Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 20: Trương Phu Nhân Chết Bí Ẩn

Sáng sớm.

Sương chưa tan trên mái ngói Đại lý tự. Trên sân đá bằng, hai con quạ đứng cạnh vòi nước, nghiêng đầu nhìn nhau như đang bàn việc.

Ta bước qua hành lang gỗ, hai tay giấu trong tay áo, đi thẳng đến phòng làm việc của Lục Vô Ngạn.

Cửa phòng khép hờ. Bên trong có mùi trầm hương đã cháy hết từ đêm qua, và mùi giấy dó ẩm. Ta gõ nhẹ.

“Hạ quan Thẩm Yên xin vào.”

“Vào.”

Ta đẩy cửa. Trên bàn dài không còn báo cáo vụ Vương Kiêu. Thay vào đó là một tập hồ sơ giấy dó ố vàng, buộc bằng dây gai, dán tem đỏ đã bạc.

Chàng ngồi sau bàn, áo đen, tay trái vẫn đeo hộ oản gỗ. Nến sáp trắng đêm qua chảy thành một vũng nhỏ trên đế đồng. Chàng chỉ ghế đối diện.

“Ngồi. Đóng cửa.”

Ta khép cửa, ngồi xuống.

Chàng đẩy tập hồ sơ qua bàn. Ba chữ đen viết trên bìa: “Trương Bảo Nhi”. Bên dưới là con dấu ngỗ tác Đại lý tự năm niên hiệu thứ mười một, cách hôm nay đúng năm năm.

“Trương phu nhân.” Chàng nói. “Vợ Trương Nguyên Chương. Chết cách đây năm năm. Vương Ngự sử đêm qua giao ta điều tra lại. Vụ này ngươi đọc trước.”

Ta cầm hồ sơ, mở dây gai. Bên trong có ba tờ giấy dó. Chỉ ba tờ.

Ta ngẩng đầu nhìn chàng. “Ba tờ?”

“Ba tờ.” Chàng gật. “Hồ sơ ngỗ tác cổ, một vụ đại phu nhân của Lễ bộ thượng thư, chỉ có ba tờ.”

Ta cụp mắt xuống, bắt đầu đọc.

Tờ thứ nhất: cáo tri. Ghi bằng lối chữ hành thảo cẩu thả. “Niên hiệu thập nhất, tháng ba, ngày mười hai, giờ Mùi, Trương phu nhân Bảo Nhi, tứ thập tứ tuế, trúng gió trong lúc dạo vườn hoa hậu phủ Trương gia. Ngã, không dậy lại. Gia đinh vực dậy, thầy lang khám, không cứu được.”

Tờ thứ hai: giám định ngỗ tác. Chỉ có sáu dòng. “Bên ngoài xác không thấy vết thương. Da mặt xanh xám. Môi tím. Cổ họng chưa xem xét. Móng tay dài không rõ nguyên do. Bụng không có dấu thương. Kết luận: trúng phong hàn kịch phát.”

Tờ thứ ba: giấy đóng vụ. Bút phê của Đại lý tự khoá trước, đóng dấu ba ngày sau khi chết. Không đề nghị mở khám thêm.

Ta đọc lại tờ thứ hai lần thứ hai.

Đọc lần thứ ba.

“Cổ họng chưa xem xét.”

Ta gõ nhẹ ngón tay lên bốn chữ ấy. Ba lần.

Lục Vô Ngạn nhìn ta. “Ngươi thấy?”

“Thấy.” Ta ngẩng đầu. “Ngỗ tác không xem cổ họng của một người khai là trúng gió. Chỉ có một lý do.”

“Lý do gì?”

“Có ai đó bảo hắn đừng xem. Hoặc hắn tự biết không nên xem.”

Chàng gật nhẹ. Không ngạc nhiên.

“Còn gì nữa?” Chàng hỏi.

Ta chỉ vào dòng bốn của tờ thứ hai. “Móng tay dài không rõ nguyên do.”

“Đại nhân.” Ta nói chậm. “Trương phu nhân là chính thất của Lễ bộ thượng thư. Trong phủ có đến hai chục hầu nữ. Không có phu nhân nhà nào để móng tay dài không rõ nguyên do. Nếu bà ấy để móng dài để trang điểm, ngỗ tác sẽ ghi bôi phấn đỏ, ghi dài quá một tấc, ghi có vẽ hoa. Không ai ghi không rõ nguyên do.”

Chàng chống cằm. “Ý ngươi?”

“Móng tay dài không rõ nguyên do có hai khả năng. Một, bà ấy bị bệnh nằm liệt lâu, hầu nữ không dám cắt móng. Hai, bà ấy bị nhốt ở đâu đó không có kéo, không có kẻ hầu, không được cắt móng trong nhiều ngày.”

Ta dừng.

“Với thân phận đại phu nhân, khả năng một chỉ xảy ra khi cả phủ đều biết bà nằm liệt. Nếu vậy cáo tri đầu tờ không ghi đang dạo vườn mà phải ghi nằm giường lâu ngày. Cáo tri không ghi vậy.”

Chàng “ừ” một tiếng.

“Còn khả năng hai.”

“Khả năng hai.” Ta nói. “Bà ấy bị nhốt.”

Ta đặt hồ sơ xuống bàn. Ngón tay ta lạnh hơn ta tưởng.

“Cha ta có dạy một câu.” Ta nói. “Nếu xác chết chỉ có ba tờ giấy, tám phần mười lần là ba tờ giấy ấy đang giấu ba mươi tờ giấy khác. Ba tờ giấy này giấu điều gì thì hạ quan không biết. Nhưng hạ quan biết ba tờ giấy này không đủ đóng một vụ nghi.”

Lục Vô Ngạn im mấy giây.

Rồi chàng nói.

“Vậy ngươi đề nghị?”

Ta biết chàng đã đoán được câu ta sắp nói. Chàng đợi ta tự nói, không muốn ép.

Ta ngẩng đầu. Giữ giọng bằng phẳng.

“Đào mộ. Khám lại.”

Bốn chữ ấy rơi xuống bàn như bốn viên đá.


Đào mộ đại phu nhân của Lễ bộ thượng thư là chuyện chưa từng có tiền lệ trong ba mươi năm nay của Biện Kinh.

Luật Đại Tống ghi rõ: động mộ nhà quan phẩm cấp Tam trở lên, phải có chiếu chỉ của vua. Không có chiếu, ngỗ tác động cuốc, xử trảm. Đại lý tự thiếu khanh động cuốc, xoá quan tịch, đày biên viễn.

Nhưng cũng có một khoản khác: động mộ bí mật, không có bảng cáo thị, không lập biên bản triều, chỉ để lấy chứng, nếu được Ngự sử đài duyệt, có thể miễn tội nếu chứng được điều tra sự thật. Khoản này ba mươi năm không ai dùng. Vì chưa ai dám dùng.

Đêm ấy, Lục Vô Ngạn và ta đến phủ Vương Ngự sử.

Chàng đi trước, ta theo sau như một thư đồng. Cổng phụ nhà Vương mở hé. Người đón là một lão bộc tóc bạc, đi khập khiễng. Lão dẫn hai người qua ba lớp cửa, đến một phòng nhỏ ở hậu viện, không thắp đuốc, chỉ một cây đèn dầu vàng.

Vương Chí Kính ngồi trước bàn thấp. Tuổi ngoài sáu mươi, mắt đục nhưng rất tĩnh. Không có nến sáp. Không có trà. Chỉ có một chén nước lạnh và một bản đồ nghĩa trang Tây Bắc trải trên bàn.

Lục cúi mình. “Vương đại nhân.”

“Ngồi.” Vương chỉ hai chiếc chiếu tre.

Cả hai ngồi.

Vương không vòng vo. “Đêm nào?”

“Đêm mai.” Lục nói. “Trăng cuối tháng, mờ. Sương lớn. Người đi lễ cửa Tây không có. Cửa sau nghĩa trang có một lối vào cỏ mọc kín, bọn ta đã đo. Thị vệ ba người. Ngỗ tác một người.” Chàng nghiêng đầu về phía ta. Ta cúi mình.

Vương liếc ta. “Ngươi là Thẩm Yên, con Thẩm Cát?”

“Hạ quan.”

“Cha ngươi hai năm trước ta biết. Người trầm, không nói ra, làm ra.” Vương im một lát. “Ngươi cũng giống cha. Ta xem giấy vụ Vương Kiêu.”

Ta cúi thấp hơn. “Hạ quan chỉ làm phận sự.”

Vương “hừ” một tiếng khẽ. Rồi quay sang Lục.

“Ta không cho phép bằng miệng.” Vương chỉ ngón tay lên bản đồ. “Ta cho phép bằng cách này. Nếu đêm mai bị bắt gặp, ngươi khai là điều tra vụ trộm mộ nghi vấn ở khu Tây Bắc, thu thập bằng chứng. Ta ký cấp phép trước. Giấy phép ta viết đêm nay, đề ngày hôm qua, ngày mai đưa cho Đại lý tự.”

Lục cúi. “Đội ơn Vương đại nhân.”

“Không phải ơn.” Vương lắc đầu. “Ta cần ngươi tìm ra sự thật. Nếu Trương Nguyên Chương giết vợ, ta cần chứng. Không có chứng, ta không dâng vua được. Vua vẫn tin Trương. Trương lâu năm trong triều, dạ tối, mưu sâu. Muốn hạ hắn không phải một đêm.”

Chàng gật.

Vương quay sang ta. “Thẩm Yên.”

“Có.”

“Ngươi khám xong, viết báo cáo cho ta. Không phải Đại lý tự. Ta là người giao ngươi vụ này. Ngươi hiểu?”

“Hạ quan hiểu.”

Vương nhấc chén nước lạnh, hớp một ngụm. “Đi được rồi. Đêm nay nghỉ. Đêm mai làm việc. Xong việc, sáng ngày kia đến đây, không mang theo ai.”

Lục và ta cúi mình lui ra.

Ra khỏi cổng phụ nhà Vương, ta hít một hơi dài. Không khí buổi đêm phường Đông nhẹ hơn phường Nam. Có mùi hoa quế cuối mùa. Xa xa có tiếng chó sủa, rồi tắt.

Lục đi cạnh ta, chậm hơn thường. Chàng không nói. Ta cũng không nói. Đi hết một ngõ dài mới đến chỗ ngựa buộc.

Trước khi lên ngựa, chàng dừng, quay lại nhìn ta.

“Thẩm Yên.”

“Có.”

“Ngươi biết đêm mai nếu hỏng, ba người bọn ta sẽ như thế nào.”

Ta biết. Ta biết rất rõ. Ta đã ngồi tính từ khi hồ sơ ba tờ giấy đặt trên bàn chàng sáng nay.

“Hạ quan biết.” Ta nói. “Ngỗ tác trảm. Thiếu khanh đày. Ngự sử đài mất một cột.”

Chàng nhìn ta lâu.

“Ngươi có sợ không?”

Câu ấy chàng hỏi rất khẽ. Không như một câu quan hỏi ngỗ tác. Như một câu người hỏi người.

Ta ngẩng đầu, nhìn chàng thẳng. Bóng đèn dầu treo trên cổng nhà bên chiếu ngang khuôn mặt chàng, làm gò má chàng gồ lên như một mảnh đá lạnh.

“Hạ quan sợ.” Ta nói. “Nhưng hạ quan còn sợ hơn nếu đêm mai không đi. Cha hạ quan hai năm trước chết bất minh, hồ sơ chỉ có bốn tờ. Nếu ta không tự tay đọc từng nét bút, cha ta cũng chỉ là bốn tờ giấy. Trương phu nhân năm năm trước cũng vậy. Ba tờ giấy. Không ai đọc lại. Nếu đêm mai không đi, năm sau, mười năm sau, sẽ có thêm bao nhiêu người chỉ còn ba tờ giấy.”

Ta dừng.

“Hạ quan không muốn thêm ba tờ giấy nữa.”

Chàng nhìn ta thêm một khắc, rồi gật.

Không nói gì thêm.

Chàng lên ngựa. Ta lên ngựa. Hai bóng ngựa đi ngược đường Đồng Bảo, vào sương phường Nam.


Ta không ngủ được đêm đó.

Về nhà, mẹ nuôi đã ngủ. Bích Đào cũng ngủ ở phòng ngoài. Ta ngồi trước bàn, mở sổ tay khâu chỉ đỏ, cầm bút, chấm mực. Nhưng ta không viết.

Trước mặt ta chỉ có một trang giấy dó trắng.

Trong đầu ta có hai hình ảnh xếp cạnh nhau như hai bức tranh trên tường.

Bức thứ nhất: mộ cha ta ở nghĩa trang cửa Nam. Bia đá xám. Trên bia có bốn chữ ta khắc năm ngoái, chưa mờ: “Thẩm Cát chi mộ.” Bia sau còn một hàng chữ mờ hơn: “Tận trung phá án, chết oan không rõ.”

Bức thứ hai: mộ Trương Bảo Nhi ở nghĩa trang Tây Bắc. Ta chưa thấy tận mắt, nhưng ta biết dáng nó. Bia đá ngọc trắng, chạm rồng phượng, có nhà bia đỉnh cong, có tường vây thấp. Một ngôi mộ đại phu nhân triều đình. Đêm mai ta sẽ đứng ở đó, đào lên, cầm dao mổ, khám lại xương cổ của một người phụ nữ đã nằm dưới đất năm năm.

Hai ngôi mộ ở hai đầu Biện Kinh. Một ngôi nghèo, một ngôi giàu. Một ngôi cha ta, một ngôi vợ kẻ giết cha ta.

Hai ngôi mộ này đêm mai sẽ nối vào nhau bằng một sợi dây rất mảnh: dây trong tay ta.

Ta phất quạt lụa gấp cha để lại. Mùi bụi cũ thoảng lên, có một chút gỗ đàn hương trong nếp gấp. Ta mở quạt, nhìn hai chữ mờ khắc trong lòng quạt: “chờ ta.”

Ta khép quạt.

“Cha, con hứa.” Ta nói khẽ với ngọn đèn dầu. “Đêm mai con đi khám cho một người phụ nữ khác. Không phải cho cha. Nhưng đây là bước đầu, con sẽ về đến chỗ cha.”

Đèn dầu không đáp. Sương phường Nam đang đọng trên khung cửa gỗ. Ngoài kia có tiếng chó sủa ba tiếng ngắn, rồi im.

Kiếp trước ta thức những đêm trực khuya bên xác chưa lạnh, nghe tiếng còi xe cứu thương xa xa. Kiếp này ta thức đêm bên đèn dầu, nghe tiếng chó sủa. Nghề nghiệp cùng một thứ. Chỉ tiếng nền đã đổi.

Ta thổi tắt đèn.

Nằm xuống, không ngủ. Đợi trời sáng.


Đêm hôm sau.

Trăng cuối tháng như một mảnh xương cong, mờ hơn ta tưởng. Sương xuống dày. Nghĩa trang Tây Bắc nằm ngoài thành, cách cửa Bắc ba dặm, dựa lưng vào một đồi thấp có cây bách già. Đường vào lát đá, hai bên là mộ quan hàng nhị hàng tam, bia trắng chen bia xám.

Bọn ta vào bằng lối cỏ sau đồi. Ba thị vệ đi trước, mặc áo đen, đèn dầu che bằng vỏ sừng trâu, ánh sáng chỉ đủ soi ba bước chân. Lục Vô Ngạn đi giữa, áo đen, tay trái vẫn đeo hộ oản gỗ, tay phải đặt trên chuôi kiếm. Ta đi cuối, mang một hộp gỗ dài đựng dụng cụ khám xác, một quạt lụa gấp, và một chiếc khăn lụa bịt mũi.

Mộ Trương Bảo Nhi ở khu chính giữa, đúng như ta hình dung. Bia đá ngọc trắng, chạm rồng cuộn ở bên trái, phượng bay ở bên phải. Nhà bia đỉnh cong, hai cột đá đen. Trước mộ có một bàn đá bằng phẳng, xưa dùng cúng, hôm nay dùng cho ta.

Thị vệ dựng đèn dầu ở bốn góc, che kín gió. Ánh sáng vàng đọng thành một vòng nhỏ trên bàn đá.

Ta đặt hộp gỗ xuống. Mở nắp. Bên trong: dao găm nhỏ ba loại, kẹp gắp bằng đồng, khăn lụa trắng, chén nước rượu trắng để rửa dao, thẻ tre để ghi. Ta lấy ra khăn lụa, buộc lên miệng và mũi. Trong tay áo còn giọt nước hoa trầm ta xức trước khi ra khỏi nhà.

Lục nhìn ta. “Bắt đầu?”

“Bắt đầu.”

Chàng khoát tay. Hai thị vệ cầm cuốc gỗ (không phải cuốc sắt, sợ tiếng động), bắt đầu đào lớp đất phía trước bia.

Đất khu này khô. Cỏ mảnh. Cuốc gỗ chạm đất phát ra tiếng nhẹ như gạo trong chum. Ta đứng bên bàn đá, quạt lụa gấp cầm nghiêng trong tay, hít nhẹ. Trong đầu ta không có sợ. Chỉ có ba chữ như thường lệ: xác nhận, nguyên nhân, cơ chế.

Ba chữ ấy kiếp trước là bùa hộ mệnh. Kiếp này vẫn là.

Nửa canh giờ.

Cuốc chạm ván gỗ. Tiếng “cạch” nhỏ. Thị vệ dừng.

“Đại nhân.”

Lục cúi xuống nhìn. “Mở.”

Thị vệ dùng đòn nhỏ nạy nắp quan tài. Nắp gỗ trắc dày, đóng bằng đinh đồng, đã ngậm đất nhưng chưa mục. Nắp bật lên. Có tiếng “phụt” khẽ như hơi thở của một người vừa thức.

Ta lùi nửa bước, quạt lụa phất ngang trước mặt. Không khí trong quan tài đen kín năm năm bốc lên, không phải mùi thối, mà là mùi đất khô ngâm gỗ đàn hương và một chút mùi thịt bảo quản bằng chu sa.

Ta quen mùi này. Kiếp trước ta khám không dưới hai chục xác ướp cổ. Mùi này là dấu hiệu quan tài kín, đất khô, thổ nhưỡng ổn, xác bảo quản khá.

Ta đưa đèn dầu vào gần. Ánh vàng đọng xuống trong.

Trương Bảo Nhi nằm ngửa, mặc áo lụa hồng nhạt, hai tay buông xuôi hai bên. Da mặt không thối, chỉ khô lại như da giấy dó. Hai gò má lõm, môi khép, mắt nhắm. Bên cạnh xác có một hộp gỗ nhỏ đựng đồ tuỳ táng: một chiếc lược ngọc, một chén ngọc trắng, một cuốn kinh Phật.

Ta nhìn hai bàn tay bà trước.

Bàn tay khô nhưng vẫn giữ hình. Ta cầm đèn soi xuống móng.

Ta hít vào.

Móng tay bà dài. Rất dài. Không phải dài “một tấc” như ngỗ tác cũ ghi, mà dài gần một tấc rưỡi ở ngón cái, hơn tấc ở các ngón khác. Móng cong xuống, đầu móng vàng ố như sáp cũ. Có ngón bị gẫy ngang, có ngón còn nguyên. Trên bề mặt móng không có phấn, không có vẽ hoa.

Đây không phải móng của một phu nhân trang điểm.

Đây là móng của một người không được cắt trong ít nhất hai tháng. Có thể ba.

Ta lấy kẹp gắp đồng, nhẹ nhàng gạt tay áo lụa bà lên. Xem cổ tay.

Trên cổ tay có vết hằn mờ. Hằn ngang, đối xứng hai bên. Vết hằn đã lâu, chỉ còn dấu chìm dưới lớp da khô, nhưng đủ để ta đọc.

Vết hằn dây trói.

Ta ngẩng lên nhìn Lục. Chàng đứng đối diện, tay đặt trên bàn đá, mắt nhìn ta. Ta khẽ gật.

“Cổ tay có vết trói cũ.” Ta nói khẽ. “Ít nhất một tháng trước khi chết.”

Chàng “ừ” một tiếng. Không nói.

Ta bỏ tay áo xuống, chuyển sang cổ.

Đây là phần ngỗ tác cũ ghi “chưa xem xét”.

Ta rút một dao găm nhỏ, không dùng để mổ, chỉ để gạt cổ áo. Cổ áo lụa hồng nhạt được xẻ đôi cẩn thận, tránh làm hỏng phần vải quanh cổ. Ta đưa đèn xuống, quạt lụa gấp che gió.

Trên cổ Trương Bảo Nhi.

Không có bốn dấu ngón tay như xác Uyển Cầm.

Nhưng có một vệt hằn ngang, mảnh, chạy vòng quanh phần trước cổ và mất hút vào phía sau gáy. Vệt hằn sâu, hằn xuống da khô còn thấy rõ đường viền.

Vệt hằn dây thừng.

Ta đưa hai ngón tay lần theo. Vệt hằn không thẳng mà lệch nhẹ về góc phải phía sau, đúng như cách người ta hay thắt khi đứng phía sau nạn nhân, kéo về bên phải.

Nhưng chưa phải quan trọng nhất.

Ta nhẹ nhàng đưa dao lách bên dưới cằm bà, lấy ngón cái ấn thăm dò xương sụn cổ. Ta nghe.

Ta bấm.

Ta lại nghe.

Ngón tay ta chạm một thứ không nên chạm ở một người chết vì trúng gió.

Xương móng.

Xương móng dưới hàm, một khối nhỏ hình móng ngựa. Ở người sống khoẻ mạnh, xương này liền, không nứt. Ở người chết vì trúng gió, xương này liền, không nứt. Ở người bị bóp cổ mạnh, xương này nứt.

Ngón tay ta cảm nhận rõ. Xương móng của Trương Bảo Nhi nứt ngang, đầu nứt còn có một góc lệch. Đây không phải vết gẫy tự nhiên do lún đất năm năm. Đây là vết gẫy do một lực bóp trực tiếp từ trước ra sau, khi bà còn sống.

Ta thu ngón tay lại. Đứng thẳng dậy.

Không khí đêm nghĩa trang Tây Bắc lạnh. Sương đã xuống ngang ngực. Đèn dầu bốn góc bàn đá vẫn cháy đều. Ba thị vệ đứng im. Lục Vô Ngạn nhìn ta, chưa hỏi.

Ta hạ khăn lụa che mũi xuống. Không cần nữa.

Ta nói bằng giọng bằng phẳng, kiểu công thức, ba chữ đi trước, tình cảm đi sau.

“Xác nhận: cổ có vết hằn dây thừng, xương móng nứt do bóp. Cổ tay có vết trói cũ, ít nhất một tháng. Móng tay không cắt, ít nhất hai tháng.”

Ta dừng một khắc.

“Nguyên nhân chết: không phải trúng gió. Là bóp cổ.”

“Cơ chế: trước khi chết, bà bị nhốt và trói ít nhất hai tháng. Không được cắt móng, không được thay áo (áo lụa hồng nhạt trong quan tài không phải áo bà mặc lúc bị nhốt, có kẻ thay sau khi giết). Sau đó bị bóp cổ, có thể bằng dây thừng nhỏ, đứng phía sau, kéo về bên phải.”

Ta dừng lần nữa.

“Kẻ giết có sức. Kẻ giết quen tay. Kẻ giết biết trước khi bóp cổ phải làm gì để bà không kịp kêu.”

Lục Vô Ngạn đứng lặng.

Ta ngẩng đầu nhìn chàng. Trong ánh đèn dầu, gò má chàng cứng lại thành một đường lạnh. Tay trái chàng nắm hộ oản gỗ đen chặt hơn thường lệ.

“Đại nhân.” Ta nói khẽ. “Trương Nguyên Chương không phải chỉ giết cha ngài và cha ta. Hắn giết cả vợ hắn. Ba mạng trong bảy năm. Có thể còn nhiều hơn ta chưa đọc được.”

Chàng gật đầu một cái rất nhẹ. Không nói.

Ta cúi xuống, bắt đầu xếp lại tay áo bà, khép cổ áo, đặt lại kinh Phật vào lòng bà như cũ. Ta rút trong ngực một mảnh giấy dó nhỏ, viết mấy chữ bằng bút chì than: “Thẩm Yên khám lại, niên hiệu thập lục, tháng hai, đêm mười một. Nguyên nhân: bóp cổ. Xin phu nhân yên nghỉ, oan sẽ được rửa.” Ta gấp mảnh giấy nhỏ, nhét vào tay áo bà.

Không phải nghi lễ Đại Tống. Là nghi lễ của một pháp y.

Ta lùi ra. Thị vệ đóng lại nắp quan tài, phủ đất, dựng lại bia. Đến sáng, không ai biết mộ đã bị mở.

Ta cầm hộp gỗ dụng cụ đi ra. Quạt lụa gấp phất một cái nhẹ, hất đi mùi đất và mùi chu sa còn bám trên tay áo.

Trước khi rời khỏi vòng đèn dầu, ta ngẩng đầu nhìn qua vòng mộ đối diện, phía sau bàn đá, cách chỗ bọn ta đứng chừng ba mươi bước.

Ta khựng lại.

Trên bia đá xám của một ngôi mộ nhỏ, có một cái bóng.

Chỉ một cái bóng.

Bóng người, cao vừa phải, đứng nghiêng, khép áo đen sát người, đầu cúi thấp như đang lễ mộ. Nhưng bóng không di chuyển, không quỳ, không thắp hương. Chỉ đứng.

Ta nheo mắt. Không phải thị vệ của bọn ta. Ba thị vệ đang đứng ở bốn góc bàn đá, ta đếm đủ.

Là kẻ khác.

Ta đưa tay chạm vào vai Lục Vô Ngạn, khẽ nhất có thể. Chàng dừng bước, không quay đầu vội, chỉ liếc nhẹ mắt về phía ta.

Ta nói bằng miệng nhép không có tiếng.

“Sau bia đá xám. Ba mươi bước. Có người.”

Chàng đọc được miệng ta. Ánh mắt chàng không thay đổi, nhưng tay phải chàng đã trượt xuống chuôi kiếm.

Chàng khẽ khoát tay ra hiệu cho một thị vệ. Thị vệ hiểu, chậm rãi đi vòng ra sau, không phát ra tiếng động.

Ta và Lục vẫn đi thẳng, giả như không thấy. Chàng vẫn cầm đèn dầu che vỏ sừng trâu. Ta vẫn cầm hộp gỗ dụng cụ.

Sau lưng bọn ta, ở khoảng cách ba mươi bước, cái bóng đứng bất động thêm ba nhịp thở.

Rồi bóng động.

Bóng quay lưng, không chạy, chỉ bước rất nhẹ, biến vào đám cây bách sau đồi.

Thị vệ đuổi theo. Nhưng đêm sương dày, cây bách rậm, đường đất chằng chịt. Chỉ một khắc sau, thị vệ trở về, lắc đầu.

“Đại nhân. Mất dấu.”

Ta và Lục nhìn nhau.

Trong ánh đèn dầu vàng đọng cuối cùng trên bàn đá mộ Trương Bảo Nhi, không ai nói. Nhưng cả hai bọn ta hiểu.

Đêm nay đào mộ bí mật.

Không bí mật nữa.

Có kẻ đã biết, có kẻ đã nhìn, có kẻ đã đứng đủ lâu để đọc được ba chữ ta vừa nói: cổ có vết hằn dây thừng.

Ta khép hộp gỗ dụng cụ. Quạt lụa gấp cha để lại nắm chặt trong tay.

Sương xuống ướt cả vai áo.

Trong lòng ta có một tiếng chuông vang lên lần thứ ba, kể từ đêm ta viết ba chữ “mắt xích một” vào sổ giấy dó. Chuông này không báo giấu. Chuông này báo: cuộc điều tra vừa lộ. Từ đêm nay, kẻ giấu sẽ đến tìm ta trước khi ta đến tìm hắn. Trắng đen phải rõ, nhưng đường về trắng đen còn dài, và đêm nay có kẻ đã chặn trước một ngả.

Ta ngẩng đầu nhìn Lục Vô Ngạn. Chàng cũng đang nhìn ta.

Ánh mắt chàng như dao khắc, nhưng đêm nay có thêm một thứ ta chưa thấy trước: thứ giống lo.

Chàng khẽ nói, giọng nhỏ đến mức chỉ ta nghe được.

“Về tương phủ. Không về phường Nam đêm nay.”

Ta gật.

Ba thị vệ đi trước, mở đường xuống đồi. Ta và chàng đi giữa. Đèn dầu vàng lắc lư theo bước chân, hắt bóng hai người dài xuống lối cỏ ướt sương.

Sau lưng ba mươi bước, bia đá xám vẫn đứng đó, im.

Nhưng ta biết. Kẻ vừa nãy đã đi. Kẻ ấy đang trên đường về báo cho một người khác, ở phủ Trương gia bên kia thành. Và sáng mai, khi trống Đại lý tự điểm ba hồi, Trương Nguyên Chương sẽ biết vợ hắn năm năm qua đã bị đọc.

Gieo gió gặt bão. Câu mẹ nuôi hay nói ấy đêm nay lần đầu ta thấy quay đầu vào mặt kẻ giết cha ta. Bão đã bắt đầu thổi. Chỉ chưa biết ai bị cuốn trước.

Ta bước theo Lục xuống đồi, hộp gỗ dụng cụ nặng trên tay, quạt lụa gấp giấu trong tay áo. Ngoài trời sương phủ trắng, trong đầu ta ba chữ vẫn giữ nhịp: xác nhận, nguyên nhân, cơ chế.

Ba chữ ấy đêm nay đã chép xong một dòng.

Dòng thứ hai còn đang chờ.