Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 19: Nhân Chứng Trong Triều
Đêm hôm sau, sương dày như bột.
Ta ngồi trong phòng riêng của Lục Vô Ngạn ở Đại lý tự, tay xếp giấy tờ ba vụ án cũ thành ba xấp riêng. Vụ nô tì giếng phủ Vương thị lang. Vụ trẻ em cầu Biện Hà. Vụ phú thương Lâm Đại lang. Ba xấp giấy đặt song song trên án gỗ, mép giấy đều tăm tắp. Ta có thói xếp giấy như xếp dao mổ: mỗi tờ một chỗ, mỗi manh mối một cạnh sắc.
Ngoài cửa sổ, đèn dầu treo hiên rung một cái vì gió. Bóng đèn dầu hắt lên tường thành một khoanh vàng lay lắt, giống hình xác cá chết dán bên bờ sông.
Chàng đứng bên án thư, trước mặt là một tấm giấy dó lớn. Trên giấy vẽ sẵn một hình đơn giản: chín ô vuông xếp thành ba hàng, mỗi ô ghi một tên. Mực đỏ đã khô. Ta liếc qua đọc thầm: Vương Chí Kính, Lâm Bá Ôn, Diêu Đình Nghiêm, Tống Duy Chi, Hồ Nhược Hải. Năm cái tên trên hàng đầu. Bốn ô còn lại bỏ trống.
“Đây là toàn bộ ngự sử và quan gián nghị hiện đang tại triều,” chàng nói. “Năm người. Đủ điều kiện dâng biểu vượt cấp lên vua.”
Ta gật đầu, kéo ghế ngồi xuống đối diện.
“Đại nhân đã cân nhắc rồi chứ?”
“Cân nhắc mười ngày. Chờ ngươi tỉnh mộng cha.”
Ta cúi mắt. Chàng biết đêm qua ta đã ngồi trước ghi chép cha hai canh giờ mới ngủ được. Chàng không hỏi, chỉ chờ. Ta để câu đó trôi qua như trôi nước.
“Bắt đầu từ Vương Chí Kính đi.”
Chàng cầm bút, khoanh tên Vương Chí Kính lại bằng một vòng tròn kép.
“Ngự sử đại phu. Sáu mươi tuổi. Người phường Đông. Mẹ mất từ khi tám tuổi, nuôi lớn bằng nghề mở lớp dạy chữ trong ngõ. Cả đời không hối lộ, không nhận quà tết quá năm lượng. Kẻ trong triều đặt cho biệt danh Vương Băng Diện. Băng vì lạnh. Diện vì không nể mặt bất kỳ ai.”
“Nghe được,” ta nói. “Có nợ Trương phủ không?”
“Không nợ. Ngược lại, tám năm trước có lần ném thẻ ngà ngự sử vào mặt Trương Nguyên Chương trong triều vì Trương ép giảm thuế đất phường Nam của một quả phụ. Trương nhớ tới nay.”
“Vậy nếu ta nói cho hắn nghe chuyện diêm thổ…”
“Hắn nghe. Nhưng chưa chắc tin.”
Ta gật.
Chàng khoanh tên thứ hai. Lâm Bá Ôn.
“Giám sát ngự sử. Bốn mươi hai tuổi. Người thanh liêm nhưng vợ ốm nặng. Ba năm trước Trương phủ cho vợ hắn thuốc cứu mạng. Từ đó hễ nhắc Trương, hắn tránh.”
Ta nhíu mày.
“Nợ ân. Không dùng được.”
“Chưa nói chi tiết cho hắn nghe, ta không dám. Một câu lỡ ra, hắn cân nhắc trả ân trước rồi mới cân nhắc trung triều. Nguy.”
Bút đỏ gạch chéo tên Lâm Bá Ôn.
Chàng khoanh tên thứ ba. Diêu Đình Nghiêm.
“Giám sát ngự sử. Năm mươi tuổi. Con gái gả cho Trương Nhị Lang năm ngoái. Loại từ đầu.”
Ta liếc chàng.
“Đại nhân sao đã liệt tên nếu biết loại?”
“Để ngươi thấy đủ mặt. Đừng để sót ai.”
Chàng ngẩng lên. Ánh mắt như dao khắc mà ta đã quen, nay khắc thêm một vệt gì đó ta không đặt tên được. Có lẽ là kiên nhẫn. Có lẽ chỉ là tro hương chưa nguội.
Ta không nói. Cắn nhẹ trong má.
Bút đỏ lại gạch chéo. Diêu Đình Nghiêm.
Tống Duy Chi, giám sát ngự sử phường Bắc, gạch vì hai mươi năm trước từng là thư đồng nhà Trương, có nghĩa nghĩ đến, không thể tin. Hồ Nhược Hải, ngự sử trung thừa, gạch vì tuổi già thất trí, viết biểu không rõ chữ.
Trên giấy còn lại một tên duy nhất khoanh vòng kép: Vương Chí Kính.
Ta thở ra. Không nhẹ.
“Vậy là một.”
“Một là đủ.” Chàng đặt bút xuống. “Nếu là Vương Chí Kính, một hắn có thể kéo được ba người khác trong tam nha. Cần thêm ai nữa, hắn tự đi mời.”
“Nếu hắn không tin ta thì sao?”
“Thì lại tính tiếp.” Chàng nhìn ta. “Nhưng trước khi tính tiếp, ngươi phải để hắn nghe. Bằng tai chính hắn.”
Ta gật.
Chàng lấy trong ống bút ra một tờ thiếp trắng, viết mấy chữ ngắn. Chữ khô, ngòi bút nghiêng ba mươi độ như dao chém. Kính mời Vương ngự sử đại phu tối mai giờ Tuất, tửu quán Bạc Nguyệt phường Nam, hai người mời rượu một chén. Không ký tên chức. Chỉ ký hai chữ Vô Ngạn.
Ta nhìn hai chữ đó. Chàng viết nhẹ như buông một cánh cửa. Nhưng ta biết đây là một cánh cửa nặng.
“Ngày mai ta đi cùng?”
“Đi cùng. Giả nam như thường. Hạ quan của ta, đi hầu ghi chép.”
“Vâng.”
Ta đưa tay nhận tờ thiếp, gấp làm tư, cất vào tay áo. Ngón tay ta chạm tay chàng nửa khắc. Cả hai đều rút về đúng lúc. Ba ngày nay tay ta và tay chàng cứ đụng như vậy, ai rút trước cũng khó nói.
Ngoài kia sương đã lên tới mép cửa. Gió lạnh len qua khe gỗ.
Ta đứng dậy. “Hạ quan xin phép về phòng nghỉ.”
Chàng gật, không giữ. Nhưng khi ta ra tới cửa, tiếng chàng vọng theo sau lưng.
“Yên.”
Ta dừng.
Đây là lần đầu tiên chàng gọi tên ta trống, không đèo chức, không đèo họ. Chỉ một chữ. Nghe như một tiếng dao rơi trên đá lạnh.
Ta không quay lại.
“Ngày mai ngươi ăn no rồi hãy đi. Rượu quán ấy uống mạnh.”
Ta cười khẽ trong bóng tối cửa. Không để chàng thấy.
“Vâng, đại nhân.”
Sáng hôm sau, ta dậy sớm. Nước rửa mặt lạnh cắt da. Ta nhìn mình trong chậu nước: mặt lạnh, mắt lạnh, sẹo nhỏ trên môi trên vẫn còn đó. Sẹo giả nhưng đã dán chín năm, đã như thật. Tóc buộc cao kiểu thư đồng, dây vải quấn ngực chín vòng. Ta chỉnh vòng thứ chín cho khít, mặc áo the nâu chín thân, đi giày vải thấp. Cả người là một thanh niên gầy mảnh, không có gì đáng chú ý. Đúng như ý ta muốn.
Sáng đó Đại lý tự vẫn có án. Một vụ trộm gạo ở cầu Bắc, tử thi tuần binh, không liên quan Trương. Ta khám nhanh, viết báo cáo. Vụ này không cần dùng đầu, chỉ cần tay: kẻ trộm bị đánh chết bằng đòn gỗ, không phải bị chém, tuần binh chết vì gãy xương chẩm, không phải trúng thương ngực. Ta viết ba trang giấy, giao thư ký, rời phòng khám tử. Cả sáng chỉ nghĩ đến buổi tối.
Giờ Thân, ta ăn cơm với Bích Đào ở phòng ngoài. Con bé mười ba tuổi, cháu Diệp tỷ, mới vào Đại lý tự phụ ta được bốn tháng. Nó ăn nhanh, mắt dán vào bát cơm không dám hỏi ta chuyện tối nay. Nó biết ta có chuyện, không dám hỏi là biết ý. Ta thương nó ở chỗ đó.
“Bích Đào,” ta nói khi vét cuối bát. “Tối nay ngươi về nhà Diệp tỷ ngủ. Không cần chờ ta.”
“Vâng, Yên ca.”
Nó cúi đầu, không hỏi. Được.
Giờ Tuất, tửu quán Bạc Nguyệt.
Bạc Nguyệt nằm khép mình trong ngõ hẹp phường Nam, tường vôi tróc, đèn dầu treo trước cửa. Chủ quán họ Hà, đã sáu mươi, tai kém, mắt sáng. Người biết chuyện thì kể Hà lão vốn là thám tử ngầm của tiên đế đã cáo lão, mở quán này để nhìn quan lại vào ra. Chuyện thật hay giả, không rõ. Nhưng Lục Vô Ngạn chọn nơi này chứng tỏ ít nhất chàng tin Hà lão không đưa tin cho Trương phủ.
Ta và chàng đến trước giờ Tuất một khắc. Vào bàn trong cùng, sát tường, quay lưng vào cửa. Chàng mặc áo the xanh thẫm không thêu chỉ, ngoài khoác áo choàng đen dày. Ta ngồi bên trái chàng, gần vách gỗ, tay đặt trên bàn cầm sổ ghi chép. Trên bàn có sẵn ba chén rượu, một đĩa đậu phộng luộc, một đĩa mực khô nướng, hai bát thịt kho lạt.
Hà lão đứng bên góc, không hỏi thêm, chỉ đưa thêm một ấm nước ấm rồi lui.
Chàng rót rượu cho ta nửa chén. Ta gật.
“Uống được,” ta nói. “Hạ quan không phải mềm.”
Chàng cười khẽ, không đáp.
Giờ Tuất chớm sang khắc thứ hai, cửa quán rung một cái. Một ông lão vào. Sáu mươi tuổi, áo the màu đá xám, tóc bạc buộc gọn. Đi một mình, không thị vệ, không đèn lồng. Vào cửa cởi áo choàng, treo lên vách, không nhìn ai, đi thẳng đến bàn ta. Ngồi xuống đối diện Lục Vô Ngạn.
Vương Chí Kính. Ngự sử đại phu. Vương Băng Diện.
Ta cúi đầu ngang thắt lưng.
“Hạ quan Thẩm Yên, tham kiến Vương đại nhân.”
Ông không đáp. Chỉ liếc ta hai giây. Ánh mắt như quét qua tro hương, tìm than còn nóng. Xong đó, quay sang Lục Vô Ngạn.
“Vô Ngạn. Ngươi hẹn ta hai chén. Hai chén xong ta đi.”
“Được.” Chàng rót đầy chén Vương. “Hai chén đủ để một câu.”
Ông cầm chén, uống một hơi. Đặt xuống. Nhìn chàng thẳng.
“Nói đi.”
Chàng không lằng nhằng.
“Ba năm trước cha ta bị giết. Hai năm trước cha thuộc hạ ta bị giết. Kẻ giết cả hai là một người. Người ấy đang tại triều. Ta có bằng chứng ba vụ án khác trong sáu tháng qua, tất cả chỉ về cùng một cửa. Ta không đủ thế đem lên vua. Ta cần ngự sử.”
Vương im.
Ta đặt sổ lên bàn, giở ba trang đã đánh dấu. Tay ta không run. Ta đã tập câu này trong đầu suốt buổi sáng.
“Hạ quan xin trình. Vụ thứ nhất, tháng ba năm nay, giếng phủ Vương thị lang. Nô tì tên Tiểu Liên chết. Ban đầu khai tự vẫn. Hạ quan khám: móng tay dính sợi vải xanh không phải quần áo nàng ta, cổ có vết bầm hình bàn tay đè trước khi rơi, phổi không có nước. Không phải tự vẫn. Kẻ giết là con trai Vương thị lang, Vương Kiêu. Nguyên do: nô tì phát hiện Vương Kiêu giao diêm thổ. Trong kho ngầm Vương phủ, hạ quan tìm được ba vò diêm thổ dán tem Trương phủ.”
Ta lật trang.
“Vụ thứ hai, tháng năm, xác trẻ em cầu Biện Hà. Năm trẻ, cùng vết đâm ngực trái, cùng góc dao thuận tay trái. Dạ dày có hạt kê thô, đều là con nhà nghèo. Kẻ giết là thầy lang Đường Thanh phường Đông, giết trẻ để bào chế thuốc tăng thọ bán cho quý tộc. Sổ giao dịch của Đường Thanh ghi năm khách, khách thứ tư viết mờ ‘T. Nguyên C.’”
Ta lật trang cuối.
“Vụ thứ ba, tháng bảy, phú thương Lâm Đại lang chết treo cổ phòng khoá. Hạ quan giải phẫu ruột: ba loại độc, cà độc dược, thạch tín, tơ nấm. Không loại nào đủ giết một mình, gộp lại giết trong hai canh giờ. Đầu bếp Lâm phủ khai bị ép, kẻ ép là Trương Nhị Lang, em trai Trương Nguyên Chương.”
Ta gấp sổ. Cúi mắt.
“Ba vụ, ba mảnh, một cửa. Nói có sách, mách có chứng. Hạ quan xin đại nhân xem.”
Ta đẩy sổ sang. Vương không nhận vội. Ông nhìn ta hai giây, rồi ba giây, rồi năm giây. Ta không dám ngẩng. Ánh mắt Vương Băng Diện lạnh không thua khoang bụng tử thi mùa đông.
Ông cầm sổ, mở ra, đọc chậm.
Đọc hết ba trang, ông đặt sổ xuống. Rót chén rượu thứ hai. Uống hết một hơi. Đặt chén xuống. Chậm.
“Ngươi bao nhiêu tuổi?”
“Bẩm đại nhân, mười tám.”
“Thẩm Cát là cha ngươi?”
“Vâng.”
“Ta nhớ Thẩm Cát.” Ông nói khẽ. “Người bà con phường Nam. Chết bất minh hai năm trước. Ta có đi viếng.”
Ta khẽ cắn môi. Ta không biết chuyện này. Ta cúi đầu thêm.
“Đa tạ đại nhân.”
Ông xua tay.
“Không phải cảm ơn. Ta viếng vì công chuyện cũ, không phải vì tình riêng.” Rồi ông quay sang chàng. “Vô Ngạn. Ba vụ này ta tin. Nhưng ta không dâng biểu.”
Chàng không động sắc mặt.
“Vì sao?”
“Vì chưa đủ.” Ông đặt sổ xuống mặt bàn, đẩy về phía ta. “Ba vụ ngươi kể đều đúng luật, đều đúng người phá án. Nhưng chưa vụ nào có bằng chứng trực tiếp về Trương Nguyên Chương. Tem diêm thổ trên vò, ai cũng làm được. Tên ‘T. Nguyên C.’ trong sổ Đường Thanh, ai cũng viết được. Em trai ép người, không đủ cấu trực tiếp lên anh. Ta là ngự sử, không phải quan tra án. Ta chỉ dâng khi bằng chứng đủ chém.”
Chàng gật. Không tranh. Ta cũng gật. Trong bụng ta đã nghĩ tới câu này từ đêm qua, chỉ chưa nói ra thành lời.
“Cần thêm gì?”
“Cần một vụ mà kẻ giết chính là Trương.” Ông nói. “Không phải qua tay. Chính hắn.”
Chàng nhíu mày.
“Trương không nhúng tay vào án nhỏ. Hắn có người làm.”
“Vậy án cũ.” Ông đưa mắt nhìn thẳng chàng. “Vô Ngạn. Ta cho ngươi một tên. Ngươi tự đi tìm bằng chứng. Nếu tìm ra, ta dâng biểu ngay hôm sau.”
“Tên ai?”
Vương Chí Kính uống nốt giọt rượu cuối chén. Ông đặt chén úp xuống mặt bàn.
“Trương phu nhân. Vợ Trương Nguyên Chương. Chết năm năm trước. Khai trúng gió trong lúc dạo vườn nhà. Không giải phẫu. Chôn nhanh trong ba ngày.”
Ta cứng người. Ta chưa nghe qua vụ này.
“Đại nhân có nghi hắn giết vợ?”
“Ta không nghi. Ta chắc.” Vương nói. “Nhưng ta không có bằng chứng, thế nên năm năm trước ta ngậm miệng. Nay hai người muốn ta dâng biểu, thì hai người đi tìm cho ta bằng chứng cũ.”
Chàng chống tay lên bàn. Ánh mắt bén hơn.
“Đại nhân biết Trương giết vợ vì sao?”
“Vì tối trước hôm nàng chết, nàng có đến gặp ta.” Vương thở ra một hơi rất chậm. “Ta không thân với nàng. Nàng đến bất thình lình, xin ngồi một khắc. Nói: ‘Đại nhân, xin đại nhân giữ giùm phong thư này. Nếu ba ngày sau ta không đến lấy, đại nhân mở ra.’ Ta không nhận. Ta là ngự sử, không giữ thư kín cho phu nhân người khác. Nàng cúi đầu, đi. Ta tiễn nàng đến cửa. Đó là lần cuối ta thấy nàng còn thở.”
Vương ngừng. Ta không dám phá cái ngừng đó.
“Ba ngày sau nàng chết. Ta hối. Ta hối suốt năm năm. Nhưng lúc đó ta chỉ có một giác quan. Không có một mảnh giấy. Ngự sử không dâng biểu bằng giác quan.”
Ta nắm chặt tay áo dưới bàn.
“Hạ quan hiểu.”
“Ngươi biết ngươi đang xin gì không?” Vương quay sang ta. “Xin đào mộ phu nhân triều đình. Đại tội. Nếu ta ủng hộ mà không có kết quả, ta cũng chém đầu. Nếu có kết quả, ba người chúng ta cùng thắng, hoặc cùng chết. Ngươi tính được không?”
Ta nhìn vào chén rượu trong tay mình. Chén còn nửa. Ta không uống ngụm nào từ đầu buổi.
“Bẩm đại nhân. Hạ quan làm nghề khám xác từ nhỏ. Xác dưới đất năm năm, xương còn, mô còn phần nào tuỳ đất khô hay ẩm. Nếu đất khô, quan tài kín, xương và tóc còn nguyên, dấu vết cổ bị bóp còn thấy được ở đốt sống thứ nhất và thứ hai. Nếu bị đầu độc, tóc còn giữ độc. Thạch tín ở tóc năm năm vẫn ra. Hạ quan xin nhận.”
Vương nhìn ta lâu.
Rồi ông cười. Cười lần đầu tiên từ khi vào quán. Cười khẽ, mép miệng chỉ nhếch một góc, nhưng ta thấy được vì ánh đèn dầu vàng chảy lên mặt ông.
“Vô Ngạn. Ngươi kiếm được thư đồng khá.”
Chàng không đáp. Chỉ liếc ta một cái, ánh mắt nhanh như dao lướt qua da. Ta cúi mặt xuống bàn để giấu tai nóng.
Vương đứng dậy. Cầm áo choàng, khoác lên vai.
“Ba ngày. Nếu ba ngày sau các ngươi tìm được cách đào mộ mà không kinh động triều, ta chờ tin. Nếu quá bảy ngày không có tin, coi như hôm nay ta chưa gặp ai. Được không?”
“Được.” Chàng gật.
“Đi cẩn thận. Trương phủ đang cho người theo ngươi. Ta biết vì hai tên trong đám ấy là cựu thư đồng của ta.”
Vương gật ta một cái, gật chàng một cái, rồi bước ra. Cửa quán rung khẽ. Sương ngoài kia dày hơn khi ông đến. Bóng ông tan vào ngõ trong ba bước.
Ta thở ra. Chỉ tới lúc đó ta mới thấy áo trong đã ướt mồ hôi ở lưng.
Chàng đẩy chén rượu về phía ta.
“Uống đi. Đã qua.”
Ta cầm chén, uống một ngụm. Rượu Bạc Nguyệt cay, xóc lên tận sống mũi. Ta chớp mắt hai cái để lệ do rượu không rớt.
“Đại nhân.”
“Ừ.”
“Đào mộ Trương phu nhân. Ta làm được. Nhưng ta cần một cái quan tài khô. Nếu đất phường nào ẩm, xác đã rữa, ta không đọc được xương cổ.”
“Mộ Trương phu nhân chôn ở nghĩa trang họ Trương phường Tây, đất cao, quan tài gỗ sam kín. Ta đã cho người dò từ hồi năm ngoái. Đất khô. Xương còn.”
Ta nhìn chàng.
“Đại nhân đã tính đến vụ này từ trước?”
“Ta đã tính đến mọi vụ liên quan Trương từ ba năm trước.” Chàng đáp, không quay đầu. “Chỉ chưa có ngươi để khám.”
Ta không đáp. Đặt chén xuống. Trong lòng có gì đó rung nhẹ như dây vải giấu ngực khi ta thở sâu.
Ra khỏi quán, mưa lất phất. Không đủ ướt áo, chỉ đủ đọng thành hạt trên vành mũ nan ta đội. Chàng đi bên phải ta, phía đường phố. Ta đi bên trái, phía tường. Ba năm trước, mẹ nuôi dặn: đi với người tôn kính, luôn để họ đi phía đường, vì đường là phía có ngựa, có xe, có gạch rơi. Ta đã quen đi bên trái từ đó. Nhưng đêm nay là lần đầu ta đi bên trái Lục Vô Ngạn mà không cảm thấy mình đang hầu.
Chàng đi chậm hơn ngày thường. Ta cũng chậm theo.
“Vương Chí Kính nói ba ngày.” Chàng nói. “Ngày thứ nhất ta lo giấy phép. Đề Hình Ti có mật lệnh cho đào mộ vì án điều tra, ta ký được nếu vụ án được liệt hạng ba trở lên. Ngày thứ hai ngươi chuẩn bị dụng cụ. Ngày thứ ba đêm ta và ngươi đi cùng thị vệ tin cậy.”
“Vâng.”
“Ngươi có sợ không?”
Ta liếc chàng. Chàng vẫn nhìn thẳng phía trước, không quay sang ta.
“Đại nhân hỏi hạ quan sợ đào mộ, hay sợ khám xác năm năm?”
“Đều không phải.” Chàng đáp. “Sợ bị bắt.”
Ta im. Đúng là câu hỏi khó. Nếu bị bắt trong lúc đào mộ phu nhân triều đình, cả ba đều chém. Ta chém, chàng chém, Vương chém. Mẹ nuôi ở nhà mất chỗ dựa. Bích Đào và Diệp tỷ mất chỗ về.
“Sợ.”
Ta đáp thẳng.
“Ta cũng sợ.” Chàng nói. “Nhưng ta sợ ít hơn ngươi. Vì nếu bắt, ta được chém trước ngươi.”
Ta dừng bước.
Chàng cũng dừng.
Mưa vẫn lất phất. Đèn dầu ngõ phường Nam hắt bóng hai người xuống mặt đường ướt. Bóng ta ngắn hơn bóng chàng nửa cái đầu. Bóng chàng nghiêng nghiêng như một tấm bia lệch.
“Đại nhân đừng nói vậy.” Ta khẽ.
“Vậy nên nói vậy nào?”
Ta không đáp. Bên trong ngực có tiếng đập của mình, nghe rất rõ. Ta thở ra một hơi, chạm nhẹ tay áo chàng bằng đầu ngón tay. Chạm rồi rút về. Chàng không quay đầu, không giữ, không hỏi. Chỉ đi tiếp.
Nhưng ta biết chàng đã cảm được.
Đi được mươi bước, chàng nói khẽ, giọng đều như đọc án.
“Yên.”
“Vâng.”
“Về sau ngươi và ta cùng đi mộ. Cùng đi thẩm vấn. Cùng đi bẫy. Nếu có chuyện xảy ra, ta chết trước. Không phải vì ta là đại nhân của ngươi. Vì ta là kẻ đã kéo ngươi vào chuyện này.”
“Đại nhân không kéo hạ quan. Hạ quan tự vào.”
“Ngươi vào vì cha ngươi. Ta biết. Nhưng nếu không có ta ở Đại lý tự, ngươi đã không vào được.” Chàng đáp. “Nên ta chịu trước.”
Ta cắn môi dưới. Vết sẹo giả trên môi trên nhức nhẹ khi ta cắn. Ta không đáp. Không đáp không phải vì không có lời. Vì có lời mà chưa dám để lời ra.
Kiếp trước ta bị đâm sau lưng trong phòng giải phẫu. Người đâm ta là thân nhân của một nạn nhân, hắn nghĩ ta không nói thật về cái chết của con hắn. Ta chết mà không kịp trả lời. Không ai đứng chắn sau lưng ta. Không ai nhận chém trước ta.
Kiếp này có một người đứng phía đường, để ta đi phía tường. Có một người nói sẽ chịu chém trước ta. Có một người viết tên ta không đèo chức, chỉ một chữ, nghe như dao rơi trên đá lạnh.
Gieo gió gặt bão. Kẻ giết cha ta năm năm trước đã gieo. Nay bão đến, có ta, có chàng, có Vương Băng Diện. Trương Nguyên Chương ngồi trong phủ đêm nay, hắn không biết mộ vợ hắn sắp bị mở.
Ta ngẩng lên. Mưa đọng trên vành mũ nan ta đội chảy xuống một hạt, rơi vào cổ, lạnh cứng.
“Đại nhân.”
“Ừ.”
“Ba ngày sau, đêm đó ta phải khám ngoài trời. Nghĩa trang gió mạnh, đèn dầu tắt. Hạ quan xin đại nhân chuẩn bị hai giá đèn có kính chắn, và một tấm vải trắng lớn để che gió mưa.”
Chàng cười khẽ. Ta không nhìn chàng, nhưng nghe được từ trong hơi thở chàng.
“Ta chuẩn bị. Còn gì?”
“Một ấm nước sôi. Rửa xương.” Ta ngừng. “Và một bát cháo nóng. Cho hạ quan uống trước khi mở nắp quan tài.”
“Vì sao cháo?”
“Vì hạ quan sẽ ngồi cạnh xác Trương phu nhân hai canh giờ. Không có cháo, tay hạ quan run vì lạnh, không giữ được dao mổ. Không giữ được dao mổ, hạ quan bỏ sót vết ở đốt sống. Bỏ sót vết ở đốt sống, cả ba người chúng ta chém uổng.”
Chàng dừng bước lần thứ hai trong đêm.
Ta cũng dừng.
Chàng quay sang, lần đầu nhìn ta suốt buổi từ khi ra khỏi tửu quán. Ánh mắt như dao, nhưng lần này dao khắc trên mặt gỗ đã cũ, không còn lưỡi bén.
“Có cháo.” Chàng nói. “Và có ta ngồi cạnh ngươi cả hai canh giờ.”
Ta gật.
“Đủ rồi.”
Ta bước tiếp. Chàng bước theo. Đèn ngõ phường Nam hắt bóng hai người xuống mặt đường ướt, sát nhau hơn một tấc so với khi vừa ra khỏi quán.
Ba ngày. Một tấm bằng chứng. Một cỗ quan tài kín năm năm. Một cửa Tây thành, một Vương Băng Diện đứng chờ, một Trương Nguyên Chương chưa biết mình đã bị chỉ mặt.
Ta không dám cho phép mình vui. Nhưng ta cho phép mình tin.
Kiếp này, ta không đi một mình.