Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 23: Yên Vào Ở Tương Phủ
Sáng canh năm, sương xuống mái tương phủ nhỏ như một lớp tro trắng chưa tan.
Ta đứng ở hành lang, tay áo còn dính máu khô của một thích khách. Máu không phải của ta. Máu của tên đã bị ta đâm trúng cổ đêm qua. Vết máu nhỏ, bằng hai đốt ngón tay, đọng trên viền cổ tay áo. Ta lau ba lần với nước lạnh, chỉ mờ đi. Máu người ta biết rồi: máu nào lâu cũng bám. Đại lý tự dạy ta thế. Kiếp trước bệnh viện dạy ta thế.
Ba xác thích khách nằm trong sân sau. Đầu quấn vải bố. Chờ Đề Hình Ti tới nhận. Bích Đào đã lau tay xong, ngồi bên bậc cửa uống một bát nước gừng nóng. Con bé không run. Nhưng ta biết tay ai giết người lần đầu, ba ngày sau vẫn còn dư chấn trong giấc ngủ.
Ta không dặn con bé. Ta chỉ đặt bát nước gừng thứ hai vào tay nó.
Lục Vô Ngạn ngồi trong thư phòng. Vai trái quấn băng, máu thấm qua một lớp trắng đục. Ta đã băng cho hắn lần nữa lúc canh tư. Vết đâm sâu hai phân, chưa chạm phế. Đàn ông cứng như hắn không cần thuốc mê, chỉ hớp một ngụm rượu trắng rồi để ta khâu. Chỉ khâu xong, ta đặt kim xuống, hắn mới thở ra một hơi dài.
Bây giờ hắn ngồi. Tay phải đặt trên án. Tay trái buông. Hộ oản gỗ đen vẫn ở cổ tay hắn, xoay chậm nửa vòng.
Ta bước vào, đóng cửa.
“Đại nhân.”
“Ngồi đi.”
Ta ngồi đối diện hắn, không đưa tay lên án. Ta không muốn hắn thấy vết máu trên tay áo ta. Không phải xấu hổ. Chỉ là ta biết: cái gì có thể tránh cho hắn nghĩ, ta tránh.
Bên ngoài, thị vệ đi tuần. Bước chân đều. Đêm qua có ba thích khách vào được tương phủ nhỏ này. Nghĩa là hàng rào canh có lỗ. Nghĩa là kẻ đứng sau biết chỗ hắn ở, biết cả giờ hắn ngủ.
Ta biết hắn sẽ nói gì trước khi hắn mở miệng.
“Ta không ở đây được nữa,” hắn nói. Giọng thấp. “Ngươi cũng không.”
Ta gật. Không tranh cãi. Trong nghề pháp y ta học: một khi bằng chứng đã rõ, đừng cố cãi cái không cãi được.
“Tương phủ chính.”
Ta khẽ ngước.
“Tương phủ chính của phụ thân ta để lại,” hắn nói. “Ba lớp tường. Mười hai thị vệ đêm, sáu ngày. Có một mật đạo từ hậu viện thông ra ngõ Đông. Không ai biết ngoài ta và quản gia già. Từ tối nay ngươi ở đấy.”
Ta nghĩ đến mẹ nuôi.
Không nói ra, hắn đã đọc được. Hắn nói tiếp trước ta.
“Thẩm bà cũng chuyển. Bích Đào cũng chuyển. Ta cho hai xe ngựa. Ta cho một phòng khô ráo phía Tây cho Thẩm bà, gần bếp, gần vườn thuốc. Bích Đào ở phòng cạnh Thẩm bà. Ngươi ở thư phòng phía Đông, có khoá chốt trong.”
Ta im.
“Ngày. Danh nghĩa vẫn là ngỗ tác nam. Ngươi ăn ở khu ngoại phủ. Không đi qua nội đường. Không tiếp hầu gái nữ. Ta cho một tiểu đồng gọi là Trần Bảy, mười ba tuổi, câm từ nhỏ. Không nghe được, không nói được, chỉ biết đọc chữ. Nó lau phòng cho ngươi, mang cơm cho ngươi.”
Ta gật.
Ta muốn hỏi một câu. Ta nuốt xuống. Ta hỏi câu khác trước.
“Còn hạ quan đi lại Đại lý tự?”
“Ngươi vẫn đi. Đi cùng xe ta. Ngày sáu canh, sáng đi, chiều về. Không ai thấy khác.”
“Còn… khi hạ quan không ở Đại lý tự?”
Hắn nhìn ta.
“Trong tương phủ ngươi không phải là ngỗ tác.”
Câu này ngắn. Nhưng ta nghe hắn nói được ba lớp.
Một: trong nội phủ ta không phải giả nam.
Hai: hắn cho ta khoảng đất riêng để cởi cái vỏ ra.
Ba: hắn không đợi ta nói. Hắn đã tính cho ta rồi.
Ta cúi đầu. Không nói cảm ơn. Trong nghề này, cảm ơn quá sớm là mất chỗ đứng.
“Hạ quan lãnh mệnh.”
Hắn nghiêng nửa mắt.
“Ngươi không cần xưng hạ quan trong phòng riêng.”
Ta không đáp.
Cái xưng hô này ta đã bó ba năm. Bó chặt như dây vải quanh ngực. Cởi ra không phải chuyện của một sáng.
Ta về nhà mẹ nuôi lúc canh sáu.
Mái nhà nhỏ, ngói cũ, sương xuống thấm vào một vệt xanh rêu ở gờ mái. Ta đứng ở ngõ một nhịp. Nhà này ta ở sáu năm. Nhà này Thẩm bà nuôi ta sáu năm. Nhà này cha ta để lại tiếng đêm còn nghe: tiếng bút mực gõ mặt gỗ, tiếng giấy sờn, tiếng dép cỏ lê trên nền đất.
Rời đi, cũng phải rời.
Ta đẩy cửa vào. Thẩm bà nằm giường, tay đang xâu chuỗi hạt gỗ khô. Bà xâu chậm. Tay run. Nhưng bà xâu đến ngày thứ ba mươi chín rồi không nghỉ.
“Yên tử.”
“Mẹ.”
Ta ngồi xuống mép giường bà. Không vòng vo. Ta chưa bao giờ vòng vo với Thẩm bà.
“Mẹ. Đêm qua tương phủ nhỏ của Lục đại nhân có kẻ đột nhập. Hạ quan ở đấy nên biết. Ba tên, đã bị bắt. Nhưng còn kẻ đứng sau. Lục đại nhân bảo hạ quan chuyển vào tương phủ chính, có ba lớp tường, có thị vệ. Con muốn mẹ đi cùng. Bích Đào cũng đi.”
Thẩm bà không hỏi ai đứng sau. Bà không hỏi tại sao lại kéo mẹ đi. Bà chỉ nhìn ta lâu. Đôi mắt bà đục vì mộng thịt che, nhưng cái đục ấy không giấu được cái gì đằng sau.
“Tương phủ chính là chỗ có phụ mẫu của Lục đại nhân ở?”
“Phụ mẫu hắn qua đời cả rồi. Chỉ còn lão quản gia và thị vệ.”
“Vậy con vào có sao?”
“Con vào với danh nghĩa ngỗ tác nam. Không ai biết con là nữ ngoài Lục đại nhân, mẹ, Diệp tỷ, và Bích Đào.”
Thẩm bà im. Bà đặt xâu chuỗi hạt xuống chăn. Tay bà xoè ra, run một cái nhẹ.
“Yên tử.”
“Dạ.”
“Mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ hỏi con: Lục đại nhân, người ấy… có tốt với con không?”
Ta nghĩ đến đêm qua. Nghĩ đến lúc ta chạy vào phòng hắn, ba thích khách vây, dao đâm vai hắn. Nghĩ đến lúc hắn nắm tay ta không rời, nói “Ta nợ ngươi”. Nghĩ đến câu ta nói ra không phanh: “Đại nhân, ta không phải nam.” Nghĩ đến câu hắn đáp, ngắn, không thêm chữ: “Ta biết.”
Ta không nghĩ tiếp.
“Người ấy tốt, mẹ.”
Thẩm bà nhìn ta rất lâu. Không hỏi nữa. Chỉ gật.
“Vậy con đi. Mẹ theo.”
Ta gói đồ Thẩm bà. Không nhiều. Một chăn bông cũ, hai bộ áo bà, một cái bát gỗ mòn (bát bà ăn cháo mỗi sáng), một cái hộp thảo dược Diệp Nương biếu, và một cái hộp gỗ nhỏ để trên đầu giường bà.
Cái hộp ấy ta biết. Cái hộp giấu ghi chép cha ta để lại, hộp trang sức khảm trai, ta đã mở lần đầu tối hôm ghép ba manh mối. Bây giờ hộp lại nằm dưới tay bà.
Ta không lấy. Ta đặt lại chỗ bà đặt.
“Mẹ giữ. Đến tương phủ, mẹ lại để lên đầu giường.”
Thẩm bà không nói. Nhưng ta thấy tay bà siết vào chăn.
Xe ngựa đến canh bảy. Hai xe. Một chở Thẩm bà và cái chăn bông; một chở đồ ta và Bích Đào. Ta ngồi bên ngoài, đi cùng ngựa của Lục Vô Ngạn.
Tương phủ chính ở phường Đông, nội thành. Đường vào có ba lớp cổng. Cổng ngoài đen sơn, cổng giữa đá xanh, cổng trong gỗ táo đỏ. Mỗi cổng có thị vệ giáo dài. Ta chưa bao giờ vào đây. Ta chỉ đi qua ngoài đường một lần, chiều mùa thu năm ngoái, lúc ta còn là một ngỗ tác học việc chưa biết ai ở trong.
Bây giờ ta vào. Danh nghĩa: ngỗ tác nam của Đại lý tự thiếu khanh. Thực tế: một cô gái mười tám tuổi mang mẹ nuôi và tang chứng đi trốn.
Lão quản gia đón ở cổng trong. Ông cụ tóc bạc, dáng gầy, mắt tinh. Ông chắp tay với ta rất chỉnh. Không hỏi tại sao ngỗ tác được vào nội phủ. Không nhìn Bích Đào lâu. Không nhìn Thẩm bà lâu. Chỉ dẫn đường.
Phòng Thẩm bà ở khu Tây, gần bếp và vườn thuốc. Bích Đào ở phòng cạnh. Ta ở khu Đông, tách hẳn. Một thư phòng bình thường, giường gỗ đơn, án thư, một cái tủ, một chậu nước. Cửa dày. Chốt bằng đồng, khoá bên trong.
Lão quản gia dừng ở cửa thư phòng.
“Thẩm huynh.”
“Vâng.”
“Lão gia dặn: chốt cửa mỗi đêm. Tiểu đồng Trần Bảy sẽ đến canh chín mang khay cơm và một chậu nước ấm. Nó gõ ba tiếng, ngắn ngắn ngắn. Không phải ba tiếng ấy, huynh đừng mở.”
Ta nghe. Ba tiếng, ngắn ngắn ngắn. Ta ghi vào đầu như ghi số nhịp mạch tử thi.
“Đa tạ lão quản gia.”
Ông cụ khẽ gật, quay đi. Đi hai bước, ông cụ dừng, quay lại, chắp tay lần nữa.
“Thẩm huynh.”
“Vâng.”
“Lão đã hầu Lục thượng thư ba mươi năm. Sau khi ngài mất, hầu Lục đại nhân bảy năm. Lão không hỏi huynh là ai. Nhưng lão thấy hôm nay lão gia đưa huynh vào nội phủ, chưa từng có tiền lệ. Huynh cứ ở. Ai làm khó huynh, lão sẽ đứng ra.”
Ta cúi đầu. Ta không hứa gì. Trong nghề này ta biết: người tốt nhất thường lộ tốt trong câu ngắn nhất.
“Đa tạ.”
Ông cụ đi.
Ta đóng cửa. Chốt then đồng vào. Cạch một tiếng khô.
Trong phòng, chỉ còn ta.
Ta ngồi xuống mép giường. Không cởi áo. Không tháo đai lưng. Ta chỉ ngồi.
Sáu năm giả nam. Ta đã ở trọ ba nơi. Ta đã ngủ trên chiếu rơm, trên sàn gỗ, trên giường tre. Ta chưa bao giờ ngủ trên một cái giường mà cửa dày như thế này, mà chốt khoá chắc như thế này.
Giường này không phải nương náu. Giường này là bức tường Lục Vô Ngạn dựng cho ta.
Ta để mắt trôi qua căn phòng. Án thư có sẵn mực, bút, giấy. Có sẵn một bình dầu và một chậu nước. Có sẵn một cái áo khoác đen treo trên móc, đúng cỡ ta. Không phải mới may. Áo đã giặt, thoảng mùi bồ hòn, xếp gọn. Nghĩa là hắn đã lo trước. Nghĩa là đêm nay không phải hắn tính vội. Đêm nay hắn đã tính từ trước.
Nếu ta là kẻ đa nghi, ta sẽ nghĩ hắn tính trước từ tối ta bị thương ở phòng khám, khi hắn thấy dây vải giấu ngực. Nếu ta là kẻ đa nghi.
Ta buông tay. Ta không muốn nghĩ.
Canh chín. Ba tiếng gõ, ngắn ngắn ngắn.
Ta mở cửa. Trần Bảy, thằng bé nhỏ, gầy, mặc áo vải xám, tay bưng khay. Ta thấy mắt nó, hai con ngươi đen, sáng, không nói cũng không cần nói. Nó đặt khay xuống án. Cúi đầu. Đi ra.
Trên khay: một bát cháo trắng có ba miếng cá kho nhỏ, một chén canh rau, một đĩa quả sung muối. Bên cạnh, một chậu nước ấm, một khăn bông trắng đã giặt. Bên cạnh nữa: một bao thuốc bột nhỏ, dán chữ “chỉ huyết”. Loại thuốc cầm máu ta dùng cho vết thương của Lục Vô Ngạn tối qua.
Ta nhìn bao thuốc.
Hắn nghĩ ta có thể bị thương lại. Hoặc hắn nghĩ ta nhức mỏi. Hoặc hắn không nghĩ. Hắn chỉ để. Người nghĩ đến người khác đôi khi không nghĩ. Người đó chỉ để, như một phản xạ.
Ta ăn cháo. Ăn chậm. Ta biết đêm nay ta không ngủ.
Sau canh mười, hành lang bên ngoài yên. Không tiếng thị vệ. Chỉ tiếng gió thổi qua ngói.
Ta ngồi ở án thư, không thắp đèn. Mở cửa sổ nhỏ nhìn ra sân. Trăng đêm nay khuyết một mảnh. Ánh trăng lạnh, rơi xuống sân đá xanh, chia đá thành hai mảng: một mảng bạc, một mảng đen như mực đổ.
Ta nghĩ đến kiếp trước.
Ta nghĩ đến phòng giải phẫu bệnh viện Sài Gòn, đèn huỳnh quang trắng, không có sương, không có trăng, chỉ có tiếng máy điều hoà và tiếng dao mổ khô. Ta nghĩ đến phút cửa mở, thân nhân xông vào. Đau. Tối.
Rồi ta nghĩ đến kiếp này. Đêm đầu ở tương phủ chính. Chốt đồng khoá. Áo khoác đen treo sẵn. Bao thuốc chỉ huyết. Trăng khuyết.
Đêm nay lạ.
Ta chưa từng đêm nào cảm thấy có bức tường nào đó dựng quanh mình mà bức tường không phải do ta tự dựng.
Sáu năm ta dựng tường một mình. Dây vải quấn ngực là tường. Sẹo giả trên môi trên là tường. Xưng “hạ quan” ngoài đường là tường. Nay có kẻ dựng tường thay ta một đêm, ta không biết cách ngồi.
Ta cầm bút. Ta không viết gì. Bút chỉ chạm vào giấy. Ta để một chấm mực đen.
Một chấm mực đen trên giấy trắng.
Ta nhìn nó, thấy giống vệt máu khô trên tay áo ta buổi sáng.
Rồi ta nghe tiếng bước.
Không phải bước thị vệ. Bước nặng hơn thị vệ. Chậm hơn thị vệ. Có cả tiếng gõ nhẹ của một cái gì đó bằng gỗ: hộ oản gỗ đen đập vào vạt áo.
Ta nghe bước dừng trước cửa phòng ta.
Ta không đứng dậy.
Trong tay ta còn cây bút. Ta đặt bút xuống chậm.
Tim ta không đập nhanh. Tim ta đập một nhịp bình thường. Cảm giác này ta biết: kiếp trước cũng vậy, mỗi khi có ca cấp cứu vào phòng giải phẫu, ta bình tĩnh khủng khiếp. Kiếp này cũng vậy, mỗi khi tử thi được đưa vào phòng khám, ta bình tĩnh khủng khiếp. Cái bình tĩnh này là thứ ta dùng để sống. Nay nó lại đến. Không phải trước tử thi. Trước cửa phòng.
Có tiếng gõ.
Không phải ba tiếng ngắn ngắn ngắn của Trần Bảy. Một tiếng. Nhẹ. Rồi im.
Ta không mở cửa.
Ta biết là ai. Ta không cần hỏi.
Một nhịp im. Rồi có giọng qua cửa. Giọng thấp, không cố nén, không cố nới.
“Là ta.”
Ta đáp qua cửa. Câu của ta cũng thấp.
“Vâng.”
“Ngươi đã ăn?”
“Đã ăn.”
“Chốt cửa chưa?”
“Chốt rồi.”
Một nhịp im nữa.
“Ta không vào. Ta đứng đây một chút.”
Ta không nói gì. Ta đứng dậy. Bước ba bước tới cửa. Đặt lòng bàn tay lên gỗ cửa từ bên trong. Gỗ nguội. Bên kia cửa, ta biết hắn cũng đứng gần đấy. Không biết hắn có đặt tay không. Ta không hỏi.
“Đại nhân.”
“Ừ.”
“Vai trái đại nhân sao rồi?”
Hắn im nửa nhịp.
“Không đau.”
“Nói dối.”
“Ừ. Đau.”
Ta cúi đầu. Cười một tiếng khẽ. Cười của bác sĩ nghe bệnh nhân nói dối.
“Uống thuốc rồi ngủ. Đừng dựa vào vai trái ba ngày.”
“Ta biết.”
Một nhịp.
“Đại nhân.”
“Ừ.”
“Đại nhân về ngủ đi. Đứng lâu vết thương lại rỉ.”
Hắn không đáp ngay.
Sau đó ta nghe.
“Ngươi ngủ ngon. Không ai vào được.”
Ta đứng im. Tay vẫn đặt trên cửa.
“Vâng.”
Bước hắn xa dần. Đi hết hành lang. Ta còn nghe đến khi tiếng bước tan vào tiếng gió.
Ta không ngồi ngay.
Ta ngồi tựa cửa, lưng dựa vào gỗ, đầu ngửa nhẹ. Ta đặt tay xuống, để lòng bàn tay úp xuống mặt gỗ, ngay chỗ ban nãy ta đặt tay lên. Gỗ vẫn nguội.
Ta không khóc. Ta không cười. Ta chỉ ngồi thế đến canh một sáng, khi trăng khuyết nghiêng mãi qua thành cửa sổ và ánh trăng rời khỏi mặt đá xanh ngoài sân.
Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu, cửa mở, không ai đứng canh cửa cho ta.
Kiếp này, đêm đầu ở tương phủ chính, có một người đứng canh cửa cho ta rồi đi. Không nói lời hoa. Không đưa tay. Chỉ nói “không ai vào được.”
Trắng đen phải rõ, ta đã học vậy suốt sáu năm. Nhưng có những đêm, giữa trắng đen còn một mảng xám mà ta không biết gọi tên. Đêm nay là một đêm như vậy.
Sáng ra ta mở cửa lúc canh năm rưỡi.
Ngoài cửa, sát chân cửa, có một cái hộp gỗ nhỏ. Gỗ tử đàn. Khảm trai một hoa mai nhỏ. Hộp bằng bàn tay ta.
Ta không nhấc lên vội. Ta ngồi xuống ngưỡng cửa. Nhìn hộp. Sương sớm còn đọng một hạt ở mép nắp.
Rồi ta mở.
Trong hộp: một sợi dây bạc mảnh, xâu qua sáu hạt châu đỏ. Hạt châu tròn, không lớn, mài kỹ, mỗi hạt to bằng hạt đậu đen, đỏ sẫm như một giọt máu đọng lâu năm. Sợi dây bạc mảnh nhưng chắc, khoá bằng một cái móc bạc hình chữ nhật đơn.
Vòng cổ mã não đỏ · chuỗi hạt cổ điển
52.895đ
Xem chi tiết →Bên dưới vòng, một mảnh giấy nhỏ. Chữ Lục Vô Ngạn. Ta biết chữ hắn. Ta đã đọc quá nhiều báo cáo án hắn phê son đỏ. Chữ hắn khô, đứng, gọn.
Chỉ một dòng.
“Của mẹ ta. Ta muốn ngươi giữ.”
Ta cầm mảnh giấy. Đọc lại. Đọc lần thứ ba.
Của mẹ ta, nghĩa là di vật.
Ta muốn ngươi giữ, nghĩa là không phải mượn. Không phải tặng tạm. Là giữ.
Người Đại Tống giữ di vật của mẹ thì có nghĩa gì, ta biết. Kiếp này ta không phải đứa trẻ đọc sách vụn. Ta đã sống trong Đại Tống một năm, ta hiểu cái mà cái giữ này nói.
Ta cầm vòng lên. Nâng nhẹ. Sáu hạt châu chạm nhau, ra một tiếng lích cích rất nhỏ, như tiếng bút mực đỏ chấm giấy.
Ta không đeo. Ta không cất. Ta để vòng lại trong hộp. Đóng nắp.
Ta cầm hộp mang vào phòng. Đặt trên án thư, bên cạnh chấm mực đen đêm qua ta chấm xuống.
Rồi ta ngồi xuống. Cầm bút. Chấm mực. Viết một câu, không viết ai đọc, không viết cho ai, chỉ viết cho ta.
Đêm mùng mười, tháng bảy. Ta vào tương phủ chính. Có người đứng canh cửa. Ta còn chưa biết đáp thế nào. Nhưng ta sẽ đáp.
Bút ta khô. Ta đặt xuống.
Bên ngoài, sương chưa tan. Nhưng trong sân đá xanh, thị vệ đã đi tuần vòng thứ nhất. Đại lý tự sáng nay còn ba vụ án chờ ta. Vụ Trương Nguyên Chương chờ ta ghép mảnh cuối. Cha ta chờ ta trả một câu trả lời hắn không kịp trả hai năm trước.
Ta đứng dậy. Chỉnh lại dây vải giấu ngực. Kéo áo ngoài. Buộc tóc cao lên kiểu thư đồng. Cầm bao thuốc chỉ huyết Lục Vô Ngạn để lại tối qua, cất vào ống tay áo.
Ta ra cửa. Chốt then đồng mở. Cạch một tiếng khô, giống hôm qua nhưng nghe không giống.
Bên kia hành lang, lão quản gia đã đứng chờ. Sau lưng ông, xe ngựa Đại lý tự đã sẵn sàng. Cẩn tắc vô ưu, người xưa nói vậy. Ta cẩn thận. Ta không có ưu.
Ta đi.
Nhưng cái hộp gỗ tử đàn, ta để lại trên án thư. Không mang theo. Không cất kín.
Vì có những thứ, giữ được thì để nguyên chỗ nó, không phải giấu.