Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 17: Yên Ghép Bằng Chứng

Đêm mười ba tháng mười. Canh hai đã qua.

Đầu bếp phủ Lâm khai xong tờ cung cuối lúc chuông báo canh. Lục Vô Ngạn cho lính đưa hắn về ngục. Ba tờ giấy cung xếp trên án thư, mực còn tanh. Mỗi tờ đóng dấu son đỏ. Mỗi tờ ghi một cái tên.

Trương Nhị Lang.

Trương Nhị Lang.

Trương Nhị Lang.

Ba lần cùng một tên. Ba lần ép cùng một cách: cầm con làm tin, dồn cha vào chỗ chỉ còn hai lối, giết chủ nhà hoặc chôn con mình.

Ta ra khỏi phòng cung mà tai còn ù. Không phải vì tiếng khai. Vì tiếng ghép.

Ba mảnh trong đầu ta khớp lại sắc như dao rọc giấy: vò diêm thổ dán tem Trương phủ đêm ta xuống hầm ngầm Vương phủ, cái tên “T. Nguyên C.” mờ trong sổ giao dịch Đường Y Quán bên phường Đông, rồi đến em ruột Trương Nguyên Chương ép đầu bếp giết chủ nhà giành mật khẩu kho gạo Lâm phủ.

Ba manh mối. Ba đầu mối rẽ. Một tên chung.

Hạ quan làm nghề này lâu, biết một luật: hai lần trùng còn có thể do ngẫu nhiên, ba lần trùng thì gọi là cấu trúc. Trương Nguyên Chương không còn là ẩn số. Ông ta là đỉnh của một cái phễu, mọi con đường tội trong ba vụ ta phá đều dồn về một chỗ đó.

Ta bước qua sân giữa Đại lý tự.

Sương đầu đông rắc mỏng lên đá phiến. Đèn dầu treo mái hiên còn sáng, thứ ánh vàng nhoè trong hơi lạnh, giống một hàng tro hương chưa tắt hẳn. Ta đi thẳng về phòng chép án. Không rẽ qua phòng Lục Vô Ngạn. Chưa vội.

Người ta đang thu tờ cung. Người ta có thể còn đang đọc. Ta phải chuẩn bị đủ ba lớp trước khi đứng trước cửa chàng lần này.


Ta đóng cửa phòng. Chốt then.

Rút từ đáy giỏ nước hoa hương trầm cuốn sổ vải xanh. Sổ này ta đã giấu ở đó từ đêm chấm mực đỏ ghi cái tên Trương Nguyên Chương lần đầu. Vải cũ ngấm mùi trầm nhẹ. Ai lục hộc bàn, không lục giỏ nước hoa.

Mở trang giữa.

Ta chấm mực. Mực son đỏ, thứ ta pha để một mình ta dùng.

Ba dòng ta viết đêm nay, cùng một khổ chữ nhỏ:

Ngày mười một tháng chín, canh hai. Kho ngầm Vương phủ. Ba vò diêm thổ, tổng cỡ trăm hai mươi cân. Tem đáy sáp: Trương phủ. T-N-C.

Ngày hai mươi bảy tháng chín, chiều. Đường Y Quán phường Đông. Sổ giao dịch thuốc “tăng thọ” chế từ can trẻ em, năm khách. Tên khách thứ tư ghi mờ, chữ đầu “T”, chữ thứ hai “N”, chữ thứ ba “C”. Giá bán mỗi lọ năm trăm lượng.

Đêm mười ba tháng mười, canh hai. Đầu bếp phủ Lâm khai. Kẻ ép giết chủ nhà: Trương Nhị Lang, em ruột Lễ bộ thượng thư Trương Nguyên Chương. Con đầu bếp làm con tin trong tay Trương Nhị Lang.

Ta đặt bút xuống. Nhìn ba dòng son đỏ.

Ba dòng, ba vụ, ba đầu mối. Trong nghề pháp y kiếp trước ta gọi kiểu này là giao điểm. Không phải trùng hợp. Không phải liên hệ mờ. Là điểm mà nhiều đường độc lập cắt nhau, và ai đứng ở giao điểm thì kẻ đó chính là chủ đường.

Ta ngồi thẳng lưng.

Kiếp trước, khi đứng trước một tử thi mà biết mình đã lật đúng lớp da, ta luôn hít một hơi dài, để đầu đủ lạnh trước lát dao tiếp theo. Kiếp này cũng vậy. Ta hít một hơi dài. Đèn dầu vàng vẹo bên má, sương từ khe cửa lùa vào, mát tay.

Đủ ba lớp là ta có thể đi. Nhưng đêm nay, ta muốn thêm lớp thứ tư.

Lớp cuối cùng nằm ở nhà mẹ nuôi.


Ta khoác áo choàng, tắt đèn. Bước ra khỏi Đại lý tự bằng cửa ngách. Thị vệ đêm quen mặt ta, không hỏi. Ngỗ tác đi về đêm là chuyện thường. Xác chờ không được.

Đường về phường Nam đèn thưa. Sương phủ mặt kênh Biện Hà đen đặc, giống mực đen ai đó đổ tràn ra tấm gương lớn. Ta đi tắt qua ngõ giấy, qua tiệm ngân trang của Diệp Nương đang đóng cửa muộn. Nhìn thấy ánh đèn còn hắt qua khe. Nàng đang gò một chiếc trâm dở. Ta không gõ. Đêm nay không phải đêm cho lời an ủi, là đêm cho mực đỏ.

Nhà mẹ nuôi ở cuối ngõ Tương. Cửa gỗ thấp. Ta đẩy nhẹ, then đã tháo sẵn, thói quen mẹ để cho ta về khuya.

“Yên tử.”

Giọng mẹ khàn, khe khẽ. Nằm nghiêng, tay chai đặt trên chăn bông cũ. Chân bà co không duỗi được. Bệnh liệt hai năm, khớp cứng như đá lạnh. Ta chăm mỗi tối, dầu ấm và bóp thịt, cũng chỉ giữ được đến mức này.

“Con về khuya.”

“Vụ trong Đại lý tự lớn.” Ta ngồi xuống mép giường. “Mẹ ăn cháo chưa?”

“Ăn rồi. Chị hàng xóm mang qua.” Bà nhìn ta, ánh mắt vẫn tỉnh như đàn bà nghèo cả đời tỉnh trong mỏi. “Con không về ăn cơm. Có việc?”

Ta cúi đầu.

“Mẹ.” Ta nói. “Cha con… khi đi, có gửi lại cho mẹ hộp nào không?”

Ta hỏi câu này trong đầu đã lâu. Từ đêm đầu ta trọng sinh, cào cỏ trên mộ cha, đọc di văn khắc trên bia “Tận trung phá án, chết oan không rõ”, ta đã hỏi. Nhưng ta chờ. Ta chờ đến khi trong tay có đủ ba mảnh giấy dán tem đỏ, đủ để mẹ tin ta không phá tan yên bà bằng nghi ngờ trẻ con.

Đêm nay ta đủ.

Mẹ nhìn ta rất lâu. Ánh đèn dầu bên đầu giường vàng vọt, hắt lên gò má bà một vệt bóng cong. Bà không hỏi tại sao. Người từng lấy một ngỗ tác, đứng cạnh áo quan cha ta, khóc không kịp thay áo tang, không cần hỏi tại sao.

“Có.”

Bà chỉ tay về phía tủ gỗ cạnh giường. Tủ nhỏ, hai tầng, đã sờn nước sơn.

“Ngăn dưới. Đằng sau chồng vải trắng của mẹ. Cha con dặn trước khi đi ba ngày: cất kỹ, đến khi Yên tử biết chọn thời điểm.”

Ta đứng dậy. Mở ngăn tủ.

Đằng sau chồng vải trắng thô, gói trong lụa nâu, là một chiếc hộp gỗ vuông cỡ hai bàn tay.

Ta lấy ra, đặt lên bàn.

Bộ 2 hộp trang sức khảm trai

Bộ 2 hộp trang sức khảm trai

350.000đ

Xem chi tiết →

Lụa nâu tháo ra. Chiếc hộp lộ ra ánh đèn dầu.

Gỗ mun đen, mặt trên khảm trai. Vỏ trai cắt mỏng, ghép hình hoa lê ba cánh, ánh xà cừ chảy chậm dưới ánh vàng, như có nước bên dưới lớp gỗ. Bốn cạnh viền một đường bạc mảnh. Khoá đồng nhỏ hình lá, không có ổ, chỉ có then trượt. Ta biết loại khoá này. Kiếp trước ta thấy trong bảo tàng. Kiếp này ta chạm lần đầu.

“Của mẹ đẻ con.” Mẹ nuôi nói khẽ. “Bà ấy để lại cho cha con khi mất. Cha con không đeo trang sức. Cha con dùng để giấu chữ.”

Ta gạt then trượt. Ngón tay ta lạnh mà chắc.

Nắp hộp mở. Bên trong lót vải điều đỏ. Ở tầng trên: một đôi hoa tai bạc chạm hoa mai đã ngả xám, một sợi dây chuyền vàng mảnh, một mảnh ngọc bội trắng đã sứt góc. Đồ trang sức của mẹ đẻ ta. Ta không nhớ mặt bà. Bà mất khi thân xác này lên năm. Nhưng ngón tay ta lướt qua từng mảnh, tự nhiên như thể có ai bên trong biết.

Tầng dưới có nắp gỗ ép. Ta nhấc lên.

Bên dưới, không phải trang sức nữa.

Ba tờ giấy mỏng, cuộn tròn, buộc bằng một sợi dây gai đỏ.


Ta đưa cả chiếc hộp về phòng chép án.

Không mở tại nhà mẹ. Không đọc trước ánh đèn dầu chỗ mẹ đang thiếp. Ta đóng cửa lại, thắp một nén hương ngắn trên bàn ta xức nước hoa mẹ đẻ, khấn một câu.

“Con về xin phép cha. Con mượn chữ cha đêm nay.”

Mẹ nuôi gật đầu rất chậm. “Đi đi. Cẩn thận đường.”

Ta đi. Bước ra ngõ Tương. Sương đã dày hơn. Bóng ta đổ trên tường vôi phường Nam, gầy như một dấu bút mực đen ai vạch vội.

Trên đường về Đại lý tự, ta ôm chiếc hộp trước ngực, dưới lớp áo choàng. Ngón tay đặt trên khảm trai, thấy sườn ba cánh hoa lê hơi cấn vào. Ta không nghĩ được gì cụ thể. Trong đầu chỉ có một câu người thầy dạy giải phẫu kiếp trước hay nhắc: bằng chứng đến tay là đến tay, đừng để cảm xúc làm rung tay.

Đêm nay tay ta phải yên.


Về phòng chép án. Chốt then. Vặn to đèn.

Đặt hộp lên án, cạnh cuốn sổ vải xanh và ba dòng son đỏ ta vừa viết.

Ta mở nắp gỗ ép, lấy ra ba tờ giấy cuộn.

Dây gai đỏ tháo ra. Ta trải ba tờ ra bàn.

Chữ cha ruột. Nét cứng, hơi nghiêng phải, dấu chấm mỗi câu đậm hơn cả nét chữ. Đúng nét chữ ta đã đọc trên bia mộ. Đúng nét chữ mẹ nuôi từng bảo: “Cha con viết như đóng đinh.”

Tờ thứ nhất. Ngày viết cách đây hai năm ba tháng, tức chừng hai chục ngày trước khi cha chết. Nội dung:

Vụ nô tì Nhị Xuân, phủ Trương Nhị Lang. Chết bất minh trong bếp. Khám: cổ có vết ép năm ngón, không phải bàn tay đàn ông thường (ngón thứ ba dài hơn ngón thứ tư). Trên tay áo có bột trắng: hăng, cay, cháy loé vàng khi đưa lửa. Không phải muối. Không phải phèn. Ngờ diêm thổ.

Nếu là diêm thổ trong phủ Trương Nhị Lang, thì đường trong ra ngoài, phải hỏi tới anh cả.

Ta ngẩng đầu. Trong khoảng khắc rất ngắn, ta thấy như có một dòng nước lạnh trườn dọc sống lưng. Cha ta đã sờ tới ranh giới ấy hai năm trước. Cùng thứ bột. Cùng một mẻ. Cùng dấu ấn Trương.

Tờ thứ hai. Ngày viết bảy ngày sau tờ thứ nhất.

Đại lý tự đã thay ngỗ tác trưởng. Ta bị chuyển sang khám xác vô danh cửa Bắc, không được đụng vụ Nhị Xuân nữa. Cấp trên nói: “Không phải việc của ngươi.” Cấp trên nói bằng miệng Trương thượng thư.

Đêm qua có người theo ta về phường Nam. Vòng ngõ Tương ba lần. Ta không đối mặt. Ta đi mua đèn dầu, mua vẻn mật, mua giấy pháp, tựa việc cúng. Về nhà đóng cửa sớm. Đêm nay dặn Thẩm bà: nếu ta có mệnh hệ nào, hộp trang sức khảm trai của mẹ Yên tử là chỗ giấu.

Ta nhắm mắt một nhịp. Cha viết bình như đang chép án. Nhưng ta đọc ra dưới từng nét: cha đã biết. Cha đã biết mình sẽ chết. Cha viết ra tờ này không phải để tự bảo vệ. Là để chuyển tiếp.

Chuyển cho ai?

Ta mở mắt. Đọc tờ thứ ba.

Tờ thứ ba. Không đề ngày. Nét chữ vội, cuối tờ nhấn đậm.

Nếu ai đọc được tờ này: chuỗi diêm thổ đi từ mỏ tiêu thạch phía Nam đến phường Nam Biện Kinh, qua tay Vương phủ, dán tem Trương phủ, cuối là “T.N.C.”. Ba chữ đó, không phải triện. Là tên. Trương Nguyên Chương.

Ta không đủ chứng để đưa lên vua. Ta chỉ đủ chứng để chết. Nhưng Yên tử, nếu con lớn, nếu con còn theo nghề, chuỗi này con phá cho hết. Cha tin con hơn cha.

T.N.C.

Ba chữ cuối cha viết đậm, mực chấm dày, hơi loang. Loang như một giọt nước đã rớt xuống mực khi cha viết đến chữ cuối.

Ta ngồi im.

Đèn dầu trên bàn bập nhẹ một cái, tự nhiên có gió lùa qua khe cửa. Ngoài kia, sương phường Nam đã dày như bột. Trong lư đồng góc phòng, tro hương buổi chiều ta cắm chưa nguội hẳn, còn thoang thoảng.

Ta nghĩ đến bát ba lớp: bột trắng, cổ nô tì có vết năm ngón dài, sổ Đường Y Quán viết mờ, đầu bếp phủ Lâm khai đêm nay. Ta nghĩ đến ba chữ T.N.C. cha viết đậm. Nghĩ đến vò diêm thổ hầm ngầm Vương phủ ta xoay tay chạm nắp sáp. Nghĩ đến giọt nước cha đã rớt xuống mực khi viết chữ cuối.

Xâu chuỗi. Hoàn chỉnh.

Nói có sách, mách có chứng. Câu ấy ngoại tổ dạy lúc ta còn nhỏ, kiếp này. Đêm nay ta có sách. Ta có chứng. Ta có cả nét tay cha ruột chuyển thẳng tên kẻ giết cha vào tay ta.

Cha ơi. Ta nói khẽ với ngọn đèn dầu. Ta có rồi.


Ta cuộn lại ba tờ giấy, buộc dây gai đỏ, đặt lại vào tầng dưới hộp khảm trai. Nắp gỗ ép đậy. Trang sức mẹ đẻ để tầng trên. Nắp lớn đóng. Then trượt kéo về.

Ta gói hộp trong lụa nâu. Bọc lụa nâu bằng thêm một lớp vải bố. Buộc chặt.

Không giấu trong Đại lý tự. Không giấu nhà mẹ nuôi. Ta sẽ mang tới tiệm ngân trang Diệp Nương sáng mai. Nàng có ngăn khoá kín dưới quầy trang sức. Ai lục nhà mẹ, không lục tiệm bạc. Ai lục Đại lý tự, không nghĩ đến chỗ một cô chủ tiệm nữ.

Ta cầm cuốn sổ vải xanh cùng ba dòng son đỏ, gói riêng vào một tấm khăn tay. Rồi ta đứng dậy.

Đêm nay ta không cần đợi sáng.

Đêm nay ta phải hỏi Lục Vô Ngạn một câu, câu ta đã nợ chàng từ đêm hầm ngầm Vương phủ. Câu ta đã viết bằng chữ nhỏ sát mép sổ đỏ: Lục Vô Ngạn thù riêng gì với Trương Nguyên Chương?

Bốn tháng ta đợi. Bốn tháng ta xem mắt chàng khi ta buột tên Trương ra. Bốn tháng ta ghi vào sổ mọi khoảnh khắc ngón chàng miết vào cạnh hộ oản gỗ đen. Mỗi lần miết, một lần chàng đang đè xuống một cái gì đó dưới nắp áo choàng chàng. Ta đã đủ kiên nhẫn.

Đêm nay ta đủ chứng để không hỏi kiểu dò. Đêm nay ta hỏi thẳng.

Trong nghề pháp y có một câu ta hay đọc thầm khi cầm dao: một mất một còn. Đêm nay ta xin phép cha, xin phép mẹ, xin phép cả kiếp trước ta bị đâm sau lưng chưa kịp đóng khoang bụng, đi hỏi một câu một mất một còn.

Ta khoác áo choàng, cắp cuốn sổ, bước ra khỏi phòng.


Cửa phòng riêng Lục Vô Ngạn còn sáng. Đèn dầu hắt qua khe giấy dán song, in xuống hiên đá một vệt vàng dài như dấu son ai vẩy. Ta biết chàng chưa ngủ. Từ đêm hầm ngầm Vương phủ, mỗi khi có tem Trương xuất hiện trong án, đèn phòng chàng cháy đến canh tư.

Ta đứng trước cửa. Hít một hơi.

Kiếp trước, trước khi mở khoang ngực một tử thi khó, ta luôn dừng ba nhịp. Không phải để lấy dũng cảm. Là để tay yên lại. Đêm nay ta cũng dừng ba nhịp.

Rồi ta gõ.

“Vào.”

Ta đẩy cửa.

Lục Vô Ngạn đứng bên án thư, tay trái vẫn đặt trên hộ oản gỗ đen. Trên án bày tấm bản đồ Biện Kinh, mực đỏ đêm nay khoanh thêm một điểm mới: dịch trạm ngoài cửa Tây, chỗ em ruột Trương Nguyên Chương thường tiếp khách buôn. Chàng nghe ta vào, ngẩng lên. Ánh đèn dầu chia mặt chàng thành hai nửa: nửa sáng lạnh, nửa chìm bóng gỗ nâu. Vẫn nét ấy. Vẫn ánh mắt như dao khắc.

Nhưng đêm nay ta cầm sổ đỏ, ta cầm chữ cha ta, ta không ngại dao.

“Đại nhân.”

“Ngươi chưa về nghỉ?”

“Chưa.”

Ta bước ba bước vào phòng. Đặt cuốn sổ vải xanh xuống án, tháo khăn tay bọc ngoài. Mở ra đúng trang giữa. Ba dòng son đỏ hiện dưới ánh đèn dầu như ba vệt máu đã khô.

“Hạ quan có việc trình đại nhân.”

Lục Vô Ngạn cúi mắt. Đọc.

Chàng đọc chậm. Từng dòng. Ta thấy cổ tay trái chàng gồng nhẹ một cái khi mắt chàng chạm dòng thứ ba, chỗ ta viết em ruột Trương Nhị Lang. Sau đó chàng đọc lại từ đầu. Đọc kỹ lần hai.

“Ba manh mối cùng dồn về một tên.” Ta nói. “Hạ quan không tin ba lần trùng là ngẫu nhiên.”

“Ta cũng không tin.” Chàng đáp.

“Vậy đại nhân đã tin từ bao giờ?”

Chàng ngẩng lên. Ánh mắt dịch một nhịp rất khẽ. Kiểu dịch mà ta đã ghi trong sổ đêm hầm Vương phủ. Kiểu dịch của người đã biết cái tên này lâu hơn ta rất nhiều, chỉ chờ nó lộ ra trước mặt mình lần nữa.

Chàng không đáp.

Ta không đợi chàng đáp. Ta rút thêm một tờ nữa từ trong áo. Bản chép tay ta vừa chép lại tờ giấy thứ hai của cha, nét chữ ta cẩn thận giữ nguyên câu: “Cấp trên nói bằng miệng Trương thượng thư. Đêm qua có người theo ta về phường Nam…”

Ta đặt tờ chép xuống, đè lên cuốn sổ.

“Đây là nét cha ta.” Ta nói. “Cha ta là ngỗ tác cũ Đại lý tự. Chết hai năm trước, khai tự vẫn. Đêm nay hạ quan mở hộp mẹ nuôi giữ cho cha. Trong hộp có ba tờ giấy cha viết trước khi chết. Cha đã lần ra chuỗi diêm thổ trước hạ quan hai năm. Cha ghi ba chữ cuối: T.N.C. Trương Nguyên Chương.”

Ta nhìn lên.

“Cha ta chết vì cái tên này.”

Lục Vô Ngạn im. Ba nhịp thở.

Chàng đưa tay đặt xuống cạnh tờ chép. Ngón chàng không chạm giấy, chỉ đặt bên cạnh, như để tránh làm loang mực chưa khô. Ngón khác, tay trái, vẫn miết vào cạnh hộ oản gỗ đen. Miết chậm hơn. Miết đều hơn.

Ta nhìn ngón chàng miết. Ta nhìn ánh đèn dầu hắt lên nửa mặt chàng vàng, nửa đen. Ta nhìn khe cửa sương phường Nam luồn vào phòng, chạm mép tờ chép, đọng thành một giọt li ti không rơi.

Ta hỏi câu ta đã nợ chàng bốn tháng.

“Đại nhân.” Ta nói, giọng bằng. “Hạ quan biết ngài giấu ta điều gì. Từ đêm hầm ngầm Vương phủ. Từ lúc ngài nhìn tem diêm thổ, mắt ngài không giật mình, mắt ngài chỉ nhận ra. Đêm nay hạ quan xin hỏi thẳng.”

Ta hít một hơi.

“Ngài có thù riêng gì với Trương Nguyên Chương?”


Đèn dầu bập nhẹ.

Lục Vô Ngạn không đáp ngay. Chàng nhìn tờ giấy cha ta viết. Nhìn ba dòng son đỏ trong sổ ta. Nhìn xuống hộ oản gỗ đen trên tay trái mình. Ngón cái ấn nhẹ vào cạnh gỗ, đè xuống một chỗ lõm nhỏ ta chưa từng để ý.

Chỗ lõm đó, ta thấy đêm nay, có hình một chữ khắc mờ.

Không phải chữ triện. Là một chữ tên. Một chữ họ.

Chàng ngẩng lên. Nhìn ta.

Ánh mắt chàng đêm nay không còn là dao khắc. Là mực đen đã trải qua canh khuya, dày, chậm, không đảo lên nữa.

“Thẩm Yên.” Chàng nói. Chàng gọi tên ta. Không gọi chức.

“Ngồi xuống.”

Ta ngồi.

Chàng cởi hộ oản gỗ đen ra khỏi tay trái, lần đầu trong bốn tháng ta đứng cạnh chàng. Đặt lên án, cạnh sổ đỏ của ta, cạnh tờ chép chữ cha ta. Ba vật xếp thành một hàng. Ba vật, cùng một cái tên.

Sương phường Nam ngoài song đứng lại. Ngọn đèn dầu vẫn cháy.

Ta ngồi trước Lục Vô Ngạn, sổ đỏ mở, chữ cha ta chờ, hộ oản gỗ đen của chàng vừa được tháo ra sau ba năm chàng đeo không rời. Ta biết đêm nay ta sẽ nghe một câu mà bốn tháng trước ta chưa đủ chứng để nghe.

Trong lòng, ta khe khẽ ghi thêm một dòng vào sổ đỏ, chưa cầm bút, chỉ ghi trong đầu, đợi khi về phòng chép án sẽ hạ xuống giấy:

Đêm mười ba tháng mười, canh tư. Lục Vô Ngạn tháo hộ oản gỗ đen. Chuyện chàng giấu, đêm nay bắt đầu mở.