Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 18: Cha Lục Cũng Bị Trương Giết
Canh hai, đêm mười lăm tháng mười.
Ta đứng trước bàn án thư của Lục Vô Ngạn, tay trong tay áo giữ chặt ba thứ.
Một, mảnh giấy tem đỏ ta khoét từ vò diêm thổ Vương phủ đêm mười một tháng chín, dấu triện Trương phủ, chữ T-N-C vòng quanh cạnh triện bát giác.
Hai, một trang giấy chép lại từ sổ giao dịch Đường Y Quán, tên khách hàng thứ năm viết mờ, đúng ba chữ: T. Nguyên C. Đường Thanh khai đã bán năm lọ thuốc trẻ em cho khách này, mỗi lọ năm trăm lượng.
Ba, một trang giấy cũ đã ố vàng, chép tay của cha ruột ta, Thẩm Cát. Tờ giấy này ta lấy trong hộp trang sức khảm trai của mẹ nuôi lúc đầu canh. Chữ cha viết vội, mực đen loang, ở giữa trang chỉ có ba ký hiệu: T. N. C.
Ba mảnh giấy. Ba thời điểm. Ba nơi khác nhau. Một cái tên.
Trắng đen phải rõ. Ta đến để yêu cầu chàng cho ta câu trả lời.
Lục Vô Ngạn ngồi bên bàn, tay trái đặt lên hộ oản gỗ đen. Đèn dầu duy nhất trong phòng đặt sát vách, ánh vàng chỉ đủ soi tới nửa bàn. Bên ngoài, sương phường Nam đã dày, đọng thành từng vệt ướt trên mảnh giấy dán song cửa. Cả phòng im như phòng khám tử thi lúc chưa cầm dao.
Ta đặt ba trang giấy lên án thư, xếp song song. Rồi lùi một bước, chắp tay.
“Đại nhân. Hạ quan có một câu hỏi.”
Chàng không ngẩng. Ngón trỏ chàng lần theo cạnh triện bát giác trên tem tem Trương phủ. Miết chậm. Miết đúng chỗ cạnh chữ T-N-C. Miết như đã miết cạnh này rất nhiều lần trước hôm nay.
“Nói.”
“Ba manh mối này, hạ quan tìm ba tháng. Một tem diêm thổ, một tên trong sổ Đường Y Quán, một chữ trong ghi chép của cha hạ quan. Đều dẫn về một người: Trương Nguyên Chương.”
Chàng gật rất khẽ. Không phải gật với ta. Gật với chính chàng.
“Đại nhân biết điều ấy trước hạ quan.” Ta ngừng một nhịp. “Đại nhân biết từ đêm mười một tháng chín, khi hạ quan đưa chàng xuống hầm ngầm Vương phủ.”
Ngón chàng dừng trên mảnh giấy tem.
“Đại nhân, ngài có thù với Trương Nguyên Chương?”
Chàng không đáp.
Ta đứng chờ. Trong lòng ta đếm nhịp thở. Kiếp trước ta đợi máy đo huyết áp cũng đếm nhịp thế. Kiếp này ta đợi lời của một người đang cắn răng, cũng đếm không khác.
Một canh giờ.
Chàng ngồi im một canh giờ.
Không phải im vì không muốn nói. Là im vì đang chọn nói bao nhiêu, giấu bao nhiêu. Ta biết kiểu im ấy. Đó là im của người đã tự khoét một hố sâu trong lòng nhiều năm, giờ có kẻ đưa xẻng chìa qua, hỏi có mượn không.
Đèn dầu vặn thấp. Bấc cháy đến quá nửa. Trên bàn án, tro hương lư đồng nguội hẳn.
Cuối canh, chàng đứng dậy.
Không nói gì. Chàng bước sang góc phòng, chỗ chiếc tủ gỗ trắc đặt sát tường. Tủ này ta đã thấy suốt ba tháng làm việc, nhưng chưa lần nào thấy chàng mở. Bên trên có một ổ khoá đồng nhỏ, hình con dơi ngậm kim. Chàng tháo ổ khoá bằng chìa đeo trong người. Kéo cánh tủ ra.
Bên trong, không giấy tờ Đại lý tự. Không kinh sách. Không sổ án.
Chỉ có ba tập hồ sơ, bìa vải xanh, buộc dây gai.
Chàng đưa cả ba tập ra, đặt lên bàn án, sát bên ba mảnh giấy của ta.
Ba tập hồ sơ dày. Bìa vải xanh đã bạc, gấp mép mòn. Nếu đo bằng mắt của người từng bút phê hàng ngàn hồ sơ bệnh án, ta nói chàng đã lật ba tập này không dưới trăm lần mỗi tập.
“Ngồi.”
Ta ngồi xuống ghế đối diện. Đầu gối ta hơi lạnh vì đêm sương chưa tan trong áo. Nhưng lòng ta thì đã sáng như đèn vừa lên bấc.
Chàng mở tập thứ nhất.
Trang đầu, một tờ giấy triều đình. Chữ mực đen. Ngày tháng: đêm hai mươi tám tháng bảy năm Nguyên Phong thứ bảy.
Ba năm trước.
Ta cúi xem. Nội dung: Lục thượng thư Lục Bằng Chi, tuổi năm mươi ba, đêm khuya trong tương phủ đột ngột trúng phong, chết tại chỗ. Ngự y khám qua, kết luận trúng phong hàn. An táng tại tổ mộ Lục thị ngoài cửa Bắc.
Trúng phong hàn.
Ta ngước lên nhìn Lục Vô Ngạn. Chàng đang nhìn dòng chữ ấy, mặt không đổi. Nhưng ngón tay cái của chàng đã bấm vào cạnh giấy đến trắng bệch.
“Cha đại nhân?” ta hỏi khẽ.
“Ừm.”
“Ngự y khám nói trúng phong. Đại nhân không tin?”
Chàng lật trang.
Trang thứ hai, chữ chàng tự viết. Nét chữ đúng nét ta đã thấy ba tháng nay: cứng, thẳng, mỗi nét cuối hơi bẻ về sau. Bên trên có ngày: tháng chín cùng năm.
Tháng chín, năm Nguyên Phong thứ bảy, một tháng sau khi cha chết.
Ta đã tự khám lại. Ta thắp nến, mở quan tài, xem. Da cha còn giữ, có bốn dấu bầm hình bàn tay ở ngực trên: hai bên nhũ, bốn ngón bên trái, bốn ngón bên phải. Ngự y đã không nói. Không ai nói.
Trúng phong hàn không để lại bốn dấu bàn tay trên ngực.
Cha ta bị ép ngực. Bị ép đến ngạt. Kẻ giết là người biết thủ pháp làm giả trúng phong.
Ta đọc đến đó thì lặng.
Trong đầu ta bật lên đúng nhịp giáo trình pháp y kiếp trước: ngạt do chèn ép lồng ngực. Xuất huyết chấm đỏ dưới da. Ta không nói ra. Ở Đại Tống người ta gọi ngạt do chèn ngực là tuyệt khí trọng áp, thấy trong sách của Tống Từ nhưng không mấy ngỗ tác biết. Ngự y nhìn qua kết luận trúng phong là vì ngực không có vết đâm, không có vết dây, không có bọt máu ở mép. Chỉ có bầm nhẹ, người thường nhìn không ra.
Nhưng nếu người khám là con của tử thi ấy, đèn thắp cao, tay tự lật quan tài, thì bốn dấu bàn tay bầm hình nhũ hoa không thoát được mắt.
“Đại nhân đã tự khám lại cha mình?” ta hỏi.
Chàng gật. “Ta mười tám tuổi năm ấy. Ta biết thế nào cũng phải khám. Ngự y không dám nói, ta phải tự nói cho mình nghe.”
Ta cúi đầu. Trong lòng có một cảm giác lạ. Không phải thương chàng. Là thấy rõ, ba tháng nay ta ngồi cạnh chàng trong phòng khám tử thi Đại lý tự, chàng không sợ tanh, không sợ máu, không sợ mùi thi thối, hoá ra không phải vì chàng là quan.
Là vì chàng đã một mình đứng bên quan tài cha, một đêm.
Chàng lật tập thứ hai.
Trên trang đầu, ngày tháng khác: đêm hai mươi ba tháng ba năm Nguyên Phong thứ chín.
Hai năm sau khi cha chàng chết. Đúng hai năm trước hôm nay.
Nội dung dòng đầu tiên: Thẩm Cát, ngỗ tác Đề Hình Ti, tuổi bốn mươi bảy, đêm khuya đi thăm mộ trở về, ngã xuống hầm mộ cũ ở nghĩa trang cửa Nam, gãy cổ chết tại chỗ. Ngự y khám qua, kết luận trượt chân do đêm tối.
Ta ngồi thẳng lưng.
Cha ta.
Chữ Thẩm Cát trên giấy này ta đã đọc qua một lần, ở bia mộ nghĩa trang cửa Nam, hôm ta tỉnh dậy trong thân xác này. Nhưng đọc lại ở đây, dưới ánh đèn dầu của phòng thiếu khanh Đại lý tự, giữa đêm sương, ta thấy hai chữ ấy như đâm vào một chỗ ta không nghĩ mình còn cảm nhận được.
Chàng lật trang. Ta nhìn theo.
Trang thứ hai, cũng chữ Lục Vô Ngạn.
Thẩm Cát là ngỗ tác thân tín của cha ta khi cha ta còn là Đề Hình Ti thượng thư. Cha giao Thẩm Cát điều tra ngầm một manh mối buôn diêm thổ. Thẩm Cát tìm được dấu triện đầu tiên. Chưa kịp báo trực tiếp, cha ta đã bị ép ngực chết.
Một năm rưỡi sau, Thẩm Cát bị đẩy xuống hầm mộ nghĩa trang cửa Nam. Ngự y ghi “trượt chân”. Ta không tự tay khám được, vì lúc ấy ta đang bị Trương Nguyên Chương giữ chân ở Hà Nam, đi phá vụ án nhỏ để tách ta khỏi kinh thành.
Nhưng ta biết. Là hắn. Là hắn cả.
Ta thở ra một hơi rất chậm.
Trong đầu ta chạy như bấc đèn vặn nhanh: cha ta không trượt chân. Cha ta bị đẩy. Cha ta đã tìm được dấu tem T-N-C trước ta ba năm. Cha ta chết vì cha ta thấy trước.
Còn Lục Vô Ngạn, cha chàng cũng chết vì cùng một chuỗi tem đỏ ấy.
Ta đưa tay lên miệng. Không phải vì kêu. Vì sợ nếu không đưa tay chặn, thứ thoát ra sẽ là tiếng ta chưa từng cho ai nghe.
Chàng lật tập thứ ba.
“Ba năm nay ta tra ngầm.” Giọng chàng vẫn bằng, nhưng chậm hơn. “Từ khi cha ta chết, ta xin về triều làm quan văn, chuyển sang Đại lý tự, học ngỗ tác học của Tống Từ tiên sinh. Ta xin lên thiếu khanh không phải vì công lao. Là vì thiếu khanh có quyền phê án tử, có quyền lục soát phủ đệ cấp thượng thư mà không cần xin phép Ngự sử.”
Ta gật. Chi tiết ấy ta đã lờ mờ đoán ra từ đêm chàng ký lệnh khám phủ Vương thị lang một mình không hỏi ai. Giờ nghe chính chàng nói ra, thấy nhẹ đi. Nói có sách, mách có chứng. Từ nay ta không đoán mò nữa.
“Ba năm, ta gộp được bảy mảnh nhỏ.” Chàng chỉ tay vào tập ba. Bên trong là bản đồ Biện Kinh, mực đỏ khoanh mười mấy điểm, dây mực nối chằng chịt, giống một mạng nhện phủ khắp bốn cửa thành. “Bảy mảnh, chưa đủ đưa lên vua. Trương Nguyên Chương đã dựng cho hắn một tường lá chắn: sáu quan Lễ bộ, hai quan Ngự sử, ba tướng biên trấn ngậm miệng vì được chia bạc. Ta có bằng chứng đến đâu, hắn có người phản chứng đến đó.”
“Vì thế đại nhân giấu tem Vương phủ đêm đó.”
“Giấu, để hắn không biết ta đã có mảnh thứ tám. Nếu đêm đó ta dâng ngay lên triều, Vương thị lang sẽ tự sát trong ngục trước bình minh. Vương Kiêu sẽ bị em trai Trương thủ tiêu trên đường ra pháp trường. Chỉ còn ba vò diêm thổ, mà ba vò thì Trương sẽ khai là do em trai hắn buôn lậu, tự nhận tội thay. Ta mất cả ba mắt xích, còn hắn vẫn ngồi Lễ bộ.”
Chàng ngước lên. Ánh đèn dầu chiếu vào mắt chàng. Mắt vốn cứng như dao khắc, đêm nay lại giống mắt của một người đứng trước bia mộ cha lần thứ nhất.
“Ta không giấu ngươi để hại ngươi. Ta giấu vì chưa dám chắc ngươi cần biết đến đâu.”
Ta gật.
“Hạ quan hiểu.”
“Nay ngươi đã ghép được ba mảnh trong chỉ ba tháng. Trong đó có một mảnh của cha ngươi để lại. Ta không giấu được nữa.”
Ta đưa tay ra, chạm nhẹ vào tờ giấy cũ của cha. Ngón ta lạnh. Nhưng giấy còn lạnh hơn.
Ta khẽ nói với tấm bia mộ nghĩa trang cửa Nam trong đầu: Cha. Con biết rồi. Không phải cha trượt chân. Không phải cha say rượu vấp bậc. Cha bị đẩy vì cha đã tìm ra một cái tên mà bảy quan trong triều đều sợ.
Con sẽ tiếp cha. Con và một người nữa.
Ta ngước lên nhìn Lục Vô Ngạn.
“Đại nhân.”
“Ừm.”
“Từ đêm nay, hạ quan xin điều tra chung với đại nhân. Không giấu, không ém. Ba mảnh của hạ quan là của đại nhân. Bảy mảnh của đại nhân là của hạ quan. Ta không phân của ai.”
Chàng nhìn ta. Rất lâu. Lâu đến mức bấc đèn phải bị vặn cao thêm một chút cho đủ sáng.
“Được.” Chàng nói. “Ta đợi ngươi câu này lâu rồi.”
“Lâu bao lâu?”
“Từ đêm ngươi rắc bột diêm thổ lên bấc đèn ở hầm Vương phủ. Ngươi rắc chuẩn, ngươi ước lượng cân chuẩn. Ngươi biết tem T-N-C nghĩa là gì trước cả khi ta nói tên hắn ra. Đêm ấy ta đã biết ngươi không phải ngỗ tác thường.”
Ta cụp mắt. Có một chút gì thoáng nóng ở tai. Ta bảo lòng: đèn dầu vặn cao, nóng tai là chuyện thường.
“Vậy đại nhân định tiếp thế nào?” ta hỏi.
Chàng chỉ vào tập thứ ba.
“Ta có bảy mảnh, cộng ba của ngươi là mười. Đủ chứng ba vụ án lớn có Trương đứng sau. Nhưng chưa đủ đưa lên vua. Vua đã nghi Trương từ năm ngoái, khi hắn ép Lễ bộ hạ thuế xuất diêm thổ khỏi danh mục cấm. Nhưng nghi và bắt là hai chuyện. Vua sẽ chỉ ra chỉ khi có nhân chứng đứng ra ở triều, chỉ vào mặt Trương, khai bằng lời.”
Ta hiểu.
Ở Đại Tống, bằng chứng giấy tờ có thể được cãi là giả. Bằng chứng vật có thể được cãi là dựng. Chỉ có một loại bằng chứng khó cãi: người sống, đứng giữa triều, chỉ tay vào mặt kẻ có tội.
“Nhân chứng nào?” ta hỏi.
“Trong triều.” Chàng lật một trang trong tập ba, chỉ vào năm cái tên. “Năm quan này biết Trương, ba năm nay im vì sợ. Nếu ta thuyết được một trong năm người ra chứng, đủ.”
Ta xem năm cái tên. Bốn cái ta không biết. Cái thứ năm ta biết: Ngự sử Vương Chí Kính. Đã có tiếng thẳng thắn, từ chối hối lộ hai lần công khai trong sổ triều.
“Vương Ngự sử.”
“Ừm.”
“Ngài định tiếp cận thế nào? Vương Ngự sử không hối lộ, cũng không nghe ai không đủ bằng chứng.”
Chàng cụp mắt, ngón lại miết cạnh hộ oản gỗ đen. “Ngày mai. Ta hẹn ông ấy ở tửu quán Bạch Vân, phường Tây. Ngươi đi cùng ta.”
Ta gật.
Chàng ngước lên.
“Đêm nay muộn. Ngươi về nghỉ.”
Ta đứng dậy. Cúi chào. Trước khi quay đi, ta ngập ngừng một khắc, rồi khẽ nói.
“Đại nhân.”
“Ừm?”
“Ba năm nay ngài một mình. Nay có hạ quan cùng.”
Chàng nhìn ta. Rất chậm, chàng gật.
“Nay có ngươi cùng.”
Ba chữ chàng nói không lớn. Nhưng ta nghe rõ như bấc đèn dầu tách một tiếng nhỏ khi nến chạm giọt sáp.
Ta lui ra khỏi phòng. Đóng cửa. Sương ngoài hiên đã đọng thành giọt, rớt xuống mái ngói phía Đông từng nhịp không đều. Đèn phòng chàng còn sáng. Bóng chàng in trên giấy song cửa, một bóng ngồi, tay đặt trên bàn án, đầu hơi cúi.
Ta đứng nhìn ô song ấy một khắc. Rồi ta quay đi.
Về phòng chép án, ta chốt cửa. Đèn ta vặn thấp.
Ta rút cuốn sổ vải xanh trong giỏ nước hoa hương trầm ra. Chấm mực đỏ. Mở trang mới.
Ta viết:
Đêm mười lăm tháng mười, canh ba. Lục Vô Ngạn đã nói.
Cha chàng, Lục thượng thư Lục Bằng Chi, chết ba năm trước. Trúng phong hàn giả. Thực chất là tuyệt khí trọng áp: bốn dấu bàn tay ép ngực, kẻ giết thuần thục.
Cha ta, Thẩm Cát, chết hai năm trước. Trượt chân hầm mộ giả. Thực chất bị đẩy.
Kẻ chung: Trương Nguyên Chương.
Cha ta là thân tín của cha chàng. Cùng điều tra vụ diêm thổ. Cả hai chết vì đã tìm ra dấu tem T-N-C. Cha ta tìm trước, dâng lên cha chàng. Cha chàng chết trước một tháng sau. Cha ta chết sau, một năm rưỡi.
Lục Vô Ngạn ba năm tra ngầm. Bảy mảnh cộng ba mảnh của ta là mười. Chưa đủ.
Cần nhân chứng trong triều. Ngày mai gặp Vương Ngự sử Vương Chí Kính, tửu quán Bạch Vân phường Tây.
Ta dừng bút. Trong lòng ta có một câu chưa dám viết ra. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, ta chấm mực lần nữa, viết thêm ở góc trang, nét nhỏ hơn hết:
Ba năm chàng một mình đứng trước quan tài cha. Nay không còn một mình.
Ta đóng sổ. Gói lại trong mảnh vải nâu. Nhét xuống đáy giỏ nước hoa như cũ.
Thổi tắt đèn.
Trong bóng tối, ta ngồi thêm một khắc bên án. Ngoài song, sương phường Nam vẫn không tan. Tro hương trong lư đồng đã lạnh hẳn, nhưng ta ngửi thấy còn thoảng một mảnh mùi trầm mờ.
Kiếp trước ta chết cô độc trong phòng lạnh, dao đâm sau lưng, không ai đứng bên. Kiếp này, đêm mười lăm tháng mười, ta biết có một người cũng đang ngồi trước bàn án, ngón miết cạnh hộ oản gỗ đen, cùng nhìn về một cái tên với ta.
Gieo gió gặt bão. Ba năm nay Trương Nguyên Chương đã gieo. Sang canh tư, ta khép mắt, tự nói với lòng: bão sẽ đến, không sớm thì chầy. Và lần này, bão có hai người thổi.
Ngoài song, mái ngói Đại lý tự khẽ nhỏ giọt sương. Một giọt rơi trúng cột đá, kêu một tiếng rất nhỏ, như bút mực đỏ chấm dứt câu.
Ta ngủ thiếp đi.
Trong mơ, ta thấy cha ta đứng bên bia mộ nghĩa trang cửa Nam, tay không cầm quạt cũ nữa, mà cầm một tấm giấy tem. Tem đỏ, chữ T-N-C bát giác. Cha đưa tem cho ta, khẽ gật đầu.
Bên cạnh cha, có thêm một người đứng: áo văn quan cũ, tuổi năm mươi, tay trái đeo hộ oản gỗ đen giống hộ oản đêm nay ta đã nhìn miết cả canh giờ. Người ấy quay sang cha ta, nói khẽ một câu ta không nghe rõ. Cha ta gật đầu.
Rồi cả hai cùng nhìn ta.
Cả hai cùng gật.
Ta tỉnh dậy đúng lúc trống canh năm ngoài cửa thành gõ tiếng đầu.
Trời chưa sáng.
Nhưng trong lòng ta đã đủ sáng để đi đến tửu quán Bạch Vân.