Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 24: Bí Mật Cha Yên
Sáng thứ hai ở tương phủ Lục.
Không có tiếng gà. Tương phủ ở phường Đông, xa chợ, xa giếng làng, xa cả tiếng người rao củi buổi sớm. Chỉ có tiếng chổi tre quét đá của người hầu, tiếng nước rót vào chậu sứ ở gian bên, tiếng cửa gỗ đóng khe khẽ đâu đó phía sau viện.
Ta thức. Thật ra ta không ngủ.
Đêm qua Lục Vô Ngạn để trước cửa phòng ta một hộp gỗ nhỏ. Trong hộp là một vòng cổ hạt châu đỏ và một dòng giấy: Của mẹ ta. Ta muốn ngươi giữ. Ta nhặt vào phòng, đặt lên bàn viết, ngồi nhìn vòng châu ấy cho đến khi trăng khuyết trượt qua khe cửa sổ. Rồi ta nằm xuống, đếm tiếng canh.
Canh ba, canh tư, canh năm. Đến khi ánh xám mờ hắt lên trần phòng, ta ngồi dậy.
Ngồi dậy, mặc áo, chải tóc, buộc lại kiểu thư đồng như mọi ngày. Ta không xức nước hoa trầm. Trong tương phủ Lục hôm nay không có tử thi. Không cần khử uế. Không cần giấu mùi vào một tầng hương khác.
Ta bước ra ngoài viện. Sương chưa tan trên đá phiến. Đá lạnh dưới chân giày. Sân sau tương phủ có một cây mai già, cành đã đâm nụ nhưng chưa nở. Ta đứng dưới gốc mai chừng một khắc, không nghĩ gì rõ. Chỉ để cái đầu mình lặng lại như một chậu nước đục để yên cho cặn lắng xuống.
Từ hôm ta báo Lục Vô Ngạn ba manh mối và biết cha hắn cũng bị Trương giết, đến hôm nay là ba ngày. Ba ngày ấy ta điều tra tiếp, viết báo cáo, gặp Vương Ngự sử qua trung gian Lục, đào mộ Trương phu nhân, viết biên bản khám xương cổ nứt. Ba ngày ta không ngủ đủ một canh.
Ta không mệt vì công việc. Ta mệt vì một chuyện khác. Một chuyện ta chưa gọi tên được.
Trong hộp trang sức khảm trai của mẹ nuôi, ngoài ghi chép cha để lại mà ta đã lấy ra đọc từ đêm ch 17, còn có một tầng đáy ta chưa xét kỹ. Đêm đó ta gấp gáp, chỉ mở nắp và ngăn giữa. Lấy được ghi chép cha, đủ. Ta khép hộp lại, mang về, giao Vương Ngự sử.
Nhưng cái hộp ấy… vẫn còn nặng khi ta cầm lên.
Hai ngày nay, mỗi lần đi qua tủ gỗ đặt hộp, ta đều dừng nửa nhịp. Không phải vì công việc. Vì cái nặng. Một cái hộp gỗ tơ khảm trai chỉ dày ba đốt tay, đáy phẳng, không lý gì nặng đến vậy.
Trong nghề pháp y, một xác nặng hơn bình thường có nghĩa nó chưa nói hết. Một hộp nặng hơn cấu tạo bên ngoài cũng vậy.
Sương đọng trên áo ta thành hạt li ti. Ta rũ tay áo, quay vào.
Phòng ta ở tương phủ chính là gian thư phòng cũ của Lục Vô Ngạn dành cho khách quý. Bàn viết đặt sát cửa sổ. Trên bàn: bút, mực, giấy, một chồng công văn, một sổ tay bìa bố xám của riêng ta, một đèn dầu đế đồng nhỏ. Cạnh bàn, một tủ gỗ hai ngăn. Ngăn dưới, ta cất hộp trang sức khảm trai đêm qua vừa lấy từ nhà mẹ nuôi mang sang.
Ta cài then cửa từ bên trong. Tấm gỗ mộc lan cũ kêu một tiếng cạch nhẹ, vào rãnh.
Ta ngồi trước tủ, đặt hộp lên đùi.
Hộp gỗ tơ, mặt trước khảm trai hình hai con phượng đối đầu, sơn son đã nhạt. Đây là hộp Thẩm bà giữ từ ngày lấy chồng, giữ tiếp qua đám tang Thẩm Cát, giữ đến hôm nay. Ta mở nắp. Bên trong, tầng nắp: hoa tai bạc cũ, một mảnh trâm gãy, hai đồng tiền đồng thời Thái Bình. Tầng giữa: sổ ghi chép cha (đã lấy ra đêm ch 17, hôm nay ta để lại vào chỗ cũ), một cuộn giấy dó cha viết chữ Nhất Kính khi ta lên bảy, mấy mảnh giấy vàng.
Đáy hộp: một mảnh vải đỏ lót, sạch, không có gì.
Ta ấn ngón tay xuống mảnh vải. Cứng.
Không phải cứng của gỗ đáy. Cứng của cái gì có góc, có cạnh, giấu bên dưới lớp vải đỏ.
Ta nhấc vải lên. Bên dưới, tấm ván đáy có một khe nhỏ, chỉ đủ luồn móng tay. Ta luồn vào, kéo. Ván đáy nhấc lên như một cái nắp thứ hai.
Ngăn giấu.
Trong ngăn giấu: một mảnh ngọc bội hoa mộc lan, buộc dây tơ đỏ đã bạc màu, và một tờ giấy gấp tư, giấy dó vàng ngà, nét chữ nhỏ, mực đã ngả nâu vì năm tháng.
Ta đưa tay lấy mảnh ngọc bội trước.
Ngọc trắng ngả xanh, hoa mộc lan năm cánh, đường khắc mỏng và mềm, dáng ngọc không phải hàng chợ, cũng không phải hàng phường. Ta biết loại này. Kiếp trước ở bảo tàng Sài Gòn ta từng đứng trước tủ kính có một mảnh giống. Ngọc điền Vu Điền, thời Bắc Tống trung kỳ, thợ khắc thuộc lò tư gia, không đề chữ, chỉ khắc hoa. Loại ngọc mà một thương nhân bình thường không mua nổi, mà một tiểu thư quyền quý cũng phải là chi trưởng mới có.
Dây tơ đỏ buộc qua lỗ ngọc, gút hai vòng. Ta biết kiểu gút này. Đây là kiểu buộc ngọc bội đeo tay áo phụ nữ. Không phải đeo cổ, không phải đeo lưng. Đeo tay áo, kín, chỉ khi rút tay ra mới thấy.
Ngọc bội thắt lưng hán phục · phong cách cổ điển
237.826đ
Xem chi tiết →Ta cầm mảnh ngọc lên ngang mắt. Ánh xám sáng của trời sớm lọt qua giấy dán cửa sổ, chiếu xuyên qua thân ngọc. Xanh mờ, không đậm. Mảnh ngọc đã ấm trong lòng bàn tay ta trước cả khi ta ý thức ra nó đã ấm.
Trên mặt sau, có ba chữ khắc bằng đầu mũi kim nhỏ, mảnh như sợi tơ nhện.
Sở Vãn Miên.
Ta không thở nửa nhịp.
Sở Vãn Miên. Ba chữ ấy ta nghe một lần trong đời này, trong đêm Thẩm bà ngủ nói mê, thều thào tên một người bà nói là “chị dâu ta, mẹ Yên tử”. Ta khi đó đang ngồi đút thuốc cho bà, nghe được, ghi lại một dòng vào sổ. Mẹ ruột Thẩm Yên gốc, chết khi Yên năm tuổi. Không ai kể chi tiết. Thẩm bà cũng không kể lại lần thứ hai, ta không hỏi.
Vãn Miên. Miên là mơ. Muộn mơ. Cái tên nghe không phải tên đặt cho con gái nhà thương gia.
Ta đặt ngọc bội xuống lòng bàn tay trái. Bàn tay phải nhặt tờ giấy gấp tư.
Giấy dó mảnh, gấp bốn nếp. Ta mở từng nếp một, tay chậm, sợ giấy rách. Nếp thứ nhất: một mảng nét chữ mờ, hai dòng. Nếp thứ hai: bốn dòng. Nếp thứ ba: bảy dòng. Nếp thứ tư: chỉ một dòng cuối, viết ngắn.
Nét chữ nữ. Nhỏ, dài, ngã hơi trái, kiểu nét chữ của người học lâu nhưng viết ít, không phải chữ nữ tú trong khuê phòng, cũng không phải chữ nữ hầu chép sách. Ta đọc kỹ từng nét.
Ta đọc.
Cát ca,
Yên tử hôm nay bốn tuổi. Nó ngồi bên gối ta xem ta khâu vá. Ta khâu mũi kim đâm vào tay chảy máu. Nó không sợ. Nó cầm ngón tay ta lên xem, hỏi mẹ ơi máu người mình đỏ hơn máu con gà, tại sao. Ta không đáp được.
Cát ca. Ta viết thư này vì bệnh ta ngày một nặng. Thầy lang bảo qua đông này ta không đợi được. Ta không sợ chết. Ta chỉ sợ Yên tử.
Nó không giống con gái người ta. Ta biết từ khi nó lên hai, ta ép nó ngồi may vá, nó nhìn kim chỉ mà mắt chán. Ta cho nó theo chàng đi khám xác cửa Nam một lần, nó ngồi cạnh xác ba canh giờ, không khóc, không hỏi khi nào về. Chàng về kể ta nghe. Ta khi ấy trong lòng vừa mừng vừa lo.
Mừng: máu chàng chảy trong nó rõ. Nghề pháp y có tay có mắt có tâm mới làm được. Nó có cả ba.
Lo: Đại Tống không cho phụ nữ theo nghề này. Nếu nó lớn lên mà cha ép nó theo phụ nữ đường… ta biết nó không chịu. Nó sẽ oán. Nó sẽ đi ngược đường mà chàng đã đi. Ta không đủ sức sống đến ngày ấy.
Cát ca. Ta có ba lời nhờ chàng.
Một: Yên tử nếu quả có tài như chàng, xin đừng ép nó theo phụ nữ đường. Ta thà nó làm ngỗ tác giả nam còn hơn làm phu nhân bó chân trong nhà mà lòng oán cha.
Hai: mảnh ngọc bội mộc lan này, mẹ ta để lại cho ta, ta để lại cho Yên tử. Không phải để nó đeo. Là để nó biết máu bên ngoại của nó cũng từng có người theo nghề chữ nghiã trong triều. Nghề nào cũng là nghề. Miễn không thẹn với ngọc.
Ba: nếu ngày nào chàng đi trước nó, xin giấu ngọc và giấu thư này chỗ nó tự tìm được. Đừng đưa tận tay. Ta muốn ngày nó tìm ra, nó biết mẹ nó biết trước, và mẹ nó đồng ý.
Vãn Miên.
Ta đọc xong. Ánh sương ngoài cửa sổ đã sáng lên một tầng. Trên tay ta, tờ giấy dó nhẹ như một tấm lá khô. Trong lòng ta, tờ giấy ấy nặng như một khối đá phiến dưới chân giếng.
Ta ngồi im.
Ngồi lâu.
Đèn dầu đế đồng trên bàn ta chưa châm. Sương đọng ngoài giấy cửa sổ chảy xuống một giọt.
Yên tử nếu quả có tài như chàng, xin đừng ép nó theo phụ nữ đường.
Ta đọc lại dòng đó ba lần. Lần thứ tư ta đọc thành tiếng khẽ, chỉ để nghe âm chữ chạm vào không khí:
“Xin đừng ép nó theo phụ nữ đường.”
Ba lần đọc, ta không thấy chữ. Ta thấy một người đàn bà ta chưa từng nhớ mặt, ngồi trong buồng vắng đêm khuya, tay run, mực nghiêng, chấm từng chữ xuống giấy dó vì biết mình không kịp nhìn con gái lớn. Ta thấy một người mẹ mà thân xác ta gọi là mẹ mà ký ức ta không lưu lại được. Kiếp trước ta là bác sĩ pháp y 29 tuổi ở Sài Gòn, mẹ ruột kiếp trước còn sống, ta gọi điện thoại về nhà tuần một lần. Kiếp này ta 18 tuổi trong thân xác Thẩm Yên gốc, mẹ nuôi Thẩm bà đút cháo cho ta ăn đêm khuya. Còn Sở Vãn Miên… mẹ đẻ của cái thân xác này, chết khi thân xác này lên năm. Ta thừa hưởng đôi tay của bà. Ta thừa hưởng cả cái mắt không chớp trước tử thi của bà.
Và ta không biết mặt bà.
Máu chàng chảy trong nó rõ.
Không phải chỉ máu cha. Máu mẹ cũng chảy. Mẹ đẻ đã nhìn cái đứa con gái bốn tuổi ngồi cạnh xác cửa Nam ba canh giờ không khóc, và trong đêm về đã viết cho chồng một lá thư nhận rằng con gái mình sinh ra không thuộc phòng khuê.
Cha ta không giấu ngọc chỗ dễ tìm. Cha giấu dưới đáy hộp trang sức của Thẩm bà, dưới một ngăn giấu, dưới một mảnh vải đỏ. Cha cho Thẩm bà đem hộp về giữ. Cha biết Thẩm bà không xét kỹ đáy hộp. Cha biết ngày ta lớn, có việc gì đó khiến ta phải lục đáy hộp mẹ nuôi, ta mới tự tìm ra.
Cha ta chết bất minh hai năm trước, khi ta mười sáu tuổi. Trước đó cha đã giấu thư mẹ và ngọc bội mẹ, chờ ta lớn. Chờ ta lớn mà không được thấy.
Ta cắn môi. Vị mặn trong khoang miệng ta chưa lan ra thì đã có một giọt khác lan xuống trước.
Nước mắt.
Ta không hiểu ngay. Kiếp trước ta khóc lần cuối là năm ta mười tám, cha ruột kiếp trước qua đời. Sau đó vào trường y, vào nghề pháp y, làm việc với người chết mỗi ngày, ta không khóc. Kiếp này ta trọng sinh sáu tháng nay, cào cỏ nghĩa trang, chôn xác con chó bên đường, bồng mẹ nuôi liệt giường ăn cháo, mổ dạ dày phú thương trong đêm, bị dao đâm sượt sườn, nhìn Lục Vô Ngạn đẩy cửa vào không gõ khi ta cởi áo, đào mộ Trương phu nhân trong đêm, ta không khóc lần nào.
Bây giờ ta khóc. Vì một tờ giấy dó bốn nếp mà một người đàn bà ta chưa gặp viết cho một người đàn ông đã chết hai năm.
Nước mắt chảy chậm. Xuống má, xuống hàm, xuống cổ áo. Ta không lau. Tay ta còn cầm ngọc bội và giấy, không rảnh.
Ta cứ để cho nó chảy.
Trong lòng, ta ghép:
- Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu vì thân nhân nạn nhân đâm sau lưng. Ta khi ấy chưa cưới, chưa con, chưa kịp báo hiếu cha mẹ ruột kiếp trước.
- Kiếp này ta trọng sinh vào Thẩm Yên gốc, một cô gái mười tám mà đã có thân phận, có mẹ nuôi, có cha đã khuất, có mẹ đẻ đã khuất từ lâu, có một cái nghề “âm khí bám thân” mà xã hội khinh.
- Ta cứ nghĩ trọng sinh là kỳ tích. Ta cứ nghĩ ta được ban cho cơ hội thứ hai để tìm kẻ giết cha, để chữa bệnh cho mẹ nuôi, để làm nghề trong một thời đại chưa có nghề của ta.
Bây giờ ta hiểu. Không phải kỳ tích. Không phải phần thưởng.
Là truyền lại.
Máu bên ngoại có Sở Vãn Miên biết chữ, biết ép chữ mà không thẹn. Máu bên nội có Thẩm Cát cầm dao trổ khám xác không sợ tanh. Cả hai máu ấy hoà vào Thẩm Yên gốc từ khi sinh. Kiếp trước Thẩm Yên tuổi mười tám bệnh mà chết, không kịp lớn, không kịp làm gì. Kiếp này ta rơi vào thân xác ấy, mang theo hai mươi chín năm y học hiện đại. Nhưng cái tay này, cái mắt này, cái tâm này… không phải của một mình ta.
Của Sở Vãn Miên nữa. Của Thẩm Cát nữa.
Cha mẹ cái thân xác này đã biết trước con gái mình sẽ theo nghề. Trong khi ta còn tưởng ta là người đầu tiên trong đời này quyết định làm ngỗ tác.
Ta không phải người đầu tiên. Ta là người thứ ba.
Ta cúi đầu xuống, trán chạm vào lưng cuốn sổ tay bìa bố xám đặt trên bàn. Trong tối bên trong mắt ta, ta thấy một hình ảnh không có thật, không phải ký ức, chỉ là ảo. Một người đàn bà ngồi trong buồng vắng, một cây đèn dầu leo lét, tay khâu vá, mũi kim đâm ngón tay chảy máu, một đứa bé bốn tuổi ngồi cạnh, cầm ngón tay mẹ lên xem, hỏi: Máu người mình đỏ hơn máu con gà, tại sao?
Người đàn bà không đáp được câu ấy.
Kiếp này, ta đáp được. Máu người có huyết sắc tố gấp đôi máu gà. Tế bào hồng cầu người không có nhân. Tế bào hồng cầu gà có nhân. Chi tiết vi mô. Ngôn ngữ hiện đại.
Nhưng ta không muốn đáp bằng ngôn ngữ hiện đại.
Ta muốn đáp: Mẹ, con biết. Con biết vì con là con của mẹ. Con không quên máu bên ngoại chảy trong tay con. Con không giả nam trang mà mất mặt của mẹ. Con làm ngỗ tác không thẹn với ngọc mộc lan.
Ta chưa nói được câu ấy ra tiếng. Chỉ nghĩ trong lòng. Nhưng chỉ nghĩ, nước mắt cũng đã chảy đến cằm.
Ta không biết ta khóc bao lâu.
Ta biết khi cửa phòng vang tiếng gõ.
Ba tiếng. Nhẹ. Cách nhau đều.
Ta không đáp. Cổ họng ta không mở ra được.
Ba tiếng nữa.
Rồi tiếng chốt cửa. Then rút. Cửa đẩy vào.
Lục Vô Ngạn.
Ta cài then từ bên trong. Nhưng chốt cửa tương phủ có hai lớp: một then trong, một chốt ngoài chỉ chủ nhà có. Hắn có chốt ngoài. Hắn không cần đợi ta mở.
Bước chân hắn chậm. Áo trường bào đen, không xắn tay. Hôm nay không có công việc phòng khám xác. Hắn từ ngoài viện vào chỉ để đến đây.
Ta không ngẩng lên. Trán ta còn tựa vào sổ tay. Tóc buộc kiểu thư đồng xổ nửa, xoã xuống một bên. Tay trái ta còn cầm mảnh ngọc bội. Tay phải còn cầm tờ giấy dó. Nước mắt ướt bàn tay ta, thấm vào rìa giấy.
Bước chân đến sát bàn. Dừng.
Ta chờ hắn hỏi. Ngươi làm sao? Có tin xấu à? Có ai đến đây quấy rầy ngươi không?
Hắn không hỏi câu nào.
Ta nghe tiếng vải áo động. Hắn ngồi xuống. Không phải ghế đối diện. Là ghế cạnh ta, ghế nhỏ đặt sát bàn cho khách ngồi chờ, khoảng cách với ta chừng nửa cánh tay.
Ta vẫn không ngẩng.
Trên bàn, sát lưng ta, ta cảm giác được có một thứ được đặt xuống, vải mềm. Ta nghiêng mắt nhìn qua khe tóc.
Một chiếc khăn tay. Vải trắng, viền lam, không có thêu. Khăn của người quen dùng khăn không phô trương. Khăn của Lục Vô Ngạn.
Không phải khăn có mùi hương lạ. Không phải khăn thêu tên. Là khăn thường, mỏng, mềm, khô. Loại khăn mà một người đàn ông đêm ngày mang trong tay áo đề phòng cần dùng.
Hắn không đưa tận tay ta. Hắn đặt xuống bàn, ngay tầm tay ta mà không chạm vào tay ta.
Ta không cầm lên ngay.
Ta ngồi im nửa canh giờ.
Hắn cũng ngồi im nửa canh giờ.
Không hắng giọng, không thở nặng, không đổi tư thế. Ta biết hắn ở đó vì bên vai ta cảm được một tầng không khí có người. Trong đêm khám tử thi, ta phân biệt được người sống với người chết ở cách khí quẩn quanh. Không phải kỳ diệu gì. Là hô hấp. Là nhiệt độ da. Là mùi mờ của da người sống thoát ra qua vải.
Hắn có mùi mờ ấy.
Nửa canh giờ trôi.
Ta thở ra một hơi, ngẩng lên nửa mặt. Ta lau nước mắt bằng lưng bàn tay còn cầm giấy. Giấy bị nhoè một góc, nét chữ Sở Vãn Miên dưới cùng bây giờ có một vệt nước loang qua.
Ta để giấy xuống bàn, cẩn thận, chỗ khô. Ngọc bội ta đặt lên trên tờ giấy.
Ta cầm khăn của Lục Vô Ngạn lên. Áp lên mắt. Lau.
Khăn thấm nước mắt của ta. Ta không ngại. Đàn ông danh môn Đại Tống cho một cô gái khóc mượn khăn, đó không phải chuyện lạ. Chuyện lạ là hắn không hỏi tại sao ta khóc.
Ta lau xong, gấp khăn lại vuông vắn, đặt xuống bàn.
Ta ngước lên nhìn hắn.
Lục Vô Ngạn ngồi bên ghế nhỏ, tay đặt trên đầu gối. Tay trái vẫn có hộ oản gỗ đen, hôm nay không xoay. Mắt hắn nhìn xuống bàn, nhìn vào mảnh ngọc bội trên tờ giấy dó, không nhìn ta.
Mắt hắn không dò xét. Không thương hại. Không tò mò.
Chỉ là mắt của một người ngồi cạnh một người khác trong đêm dài, không có gì để nói.
Ta hé miệng, gần định nói.
Rồi ta đóng lại.
Cũng như hắn không hỏi, ta không giải thích. Đây là ngày thứ ba trong tương phủ. Đây là ngày ta đọc được thư mẹ ruột. Đây là ngày ta hiểu ra ta không phải người đầu tiên. Đây là ngày ta khóc lần đầu từ khi trọng sinh.
Cần gì phải nói. Người ngồi cạnh biết đọc, biết chờ.
Ta chỉ nói một câu, khi đã đủ bình tĩnh để giọng không run:
“Đại nhân về nghỉ. Hạ quan không sao.”
Hắn không đứng dậy ngay.
“Hôm nay không cần đến Đại lý tự,” hắn nói. Giọng thấp, khô, không nặng hơn mọi ngày. “Ta báo bên thiếu khanh sảnh ngươi bệnh nửa ngày. Chiều nếu ngươi muốn, ta cho xe ra chợ Nam. Nếu không muốn, thì nghỉ.”
Ta ngập ngừng nửa nhịp.
“Vâng.”
Hắn đứng dậy.
Ra đến cửa, hắn quay lại. Nửa vòng chân, không nhìn thẳng ta, chỉ nhìn qua bàn.
“Khăn ngươi giữ. Ta có cái khác.”
Rồi hắn ra. Cửa khép. Then chốt ngoài không cài lại, hắn để nguyên cho ta tự chốt trong.
Ta nghe tiếng chân hắn đi qua hành lang gỗ. Chậm. Rồi mất.
Trong phòng, mảnh ngọc bội mộc lan nằm trên tờ giấy dó. Nét chữ Sở Vãn Miên nhoè một góc. Khăn trắng viền lam gấp vuông vắn cạnh nghiên mực chưa mài.
Ta chạm ngón tay lên khăn. Vải mềm. Còn ấm nhẹ vì vừa được lấy ra khỏi tay áo hắn không lâu. Không phải ấm của hơi người còn dính, mà ấm của vải đã ở gần cơ thể một lúc.
Ta cầm khăn, ép nhẹ vào lòng bàn tay.
Nghĩ một câu, không nói ra:
Đại nhân biết ta khóc lần đầu từ khi trọng sinh. Đại nhân không hỏi. Đại nhân biết có những việc hỏi ra thành thô. Đại nhân biết có những việc ngồi cạnh một canh giờ nói được nhiều hơn một câu hỏi.
Ta lặng đi.
Kiếp trước ta ba mươi tuổi chưa cưới. Ta không tin đàn ông có khả năng ngồi im cạnh phụ nữ đang khóc mà không thấy khó chịu, không dịch chân, không hỏi câu vô nghĩa để lấp im lặng. Ta thấy nhiều rồi. Bạn ta khóc trong quán cà phê, người yêu ngồi cạnh rút điện thoại xem. Đồng nghiệp khóc trong phòng nghỉ, cấp trên đứng ngoài cửa đợi hai phút rồi bỏ đi vì “để cho ấy bình tĩnh”.
Kiếp này, ta ngồi trong thư phòng tương phủ Lục, khóc nửa canh giờ, có một người ngồi cạnh nửa canh giờ, không hỏi, không dịch chân, không rút gì ra xem.
Ta chưa gọi tên được điều ấy. Ta không dám gọi.
Nhưng trong lòng, ta biết có một cái gì đó vừa thay đổi.
Không phải giữa ta và hắn. Là giữa ta và ta.
Ta gấp lại thư mẹ, cẩn thận theo bốn nếp cũ. Ta buộc lại ngọc bội bằng dây tơ đỏ, hai gút y như cũ. Ta đặt cả hai vào ngăn giấu dưới đáy hộp. Đậy nắp ván đáy. Trải vải đỏ lót. Xếp sổ ghi chép cha vào ngăn giữa. Đóng nắp hộp trang sức khảm trai. Đặt hộp lên tủ.
Ta ngồi lại vào bàn viết. Mở sổ tay bìa bố xám. Mài mực. Mài chậm.
Trong đầu ta, ba dòng ghép lại:
- Mẹ đẻ đã biết ta có tài. Mẹ đẻ đã xin cha đừng ép ta theo phụ nữ đường.
- Cha giấu thư và ngọc bội chờ ta lớn tự tìm ra. Cha chết trước ngày ta tìm.
- Ta trọng sinh không phải kỳ tích ngẫu nhiên. Ta trọng sinh vào cái thân xác đã sẵn máu nghề trong xương.
Ta chấm bút xuống mực. Viết một dòng vào sổ tay:
Ngày này, Vãn Miên nương chấp nhận ta.
Ta ngừng.
Viết thêm một dòng:
Cha giấu ngọc trong hộp mẹ nuôi. Trước sau vẫn có người đợi ta.
Rồi ta gấp sổ. Cất vào tủ. Ngồi nhìn ra cửa sổ.
Sương ngoài giấy dán cửa sổ đã tan gần hết. Ánh nắng đầu ngày lọt qua khe song, chiếu lên tấm khăn trắng viền lam gấp vuông vắn trên bàn.
Ta cầm khăn lên. Nhét vào tay áo. Vải áo trong ta là vải bố xám, tay áo bó bằng dây gai, khăn nhét vừa vặn, giấu kín.
Từ hôm nay, ta có hai thứ giấu trong người: dây vải sáu năm bó ngực, và một chiếc khăn tay của Lục Vô Ngạn.
Trắng đen phải rõ. Nhưng có những chuyện, trong lòng người, cứ để mơ hồ mà lại đúng.
Ta đứng dậy. Đi lấy nước rửa mặt. Nước lạnh, xối lên mắt sưng, xối lên gò má đã có ngấn nước. Ta chải lại tóc. Buộc kiểu thư đồng như thường.
Ra khỏi phòng, sang buồng mẹ nuôi ở gian bên. Thẩm bà đã thức, đang ngồi trên giường được kê cao, Bích Đào đút cháo.
“Yên tử,” bà thấy ta thì mắt sáng. “Sáng nay con dậy sớm.”
“Vâng.”
Ta ngồi xuống bên giường. Cầm bát cháo từ Bích Đào. Đút cho mẹ nuôi tiếp bát dở.
Mẹ nuôi ăn được nửa bát nữa. Ta lau khoé miệng bà.
“Yên tử. Sao mắt con hơi đỏ?”
“Đêm qua thức khuya viết báo cáo.”
“Ừ. Nghề của con vất vả. Nhưng con chịu được. Con giống cha con.”
Ta khựng nửa nhịp. Rồi cười khẽ.
“Vâng, mẹ. Con giống cha con. Và giống mẹ đẻ nữa.”
Thẩm bà nhìn ta. Không hỏi. Bà đã già, bà biết những câu con nói bâng quơ vẫn có gốc rễ đâu đó, không cần hỏi ngay.
Bà chỉ vỗ nhẹ mu bàn tay ta.
“Ừ. Con giống cả hai.”
Ta cúi đầu. Tiếng vỗ mu bàn tay của mẹ nuôi ấm hơn cả tấm khăn trắng viền lam giấu trong tay áo ta.
Bích Đào đưa mắt sang, không hỏi. Nó cầm bát cháo cạn ra ngoài rửa.
Ta ngồi cạnh mẹ nuôi thêm một khắc. Ngoài cửa sổ, tương phủ vào buổi sáng bắt đầu có tiếng người đi lại. Xa xa, có tiếng chuông sáng của chùa Đại Tuệ vọng qua nóc phường Đông. Ba tiếng chậm, đều, ngân dài.
Cha ơi. Mẹ ơi.
Con về rồi. Con biết pháp y hơn cha nghìn năm. Con biết ép chữ không thẹn với ngọc bên ngoại. Con giả nam trang không phải mất mặt hai bên, mà vì con phải làm việc cha chưa làm xong.
Đêm nay, khi cha mẹ ở trong nghĩa trang cửa Nam nghe tiếng chuông này, xin cha mẹ biết: con của cha mẹ, đêm qua đã đọc được một lá thư mực đã nâu, và đêm nay đã bắt đầu bước tiếp con đường mà cha mẹ đã dọn sẵn.
Trong tay áo ta, khăn trắng viền lam áp vào cổ tay, còn một hơi ấm cuối chưa tan.
Ta biết. Con đường phía trước còn kẻ đợi ta ở đầu đường. Nhưng bây giờ, ít nhất, ta đã biết ta không đi một mình.
Kể từ hôm nay.