Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 16: Đầu Bếp Không Đơn Độc

Đại lý tự canh giờ đầu tháng chạp, sương phủ trắng lên bậc đá.

Ta đứng ở đầu sân, tay ôm tập giấy trắng, nghiên mực son mới mài. Từ đêm giải phẫu ruột phú thương Lâm Đại lang tới lúc này, ta chưa ngủ trọn một canh. Ba loại độc trong dạ dày người chết còn hiện lên trong đầu ta như ba vệt mực đọng lại trên giấy chưa khô: mật cà độc dược, thạch tín, tơ nấm. Ba thứ đơn thân không giết được ai. Gộp lại, giết một người trong hai canh giờ.

Ai biết đủ ba thứ, đủ liều, đủ tỉ lệ, người ấy không phải kẻ nghiệp dư. Ai không phải nghiệp dư trong nhà Lâm gia, chỉ có đầu bếp.

Đêm qua ta đã nói với Lục Vô Ngạn đúng câu đó. Chàng đáp gọn: đầu bếp phủ Lâm trước làm ở tiệm thuốc. Sáng ra, thị vệ đã áp giải hắn về.

Đầu bếp họ Ngô, tên Tam. Trạc bốn mươi. Người khô. Gò má cao. Đi qua sân Đại lý tự, mắt cụp, tay run một nhịp lạ.

Ai bị đưa vào ngục Đại lý tự cũng run. Nhưng ta để ý: Ngô Tam run không phải kiểu run của kẻ bị bắt bất ngờ. Kiểu run của người đã tính đến giờ này, chỉ chưa kịp chuẩn bị lời khai.

Lục Vô Ngạn xuống sân. Áo đen. Hộ oản gỗ đen ở tay trái. Chàng dừng cách ta hai bước.

“Ngươi ngủ bao nhiêu?”

“Đủ.”

“Đủ với ngươi là bao nhiêu?”

“Một canh.”

Chàng nhìn ta chừng một hơi thở. Không hỏi tiếp. Cả hai đi vào ngục.


Ngục thấp Đại lý tự trần đá, tường đá, cột đá. Ngày cũng nhá nhem như đêm. Bốn ngọn đèn dầu treo cột, ánh vàng đọng dưới chân giống dầu tràn ra nền không kịp lau. Không khí âm ẩm, không hôi, chỉ có mùi rơm ướt và mùi kim loại nhạt của then sắt. Ngày ta mới vào Đại lý tự, ngục này là chỗ ta lạ nhất. Bây giờ, ta thuộc từng viên đá.

Ngô Tam ngồi trong ô ngục thứ hai kể từ trong ra. Không xích tay. Chỉ then cửa. Đầu bếp không phải kẻ dùng đao, xích tay là thừa. Hắn thấy Lục Vô Ngạn thì cúi thấp hơn nữa. Thấy ta, mắt hắn dừng lại một nhịp.

Ta hiểu. Đêm qua ta là người đề nghị lục túi hắn. Hắn nhớ mặt.

Lục Vô Ngạn kéo một chiếc ghế đẩu ra giữa lối đi. Ngồi. Ta đứng bên. Tập giấy trắng đặt lên đùi ta, nghiên mực son cầm ở tay phải.

“Ngô Tam.” Chàng nói, giọng bằng. “Đêm mười sáu tháng chạp, ngươi có ở trong nhà phú thương Lâm Đại lang không?”

“Có.”

“Ngươi nấu bữa tối cho Lâm Đại lang?”

“Có.”

“Ngươi biết bữa tối đó có gì?”

Ngô Tam im. Ta chờ. Trong nghề pháp y, ta thấy nhiều tử thi hơn thấy người sống. Nhưng khi hỏi cung, ta biết một điều: kẻ im ở câu đầu, thường vỡ ở câu thứ ba.

“Ngô Tam.” Lục Vô Ngạn nhắc.

“Cháo gạo tẻ. Một đĩa cá kho. Một đĩa dưa cải muối.”

“Chỉ vậy?”

“Chỉ vậy.”

Ta ghi. Bút son chạm giấy trắng, mực đỏ dừng lại giữa dòng.

“Ngô Tam.” Ta nói. Đây là câu đầu ta hỏi hắn. Hắn ngẩng nhìn ta. Ta thấy trong mắt hắn tia gì đó rất mỏng, kiểu ánh mắt người biết mình sắp nói dối và biết đối diện mình có ai nhìn ra. “Đêm qua ta giải phẫu ruột Lâm Đại lang. Trong dạ dày có ba loại độc. Mật cà độc dược, thạch tín, tơ nấm. Ba thứ này không tự có trong cháo, cá kho hay dưa cải muối. Ai bỏ vào?”

Hắn cắn môi.

“Nói có sách, mách có chứng.” Ta đặt bút son lên nghiên. “Hạ quan không hỏi ngươi giết. Hạ quan hỏi ngươi bỏ. Đầu bếp không phải sát thủ. Nhưng đầu bếp bỏ độc, thì đầu bếp thành đường dẫn. Ngươi bỏ vào, ngươi nói. Ai đưa cho ngươi, ta biết rồi cũng ra.”

Chàng bên cạnh không lên tiếng. Chàng để ta hỏi. Trong ba tuần qua, chàng đã dần quen với cách hỏi cung của ta. Kiếp trước ta không hỏi cung tù, ta hỏi cung tử thi. Nhưng cách đọc ánh mắt một người sống lại giống hệt cách đọc dấu tì đè trên da một xác chết: đọc chỗ đối tượng cố che, không đọc chỗ đối tượng cố phơi.

Ngô Tam đưa tay vuốt mặt. Bàn tay hắn có sẹo dài dọc ngón trỏ. Kiểu sẹo do dao chặt xương thịt cả năm cứa lại. Đúng bàn tay đầu bếp.

“Cứu con tôi.” Hắn nói. Tiếng khô. “Ngài cứu con tôi, tôi khai.”

Lục Vô Ngạn không phản ứng. Ta ghi thêm một dòng: con trai. Con tin.

“Con ngươi bao nhiêu tuổi?”

“Bảy.”

“Ở đâu?”

“Không biết. Bọn nó bắt đi từ đầu tháng.”

“Bọn nào?”

Ngô Tam im. Một nhịp. Hai nhịp. Rồi hắn nói, giọng nhỏ hơn nữa, như sợ đá tường cũng nghe được:

“Người của Trương Nhị Lang.”

Ta không nhấc đầu. Chỉ để bút son chạm giấy. Nhưng bên trong, một thanh gì đó trong ngực ta dịch chuyển một nhịp. Nhẹ, mà rõ.

Trương Nhị Lang. Em trai Trương Nguyên Chương.

Ba mảnh, hôm nay đến mảnh thứ ba.

Ta ngước lên. Lục Vô Ngạn không nhìn Ngô Tam. Chàng nhìn ta. Ánh mắt dao khắc quen thuộc, nhưng bên trong đáy dao có gì đó vừa lên vừa xuống một lần. Ta gật nhẹ. Chàng cụp mắt xuống.


Ngô Tam khai suốt hai canh giờ.

Ta không cắt lời. Chỉ ghi. Bút son chạy trên giấy không dừng. Kiếp trước ta ghi bệnh án trên máy, ngón tay tự chạy nhanh hơn miệng bệnh nhân nói. Kiếp này ta ghi bằng bút son, thói quen nhanh vẫn còn. Chỉ khác: mỗi lần dừng chấm mực, ta lại nghe rõ hơn ngữ điệu người khai.

Chuyện Ngô Tam khai gói lại được ba tầng.

Một, hắn đúng là từng làm ở tiệm thuốc phường Đông tên “Đường Nhân Đường” mười năm trước. Ở đó ba năm. Học được cả trăm bài thuốc, trong đó có bài “tam độc hợp” mà thầy thuốc bảo dùng để trị chuột trong kho, không được dùng cho người. Hắn nhớ liều. Nhớ tỉ lệ. Nhớ cả cách trộn để không lộ vị.

Hai, cách đây hai tháng, Trương Nhị Lang tìm đến bếp Lâm phủ. Nhị Lang không đi một mình, đi cùng ba tên gia đinh mang cung. Nhị Lang nói với hắn: “Ngươi có con trai ở nhà. Bảy tuổi. Ngươi muốn nó sống, ngươi làm việc cho ta.”

Ba, việc phải làm không phải giết Lâm Đại lang ngay. Là ép Lâm Đại lang giao mật khẩu kho gạo phường Nam. Kho gạo phường Nam của Lâm gia lớn nhất Biện Kinh, chứa vốn dự trữ ba mùa. Trương Nhị Lang cần mật khẩu để lấy gạo ra chuyển thành bạc, bạc chuyển thành… diêm thổ.

Ta nhấc bút. Nhìn Ngô Tam.

“Ngươi có biết chỗ diêm thổ ấy đi đâu?”

“Không dám biết. Nhưng người của Nhị Lang có lần say rượu, buột miệng: chuyện lớn. Chuyện cho vua giáp trận.”

“Chuyện cho vua.” Lục Vô Ngạn nhắc, giọng bằng.

“Người của Nhị Lang nói vậy. Tôi chỉ nghe.”

Ta ghi. Diêm thổ đường ra: kho gạo Lâm gia. Mua bằng gạo. Không lộ trên sổ triều.

Hai mảnh manh mối cũ trong đầu ta đã bật lên: mảnh thứ nhất, ba vò diêm thổ đóng tem Trương phủ trong hầm ngầm Vương phủ ta phát hiện tháng trước. Mảnh thứ hai, sổ giao dịch của thầy lang Đường Thanh có ghi tên “T. Nguyên C.” nhận thuốc tăng thọ chế từ gan trẻ em.

Hôm nay, mảnh thứ ba tự lộ: em trai Trương Nguyên Chương ép đầu bếp phú thương giao mật khẩu kho gạo, để đường tiền chảy vào diêm thổ.

Không cần trải sơ đồ trên giấy. Trong đầu ta cũng đã thấy: một chuỗi tem đỏ đóng dưới đáy sáp, mỗi tem một mắt xích, tất cả dồn về một cái tên.

“Vì sao Lâm Đại lang chết?” Chàng hỏi. “Ngươi định giao mật khẩu, sao thành giết chủ nhà?”

Ngô Tam cụp mắt.

“Đại lang không chịu giao. Nhị Lang cho tôi hạn ba ngày. Tôi ép Đại lang trong ba bữa cơm liên tiếp… không phải ép bằng thuốc độc, ép bằng thuốc mê nhẹ, để Đại lang lỡ miệng. Đại lang uống hết, mà không nói. Sang ngày thứ ba, Nhị Lang đến gặp tôi ở ngõ sau, đưa gói bột thứ tư… bảo tôi bỏ liều nặng. Bảo: đằng nào cũng không lấy được mật khẩu, thì phải xoá miệng.”

“Ngươi bỏ.”

“Tôi bỏ.” Giọng hắn khàn. “Tối đó Đại lang chết. Tôi treo cổ Đại lang trong thư phòng theo lệnh Nhị Lang. Người của Nhị Lang cho tôi chìa khoá phòng khoá kín. Xong việc, chìa được lấy lại.”

Ta gật.

“Nếu hạ quan hỏi con trai ngươi hiện ở đâu, ngươi trả lời được không?”

“Không biết thật.” Ngô Tam ngước lên. “Nhị Lang chỉ nói: khi nào việc xong, con tôi về. Việc xong đêm mười sáu. Sáng nay tôi vẫn không thấy con về nhà mẹ nó.”

Ta liếc Lục Vô Ngạn.

Chàng đứng dậy. Đưa tay chạm cạnh tường đá. Nhẹ. Ta biết cử chỉ ấy. Đó là lúc chàng đang giữ hơi thở để không nói ra một câu quá sớm.

“Ngô Tam.” Chàng nói. “Ngươi khai xong, ngươi ký. Chúng ta tìm con ngươi.”

Ngô Tam quỳ. Sàn đá lạnh. Trán chạm đá. Không ai đỡ. Chàng chỉ nhìn hắn, quay đi.

Ta thu tập giấy, nghiên mực. Đi ra sau chàng.


Ra khỏi ngục, ánh ngày ngoài sân chớm hửng. Sương đã tan một nửa. Cột đá bên hiên phòng chép án còn ướt, chảy xuống mấy giọt nhỏ, đọng thành ba vệt tối trên bậc.

Chàng dừng ở giữa sân. Không đi thẳng về phòng riêng.

“Thẩm ngỗ tác.”

“Đại nhân.”

“Ngươi ghép được chưa?”

Ta cúi đầu. “Ba mảnh.”

“Nói.”

Ta chuyển tập giấy sang tay trái. Tay phải chỉ vào không khí như vẽ. Không phải vẽ cho chàng thấy, mà vẽ cho ta xác nhận trong lòng.

“Mảnh một: hầm ngầm Vương phủ, ba vò diêm thổ đóng tem Trương phủ, một trăm hai mươi cân. Người mua dùng Vương Kiêu làm mắt xích thấp, Vương thị lang bao che.”

“Mảnh hai.”

“Sổ giao dịch Đường Thanh. Tên ‘T. Nguyên C.’ nhận thuốc tăng thọ chế từ gan trẻ em. Đường Thanh làm việc cho Trương phủ. Thịt trẻ em phường Bắc trôi cầu Biện Hà, năm xác.”

“Mảnh ba.”

“Hôm nay. Trương Nhị Lang, em ruột Trương Nguyên Chương, ép đầu bếp giết Lâm Đại lang để lấy mật khẩu kho gạo. Gạo chuyển thành bạc. Bạc mua diêm thổ.”

Ta dừng.

“Cả ba mảnh chung một đầu. Trương Nguyên Chương. Lễ bộ thượng thư.”

Chàng im hai nhịp thở. Rồi:

“Ngươi nói đúng.”

“Nhưng đây mới là hình vẽ mạng lưới. Chưa phải bằng chứng dâng vua.”

“Ta biết.” Chàng bước một bước, đứng đối mặt ta. Từ đêm ngục Vương phủ đến giờ, ta ít khi thấy chàng đứng thẳng như vậy trước ta ngoài sân giữa ban ngày. Chàng thấp giọng, không nhỏ, nhưng không cho ai bên ngoài sân nghe. “Ngươi phải biết vì sao mảnh thứ ba nặng hơn hai mảnh trước. Hai mảnh đầu vẫn có thể chối là ‘kẻ nào đó dùng danh Trương phủ giả’. Mảnh thứ ba, không chối được. Máu ruột. Em trai. Không thể là ai giả.”

“Đại nhân đã chờ mảnh này lâu.”

Chàng nhìn ta. Không đáp. Nhưng ta biết. Đêm ngục Vương phủ, ta đã ghi trong sổ: Lục Vô Ngạn không giật mình khi thấy tem. Có việc riêng với Trương. Hôm nay, cái “việc riêng” ấy nhích gần thêm một bước. Ta chưa hỏi. Chàng cũng chưa nói. Nhưng hai người đã đứng cùng trên một đường thẳng.

“Ngô Tam sẽ khai với Ngự sử.” Chàng nói. “Nhưng trước đó, không được để lộ khai ra ngoài Đại lý tự. Rò ra một câu, Nhị Lang biết. Nhị Lang giết Ngô Tam trong ngục Đại lý tự trong đêm… hoặc giết đứa bé bảy tuổi kia trước.”

“Con hắn.” Ta hạ giọng. “Nếu con hắn chưa chết, thì Nhị Lang còn cần con hắn làm cái van giữ Ngô Tam. Chưa cần giết. Ta đoán đứa bé còn sống, ở một nơi kín của Nhị Lang.”

“Ngươi định tìm?”

“Không thể không tìm. Nếu con hắn chết, khai của Ngô Tam mất trọng lượng. Ngô Tam sẽ tự sát trong ngục vì hết cái để bám. Chúng ta mất nhân chứng.”

Chàng gật.

“Được. Chiều nay ngươi đến gặp Diệp Nương. Ngươi hỏi nàng ta xem gia đinh phủ Trương Nhị Lang trong tháng qua có đi đặt hàng gì, đi kèm ai lạ, giao hàng đến đâu.”

Ta nhấc mày. Diệp Nương chưa từng liên quan tới Trương Nhị Lang. Chàng đã cho người dõi cả tiệm ngân trang của bạn ta.

“Đại nhân đã theo dõi tiệm nàng.”

“Ta theo dõi tất cả các tiệm có khách của Nhị phủ, không riêng tiệm Diệp Nương.” Chàng đáp. Không cãi, không xin lỗi. “Trong bốn tháng qua, gia đinh Nhị phủ tên Đổng Lục hai lần đến tiệm ngân trang phường Nam đặt kim thoa. Lần nào cũng dặn giao đến một địa chỉ. Ta cần địa chỉ ấy.”

Ta gật. Ghi vào đầu. Kiếp này, ta chưa từng nghi rằng chàng đã dõi theo cả mắt của ta. Nghĩ lại, đúng ra ta phải biết từ lâu. Đại lý tự thiếu khanh không phải chỉ ngồi tra sổ trong triều.

“Hạ quan đi ngay.”

“Đi trước ăn cơm sáng.”

“Ăn rồi.” Ta nói. Không đúng. Ta chưa ăn. Nhưng ta không muốn ngồi lại đây thêm một nhịp, khi trong ngực có một dòng chảy phải chảy đi trước khi nguội.

Chàng nhìn ta như biết ta nói dối, mà không vạch ra. Chỉ:

“Chiều về Đại lý tự trước canh chín. Ta chờ.”

Ta gật. Đi qua chàng.


Đường ra phường Nam, gió đông sát mặt.

Sương phía dưới chân cầu Biện Hà đọng thành một dải mờ giăng dọc mép nước, không tan mà cũng không dày thêm. Ta đi nhanh, không mang dù. Áo xanh cỏ, mũ thư đồng vành thấp, vai ôm gói nhỏ giấu tập giấy khai của Ngô Tam. Từ Đại lý tự sang tiệm ngân trang Diệp Nương khoảng nửa canh giờ.

Trên đường, ta ghép lại từng câu Ngô Tam khai. Không phải để nhớ. Là để tìm chỗ hắn còn giấu.

Kẻ khai vì con trai, sẽ khai gần hết. Nhưng cũng sẽ giấu một chi tiết mà kẻ nhận khai không hỏi tới. Chi tiết đó thường là chỗ hắn hy vọng nếu mọi thứ vỡ, còn giữ cho hắn một lối chạy. Ngô Tam đã khai chuyện diêm thổ, chuyện gạo, chuyện thuốc mê thuốc độc, chuyện chìa khoá phòng khoá kín. Nhưng có một chỗ ta thấy hắn né mắt: khi nói con trai còn ở “một nơi kín của Nhị Lang”.

Nơi kín. Không nói tên. Không nói phường.

Ta đoán hắn biết. Hắn không nói vì hắn biết nếu ta biết, ta đi cứu con hắn ngay, mà cứu thì phải mạo hiểm. Hắn thà giữ chi tiết ấy đến khi chàng và ta chứng minh được đến nơi đến chốn, thà con hắn thêm một ngày trong đó, còn hơn ta lỡ cứu hụt.

Nghĩ đến đó, ta thở ra một hơi trắng. Sương đông chảy thành một vệt mỏng trước mặt.

Cha ơi. Ta khẽ nói trong đầu. Chuyện của con và Trương, hôm nay ghép lại. Còn chuyện của một đứa bé bảy tuổi, chưa ghép lại được. Con phải làm cả hai. Không được bỏ một cái nào.

Ta bước nhanh hơn.


Diệp Nương ngồi sau quầy tiệm ngân trang, tay đang mài một mảnh bạc trên đá. Thấy ta bước vào, nàng ngước mắt lên, không đứng dậy, chỉ khẽ hất cằm về phía trong.

“Đóng cửa trước.”

Ta đóng cửa gỗ, gạt then. Bên trong tiệm ám mùi bạc bột và mùi lửa nhỏ từ lò dưới bàn. Diệp Nương buông mảnh bạc xuống. Tay chai. Móng cắt sát.

“Chàng vừa cho người dõi tôi. Chị biết chưa?”

“Biết. Nàng ta chấp nhận?”

“Chấp nhận. Ai ngang qua tiệm này, tôi đều đếm.” Diệp Nương cười khẽ. “Tôi làm nghề bán trang sức cho bà lớn của phường Nam mười năm. Không đếm được người vào, tôi phá sản từ năm thứ hai.”

Ta ngồi xuống ghế đối diện quầy. Hạ giọng.

“Đổng Lục. Gia đinh Nhị phủ. Trong bốn tháng qua đến đặt kim thoa hai lần.”

“Đúng. Hai lần đều đi kèm một tên đàn ông lạ, ba mươi tuổi, đeo bao lưng da nâu, giọng phường Tây. Cả hai lần Đổng Lục dặn giao hàng đến trại nuôi ngựa nhỏ ở ngõ hẹp phường Tây, sau chùa Bảo Ninh.”

Ta gật.

Trại nuôi ngựa nhỏ. Ngõ hẹp phường Tây. Sau chùa Bảo Ninh.

Không đường vào rộng. Không xe lớn ra. Nơi lý tưởng để giấu người.

“Chị đi coi qua lần nào chưa?”

“Chưa. Nhưng bà bán bánh đầu ngõ ấy là mối của tôi. Bà kể tháng qua, trại đó ba lần nhận thóc và cải bẹ nhiều bất thường. Trại nuôi chín con ngựa. Chín ngựa ăn không hết ba xe thóc. Chị đoán được rồi đó.”

“Nuôi thêm người.”

“Nuôi thêm một.”

Ta nhắm mắt một khắc. Đứa bé bảy tuổi ăn cháo cải bẹ, ngồi trong trại ngựa nghe tiếng đàn ông giọng phường Tây đi ra đi vào, không biết ngoài kia cha nó đang khai trong ngục Đại lý tự.

Ta mở mắt. Rút trong tay áo một mảnh giấy, chấm mực đen (mực son ta không mang theo, phải đổi tạm mực đen cho khỏi lộ), ghi ba dòng ngắn: trại ngựa. Ngõ sau chùa Bảo Ninh. Đêm nay.

“Diệp tỷ.”

“Nói.”

“Nếu đêm nay Đại lý tự không có tin về, sáng mai tỷ đến phủ Ngự sử Vương Chí Kính, đưa mảnh giấy này. Nói: Thẩm ngỗ tác gửi.”

Diệp Nương nhận mảnh giấy. Gấp bốn nếp. Giắt vào lớp lụa bên trong áo trong. Không hỏi lý do. Cây ngay không sợ chết đứng. Nàng làm nghề chín năm ngoài Đại lý tự, biết luật của phường Nam hơn cả luật triều.

“Chị cẩn thận.”

“Ừ.”

Ta đứng dậy. Ra cửa. Đi thẳng về Đại lý tự.


Sau canh giờ đầu chiều, ta trở về đến sân Đại lý tự.

Lục Vô Ngạn ở phòng chép án. Trên án bày một tấm bản đồ Biện Kinh khác… không phải tấm hôm ngục Vương phủ, mà tấm mới hơn, khoanh mực đỏ vào phường Tây. Chàng nhấc mắt.

“Tin?”

Ta không nói. Chỉ đưa mảnh giấy ngắn ta viết ở tiệm Diệp Nương sang. Chàng mở, đọc.

Ba nhịp thở. Chàng đặt mảnh giấy xuống. Đưa tay chạm một điểm trên bản đồ phường Tây, đúng ngõ sau chùa Bảo Ninh.

“Ta cũng đã đoán tới đây. Trại ngựa sau chùa Bảo Ninh trong tháng qua có ba lần chuyển thức ăn nhiều bất thường. Không giống chuyển cho ngựa. Giống chuyển cho người.”

“Đại nhân đã theo dõi.”

“Ta theo dõi cả Trương phủ và Nhị phủ từ đêm ngục Vương phủ.” Chàng đặt hai ngón tay lên bản đồ như đóng dấu. “Đêm nay, ngươi và ta đi. Không mang thị vệ đông. Trại nhỏ, đông người vào sẽ giết đứa bé trước.”

Ta gật.

“Nếu con Ngô Tam còn sống, hạ quan sẽ cố mang về.”

“Nếu chết?”

Ta nhìn chàng.

“Nếu chết, hạ quan cũng phải mang xác về. Ngô Tam cần được nhìn.”

Chàng gật. Không nói thêm.


Đêm tới, ta ngồi trong phòng chép án đóng cửa, chờ giờ đi.

Rút cuốn sổ nhỏ bìa vải xanh cũ, sổ mà từ đêm ngục Vương phủ ta giấu ở đáy giỏ nước hoa hương trầm. Từ đó đến nay, ta ghi thêm ba lần. Lần này là lần thứ tư.

Chấm mực. Mực son.

Ta viết:

Ngày mười bảy tháng chạp. Vụ phú thương Lâm Đại lang.

Đầu bếp Ngô Tam khai: Trương Nhị Lang (em ruột Trương Nguyên Chương) ép Ngô Tam đầu độc chủ nhà. Mục đích: mật khẩu kho gạo Lâm gia phường Nam. Không thành, chuyển giết. Con trai Ngô Tam (bảy tuổi) làm con tin, giấu tại trại nuôi ngựa nhỏ ngõ hẹp sau chùa Bảo Ninh, phường Tây.

Ta dừng bút. Nhìn khoảng trắng bên phải.

Rồi viết tiếp, chữ nhỏ hơn:

Ba mảnh manh mối gộp về Trương Nguyên Chương:

1. Diêm thổ tem Trương phủ, hầm ngầm Vương phủ (tháng trước).

2. Đường Thanh giết trẻ em bán thuốc, sổ có “T. Nguyên C.” (hai tuần trước).

3. Trương Nhị Lang ép đầu bếp giết phú thương lấy mật khẩu kho gạo, gạo đổi bạc, bạc mua diêm thổ (hôm nay).

Hình vẽ mạng lưới rõ. Trung tâm: Trương Nguyên Chương. Ngoài rìa: Vương Kiêu (đã chết), Đường Thanh (đã bắt), Trương Nhị Lang (chưa động).

Chưa đủ dâng vua. Cần thêm nhân chứng trong triều.

Dưới cùng, ta ghi một dòng cuối, chữ nhỏ hơn nữa, sát mép trang:

Lục Vô Ngạn hôm nay không giấu nữa. Chàng biết. Chàng chờ ta ghép xong.

Ta gấp sổ. Buộc dây. Đặt trở lại đáy giỏ nước hoa hương trầm.

Đèn dầu vặn nhỏ. Ngoài song, tro hương buổi chiều còn vương trong lư đồng, không nóng, cũng chưa nguội hẳn. Vệt mực son trong nghiên đá đã đóng lại một lớp mỏng, giống máu đông trên miệng vết thương chưa băng.

Ta ngồi thêm một khắc.

Kiếp trước ta từng dựng lại được đường đi của kẻ giết một cô gái mười tám tuổi từ ba vết máu nhỏ trên tấm gương cửa hàng làm móng. Nghề pháp y không phải nghề tìm hung thủ. Nghề pháp y là nghề đọc ngược lại chuỗi động tác đã xảy ra. Kẻ nào tưởng lau sạch được vết, kẻ ấy quên: giấy trắng luôn còn mực chìm dưới lớp bột.

Kiếp này, ta đang đọc ngược một chuỗi tem đỏ đóng dưới đáy sáp. Kẻ đóng tem tưởng dùng tay em trai mình để giấu tay mình. Nhưng gậy ông đập lưng ông. Càng ép em trai vào lưới, mạng càng lộ ra mắt xích cuối. Ta đã đọc gần hết.

Còn một nhịp cuối, ta đi tối nay.


Có tiếng gõ cửa khẽ. Ba tiếng, cách nhịp Đại lý tự.

“Đến giờ.” Giọng Lục Vô Ngạn.

Ta đứng dậy. Mở cửa.

Chàng đứng ngoài, áo đen, tay trái hộ oản gỗ, tay phải đưa cho ta một túi vải nhỏ.

“Cái gì?”

“Một nắm bột thuốc mê nhẹ. Nếu trong trại ngựa có gia đinh, ngươi rắc lên khăn đưa lại mũi. Ngủ trong nửa canh giờ, không chết.”

Ta cầm. Trong lòng ta thoáng nghĩ: kiếp trước ta cũng biết thuốc mê, tự pha còn chuẩn hơn. Nhưng ta không nói. Chàng đưa, ta nhận. Đây không phải chuyện thuốc. Đây là chuyện chàng đã tính đến bước ta có thể phải một mình vào trước.

“Đi.”

Ta bước theo chàng ra sân.

Sương phường Nam đêm nay không phủ dày. Vòm trời đông thoáng. Có ba ngôi sao lấp ló sau mái ngói. Trong khoảnh khắc ta ngước lên, ba ngôi sao ấy trong đầu ta ghép thành ba dấu chấm: vò diêm thổ Vương phủ, sổ Đường Thanh, ba loại độc dạ dày Lâm Đại lang. Ba chấm nối một cái tên.

Còn một chấm cuối: đứa bé bảy tuổi trong trại ngựa sau chùa Bảo Ninh. Nếu ta ghép được chấm ấy vào tối nay, mạng lưới hoàn chỉnh.

Ta khép cửa phòng chép án sau lưng. Đi theo bóng áo đen của chàng ra cửa phụ Đại lý tự.

Trong bụng áo, cuốn sổ vải xanh cũ áp sát sườn. Mực son trong nó chưa khô hẳn. Đêm nay, có thể còn thêm một dòng nữa.

Ngoài kia, phường Tây chờ. Trại ngựa chờ. Đứa bé bảy tuổi ăn cháo cải bẹ suốt một tháng qua, chờ. Và một cái tên đóng dưới đáy sáp bao nhiêu vò, chờ ngày ta lật mặt sáp lên trước triều.

Ta bước qua bậc cửa. Bóng chàng đã đi trước.

Đèn dầu treo hiên hắt xuống lối đi hai vệt vàng dài, giống hai dòng mực son song song, chưa khép miệng.