh vàng chiếu xuống mặt dịch.

Ta nhìn.

Ta nhìn lâu.

Trong lòng ta chạy ra ba công thức. Không nói ra. Ta chỉ liệt kê:

Ta để chậu sứ yên. Đếm mười hơi thở.

Váng xanh nhạt hiện. Rìa chậu có bọt nhỏ, thưa, chưa vỡ.

Ta nhắm mắt nửa nhịp.

Xác nhận: mật cà độc dược.

Ta mở mắt. Rút một mảnh đồng nhỏ trong tay áo, đặt lên đầu kẹp gắp, hơ trên ngọn nến trầm cho nóng. Đồng đỏ dần lên. Ta nhúng mảnh đồng vào dịch dạ dày.

Đồng đổi màu. Từ đỏ chuyển sang xám bạc mỏng.

Xác nhận: thạch tín.

Ta rút mảnh đồng ra, gạt vào miếng vải trắng. Bích Đào không hỏi ta đang làm gì. Nàng ta chỉ giữ nến, mắt nhìn tay ta, không rời.

Còn tơ nấm.

Ta cúi sát mặt chậu, đưa nến gần hơn. Ánh vàng chiếu xuyên qua dịch vàng đục. Ta thấy trong lớp giữa có mấy sợi trong mỏng, dài chừng một phân, cong nhẹ như tơ nhện già.

Ta lấy đũa tre gạt lên một sợi. Sợi dính lên đầu đũa, không tan.

Xác nhận: tơ nấm.

Ba loại độc. Trong một dạ dày.

Ta ngồi thẳng dậy, đặt đũa xuống.

Trong lòng, ta ghép:

Không loại nào một mình giết được. Nhưng gộp lại…

Mật cà đè xuống hô hấp. Thạch tín ăn niêm mạc dạ dày. Tơ nấm kích ứng ruột. Ba loại cộng, người trung niên gầy như Lâm Đại lang, chết trong hai canh giờ.

Ta thở ra một hơi rất chậm.

Ta ngước lên.

Lục Vô Ngạn đang nhìn ta. Đèn dầu trong tay hắn không lay. Ánh vàng chiếu xuống ngón tay hắn, ta thấy rõ khớp tay trắng, gân xanh ẩn dưới da.

Ta nhìn thẳng hắn.

“Ba loại độc. Mật cà, thạch tín, tơ nấm. Không loại nào đủ giết một mình. Ba loại gộp lại, chết trong hai canh giờ.”

Ta ngưng.

“Kẻ giết biết dược lý.”

Ta nhìn xuống chậu sứ trắng. Váng xanh nhạt trên mặt dịch không lay, như một tấm gương bằng đá lạnh mà ta vừa hà hơi vào.

“Không phải người nghiệp dư,” ta nói tiếp. “Người nghiệp dư dùng một loại nặng liều. Chết nhanh, bằng chứng lộ, dễ bị bắt. Người này dùng ba loại nhẹ liều, gộp lại đủ chết, không loại nào lộ. Nếu hạ quan không mở khoang bụng, ngài không tìm được. Nếu ngài không đun đồng, ngài không thấy thạch tín. Nếu ngài không soi sợi, ngài không thấy tơ nấm.”

Ta ngước lên.

“Kẻ giết chọn ba loại không lộ. Kẻ giết tính đến việc xác được khám. Kẻ giết đã đọc sách.”

Câu cuối ta nói khẽ. Nhưng trong phòng đêm, khe cửa hẹp, mùi trầm nặng, câu ấy rơi xuống bàn gỗ đào như một giọt nước lạnh.

Lục Vô Ngạn đặt đèn dầu xuống bàn. Ánh vàng đứng yên. Hắn ngước nhìn ta.

“Ai trong nhà Lâm biết dược?”

Ta đã hỏi ta câu đó suốt từ chiều. Ta lật lại trí nhớ. Buổi khám lúc sáng, ta đã nghe ba lời khai.

Vợ Lâm Đại lang, hai mươi tám tuổi, gả từ nhà thương gia bán vải. Không biết dược. Chỉ biết ghi sổ tính.

Con trai Lâm Đại lang, mười sáu tuổi, đang học ở tư thục. Chưa biết dược. Chưa đủ tuổi biết.

Đầu bếp Lâm phủ, tên Quách Lục, năm mươi mốt tuổi, làm cho nhà Lâm bốn năm.

Ta ngưng nửa nhịp. Bốn năm là ngắn. Đầu bếp trong nhà phú thương thường ở lâu, mười năm, hai mươi năm. Bốn năm là mới. Trước bốn năm, Quách Lục làm ở đâu?

Ta ngước nhìn Lục Vô Ngạn.

“Hạ quan hỏi đại nhân một câu. Đầu bếp nhà Lâm, Quách Lục, trước khi vào Lâm phủ, làm ở đâu?”

Lục Vô Ngạn không đáp ngay. Hắn xoay hộ oản gỗ đen nửa vòng. Rồi hắn ngước lên. Mắt hắn trong ánh nến trầm, đen như mực đọng lâu.

“Tiệm thuốc.”

Hai chữ, và không thêm.

Ta gật đầu một cái.

Ta không hỏi hắn biết từ bao giờ. Ta không hỏi tại sao hắn có sẵn tin ấy trong đầu. Người này là Đại lý tự thiếu khanh. Người này có mắt và tai khắp Biện Kinh. Nếu hôm nay hắn nói đầu bếp Lâm phủ từng làm tiệm thuốc, hắn đã biết từ hai canh giờ trước.

Trong lòng ta có một tiếng động nhỏ. Không phải mừng. Cũng không phải sợ. Là tiếng của một mảnh dao vừa được lồng đúng vào vỏ.

Ta đứng dậy khỏi bàn. Đưa mảnh vải trắng cho Bích Đào.

“Ngươi mang cái này về, gói vào giấy dầu, đưa cho mẹ ngươi cất trong hộp bạc. Ba ngày đừng mở.”

“Vâng.”

Ta quay lại xác Lâm Đại lang. Rút kim khâu và chỉ gai. Khâu lại vết mổ. Kim đi qua da xám, chỉ gai chìm vào thịt, không lộ. Người đưa xác vào quan tài sẽ không thấy dấu ta mở. Nhà Lâm sẽ tố Đại lý tự cắt vô cớ, nhưng không có bằng chứng cắt.

Ta khâu chậm. Mỗi mũi kim là một câu ta ghi vào lòng.

Đầu bếp Quách Lục biết dược. Đầu bếp trong bếp mỗi ngày. Đầu bếp bỏ độc vào canh, vào cơm, vào rượu là dễ nhất trong nhà. Nhưng đầu bếp một mình không di được xác. Đầu bếp cũng không có chìa phòng khoá.

Vậy đầu bếp có đồng phạm.

Ai?

Ta khâu xong mũi kim cuối. Cắt chỉ bằng răng. Ta cúi xuống một chút, ngước lên nhìn Lục Vô Ngạn.

“Đại nhân. Đầu bếp Quách Lục biết dược. Nhưng hắn không tự di được xác từ phòng khác vào phòng khoá. Hắn có đồng phạm. Đồng phạm có chìa. Vợ, hoặc con trai.”

Ta ngưng.

“Hay là người ngoài đưa chìa cho hắn.”

Câu cuối ta nói nhẹ hơn. Nhưng ta thấy tay trái Lục Vô Ngạn dừng xoay hộ oản. Dừng hẳn.

Trong phòng, nến trầm hương chảy xuống đế đồng một giọt. Bích Đào cắt tim bấc bằng kim khâu, nhẹ như một tiếng thở.

Lục Vô Ngạn không đáp.

Hắn đưa mắt qua chậu sứ trắng, chậu đồng dưới bàn, cái xác đã khâu lại, và ta.

Trắng đen phải rõ. Xác trên bàn không nói. Nhưng ba loại độc trong dạ dày đã nói.

Cha ta chết bất minh hai năm trước. Kiếp trước ta chết bất minh trong phòng giải phẫu. Đêm nay ta mổ dạ dày một phú thương. Ba cái chết, ba thời đại, một câu hỏi cũ.

Kẻ nào biết dược đủ dùng ba loại nhẹ liều, biết đọc sách đủ tính đến việc xác được khám, biết chọn đầu bếp có nghề tiệm thuốc, biết đưa chìa vào phòng khoá?

Ta nhìn Lục Vô Ngạn. Hắn không nhìn ta. Hắn nhìn nến trầm.

“Ngươi về nghỉ,” hắn nói. Giọng thấp. “Sáng mai ta sai người bắt Quách Lục. Ngươi không cần tra khảo. Ta tra.”

Ta cúi đầu.

“Vâng.”

Bích Đào gói mảnh vải trắng, ép vào ngực áo. Ta cởi áo khoác ngoài, phủ lại xác Lâm Đại lang. Tro trầm rơi đầy đế đồng. Ta thổi tắt nến bằng ngón cái và ngón trỏ, nhanh, không dùng miệng thổi. Trong nghề này, người ta không thổi nến khám xác bằng miệng. Người ta bóp.

Then cửa rút. Sương đêm bốc lên khỏi mặt đất, thấm qua giày rơm ta lạnh. Bích Đào đi trước, ta đi sau. Lục Vô Ngạn đứng lại trong khung cửa phòng khám, không tiễn.

Ta bước ba bước, rồi quay đầu.

Lục Vô Ngạn vẫn đứng đó. Đèn dầu trong tay hắn. Ánh vàng hắt lên nửa mặt hắn. Nửa kia chìm trong bóng gỗ ẩm và mùi trầm còn quẩn.

Hắn nhìn ta.

Không nói.

Nhưng trong ánh mắt ấy có một điều ta đọc được, dù đọc trong lòng cũng không dám gọi tên.

Ta cúi đầu chào. Quay đi. Bước.

Ngõ sau Đại lý tự dài, đá lạnh. Bích Đào bước bên cạnh ta, không hỏi. Ta cầm quạt cha để lại, phất nửa vòng trước mặt. Mùi trầm cha để cùng mùi trầm nến, quẩn với nhau, thành một tầng sương thoảng theo bước ta ra ngõ.

Về đến ngã tư, Bích Đào ngước lên, khẽ hỏi một câu duy nhất từ đầu đêm.

“Thẩm huynh. Ba loại độc gộp lại, kẻ giết học ở đâu?”

Ta không đáp ngay. Ta nghĩ một nhịp.

Kẻ giết học ở đâu? Kẻ giết học ở sách y của quan Lễ bộ, hoặc kho dược của một phủ lớn, hoặc ở tay một người thầy thuốc bị mua chuộc. Ba nơi ấy đều dẫn về những nơi có tiền, có quyền, có sách. Không phải nơi của đầu bếp.

Kẻ đứng sau đầu bếp Quách Lục biết dược sâu hơn cả đầu bếp.

Ta không nói ra hai chữ Trương phủ. Ta chưa có bằng chứng. Nhưng trong lòng ta, dấu bút son đỏ đã chấm sẵn xuống một cái tên. Chấm nhẹ, chưa in, mà đã đủ ướt để lần sau kẻ ra một đường.

Ta ngước nhìn Bích Đào.

“Đi lâu sẽ biết.”

Bích Đào không hỏi nữa.

Ta phất quạt thêm nửa vòng. Trên nan trúc, hai chữ chờ ta in mờ vào lòng bàn tay ta lạnh.

Cha ơi. Đêm nay, ta mở khoang bụng một phú thương. Ta tìm được ba loại độc. Ta chưa thấy mặt kẻ giết cha. Nhưng ta bắt đầu đọc được nét chữ của hắn.

Gieo gió gặt bão. Kẻ nào đọc sách đủ để giết bằng ba loại độc nhẹ liều, kẻ đó cũng đọc đủ để biết một ngày sẽ có người mở dạ dày mà đọc lại. Người ấy hôm nay đã đọc.

Ta thu quạt. Nhét vào tay áo. Áo lụa cha để dày và mềm, cán trúc mài mòn nắm trong tay ấm dần lên.

Về đến nhà mẹ nuôi, ta cởi áo ngoài, giặt tay bằng nước gừng, thay áo trong. Mảnh vải giấu ngực ta tháo, phơi lên móc. Trong đêm, mảnh vải phất phơ như một lá cờ trắng nhỏ.

Ta ngồi bên bàn, mở sổ tay. Đèn dầu vặn thấp, chỉ đủ soi nửa trang. Ta viết bằng bút chì than:

Vụ Lâm Đại lang. Ba loại độc: mật cà, thạch tín, tơ nấm. Kẻ giết biết dược. Đầu bếp Quách Lục, trước làm tiệm thuốc. Bốn năm nay ở Lâm phủ. Đồng phạm: có chìa phòng khoá. Vợ, con, hoặc người ngoài. Kẻ đứng sau: biết dược sâu. Nơi học: sách y quan, kho dược phủ lớn, hoặc thầy thuốc bị mua.

Ta ngừng một nhịp. Dưới cùng, ta viết thêm hai chữ, đè xuống mạnh.

Trương phủ?

Bên cạnh, ta chấm một dấu chấm hỏi. Rồi ta gấp sổ, giấu vào hộp gỗ dưới gầm giường.

Ngoài cửa sổ, sương xuống dày trên mái ngói phường Nam. Đâu đó, chuông canh tư điểm ba tiếng. Ta thổi tắt đèn.

Trong bóng tối, ta nghe rõ tiếng thở của mẹ nuôi ở buồng bên. Bình lặng. Ta khép mắt. Trong ánh sáng đóng lại của mắt, ta còn thấy váng xanh nhạt trên mặt chậu sứ trắng. Một tấm gương đá lạnh, hà hơi vào không mờ.

Kiếp trước ta cầm dao mổ inox, phòng giải phẫu bóng đèn trắng. Kiếp này ta cầm dao trổ trúc, phòng khám tử thi nến trầm hương. Cùng một tay. Cùng một tâm.

Chỉ có điều, kiếp này ta đang tự cắt một con đường cho mình mà không ai được biết ta là ai.

Và ở đầu con đường ấy, có một người xoay hộ oản gỗ đen, biết ta là nữ mà không nói.

Ta ngủ. Đêm ấy ta không mơ.