Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 25: Cùng Điều Tra

Khăn tay Lục Vô Ngạn đưa ta đêm qua, sáng nay ta xếp lại, đặt trên bậu cửa sổ.

Vải trắng. Mép may chỉ xanh. Không có dấu tên.

Ta không cất vào tủ. Nhìn nó là ta biết đêm qua có thật.

Trên án thư của ta, thư mẹ đẻ ta đã gấp lại thành ba nếp, bỏ vào hộp gỗ khảm trai. Hộp ấy trước là của mẹ nuôi, đêm qua ta mở lần đầu. Đêm qua ta khóc. Đêm qua Lục Vô Ngạn ngồi cạnh giường, không hỏi, không đưa lời an ủi, chỉ đưa khăn.

Hắn đúng ở chỗ đó. Người sống lâu bên tử thi biết một điều: khóc là việc riêng của cơ thể. Không ai đỡ được, cũng không ai phải đỡ. Đưa khăn là đủ.

Ta đóng nắp hộp. Nhấn dấu khảm trai bằng ngón cái. Trong hộp giờ có ba thứ: một mảnh giấy cha ghi tên T.N.C. bằng bút chì than, một tờ thư mẹ đẻ, và một sợi tóc mẹ nuôi ta cắt ba năm trước. Cha, mẹ đẻ, mẹ nuôi. Ba người đã cho ta ba kiếp sống trong một thân xác.

Ta khoá then hộp. Ra khỏi phòng.

Hành lang tương phủ Lục sáng nay hơi lạnh. Sương chưa tan hết. Đá xanh dưới chân ướt, ánh nắng đầu chưa rọi tới. Ta đi qua thư phòng Lục Vô Ngạn.

Cửa mở.

Hắn ngồi bên án thư, tay trái vẫn đeo hộ oản gỗ đen. Trước mặt hắn, một tấm bảng gỗ đào rộng bằng nửa cửa, dựng chống lên khung tre. Trên bảng, hắn đã kẻ sẵn bốn ô, viết bốn chữ đầu bằng bút mực đỏ:

Nô tì. Trẻ em. Phú thương. Phu nhân.

Ta đứng ở khe cửa. Hiểu.

Hôm nay bắt đầu chính thức.

“Vào,” Lục Vô Ngạn nói. Không ngước lên.

Ta vào. Đóng cửa. Cài then.


Bàn hắn bày sẵn ba xấp hồ sơ. Xấp bên trái là vụ nô tì phủ Vương thị lang, hồ sơ ta ghi từ tháng trước. Xấp giữa là vụ năm xác trẻ em cầu Biện Hà, có kèm ba khuôn mặt ta phục dựng bằng đất sét, giờ đã khô, được đặt trong ba hộp gỗ nhỏ. Xấp bên phải là vụ Lâm Đại lang, ba loại độc, đầu bếp Quách Lục.

Bên rìa bàn, một xấp mỏng thứ tư. Xấp này ta biết. Vụ Trương phu nhân, năm năm trước. Hồ sơ giải phẫu ta viết đêm đào mộ, mực còn mới.

Bốn xấp. Bốn ô trên bảng.

Ta cầm bút mực đỏ Lục để sẵn. Cán trúc mài mòn. Đầu bút đã chấm sẵn son đỏ. Trong Đại lý tự, son đỏ chỉ dùng cho phán quyết cuối và cho đường dẫn giữa hai bằng chứng. Hôm nay ta dùng cho đường dẫn.

Ta đến trước bảng.

Ô nô tì, ta viết dưới chữ đầu: diêm thổ, tem Trương phủ.

Ô trẻ em, ta viết: sổ Đường Thanh, khách T. Nguyên C.

Ô phú thương, ta viết: ba loại độc, đầu bếp Quách Lục do Trương Nhị Lang ép.

Ô phu nhân, ta viết: xương cổ nứt, móng tay dài, bị nhốt.

Bốn dòng chữ đỏ trên nền gỗ đào vàng. Xa nhìn như bốn giọt máu chưa khô.

Ta lùi lại nửa bước. Ngước lên. Nét chấm của bốn ô, ta kẻ bốn đường thẳng cong về giữa bảng. Ở chính giữa, ta viết ba chữ, chậm, đè bút cho mực thấm:

Trương Nguyên Chương.

Ba chữ ấy dừng trên gỗ như dấu son đóng vào một tờ án. Không xoá được nữa.

Lục Vô Ngạn không ngước lên khi ta viết. Nhưng khi ta buông bút, hắn thở ra một hơi rất khẽ, hơi ấy chạy qua án thư, làm ba giọt nước trong nghiên mực đỏ rung nửa nhịp.

“Ba năm trước,” hắn nói. Giọng thấp. “Cha ta chết. Ta chỉ viết được hai chữ. T. Nguyên. Chưa viết được chữ Chương.”

Ta không đáp. Ta biết. Đêm ch mười tám, hắn đã lấy ra tập hồ sơ điều tra ba năm của mình. Trong đó, ba chữ Trương Nguyên C dừng lại giữa dòng, chữ thứ ba mới ghi một nét ngang.

Hôm nay, ba chữ đầy đủ được ta viết bằng mực đỏ trên bảng gỗ đào.

Hắn đứng dậy. Đi vòng qua án, đến bên ta. Đứng cách nửa bước. Nhìn bảng.

“Bây giờ có đủ.”

“Chưa đủ,” ta đáp.

Hắn ngước sang.

“Đại nhân dâng bốn ô này lên vua, vua đọc, tin. Nhưng triều còn ba mươi quan cùng phe Trương. Họ sẽ đọc cùng bảng, tìm một chỗ để bẻ. Nếu bẻ được một ô, cả bảng đổ. Cần thêm nhân chứng sống.”

Ta chấm son đỏ, viết thêm bên rìa bảng, chữ nhỏ:

Nhân chứng sống: đầu bếp Quách Lục, Trương Nhị Lang, Đường Thanh (đã tử), Vương Kiêu (đã tử).

Ta ngưng nửa nhịp.

“Ba người còn sống. Ba người đủ.”

Lục Vô Ngạn không nói. Hắn nhìn bảng. Tay trái xoay hộ oản gỗ đen ba vòng chậm, dừng. Rồi hắn quay sang án, cầm một tờ thiệp đỏ lên. Thiệp đã mở sẵn.

“Vương Ngự sử cho người báo. Hôm qua ngài đã dâng ba xấp và ghi chép Trương phu nhân lên vua. Vua đọc từ dậu đến hợi. Không phê, không phạt.”

“Không phê không phạt,” ta lặp lại. “Có nghĩa vua đang cân.”

“Ngài cân bốn ô của ngươi với ba mươi lời của phe Trương,” Lục Vô Ngạn nói. “Vua Đại Tống là người thận trọng. Vua sẽ đợi thêm.”

“Đợi cái gì?”

“Đợi một sai lầm của Trương.”

Ta gật.

Trương Nguyên Chương giữ chức Lễ bộ thượng thư mười lăm năm. Trong mười lăm năm ấy, hắn chưa từng đứng ra làm một việc mà bàn tay lộ ra. Mọi việc hắn làm đều qua em trai Trương Nhị Lang, qua Đường Thanh, qua Vương Kiêu, qua đầu bếp Quách Lục. Hắn ngồi trong triều, uống trà, cười. Bàn tay hắn không dây máu.

Vua cần một vết máu trên bàn tay Trương. Ta cần một sai lầm của Trương. Cả hai chờ.

Ta đặt bút son đỏ vào nghiên. Bút đầu son còn đọng, một giọt rơi xuống nghiên, ta thấy rõ.

“Đại nhân. Trương biết vụ Trương phu nhân đã bị đào lại?”

Lục Vô Ngạn im nửa nhịp.

“Biết.”

“Từ khi nào?”

“Từ khi Vương Ngự sử dâng lên vua. Trong triều có tai của Trương.”

Ta thở ra.

“Vậy hôm nay Trương đã bắt đầu phản đòn.”

“Ừ.”

Ta nhìn ra cửa sổ. Sương ngoài đá xanh đang tan chậm. Trong sân, một con quạ đậu trên mái ngói phường Nam, kêu một tiếng khàn, rồi bay đi.

“Cẩn tắc vô ưu,” ta nói khẽ. “Đêm nay tương phủ nên tăng thị vệ.”

Lục Vô Ngạn không đáp. Nhưng khi ta ra khỏi thư phòng, đi qua sân, ta thấy hắn đã cầm bút đen, viết một tờ lệnh, gấp lại, gọi thị vệ trưởng. Ta không nghe được nội dung. Ta không cần nghe.


Buổi trưa, ta ra khỏi tương phủ.

Trong hộp bạc Bích Đào giữ, thuốc cho mẹ nuôi đã hết. Ta đi mua ở tiệm thuốc phường Nam, chỗ ta quen từ trước. Mặc áo bố xám thư đồng cũ. Dây vải giấu ngực bó chặt. Tóc buộc cao. Không xức nước hoa trầm hôm nay. Ta muốn đi lặng.

Ra khỏi cửa Đông tương phủ, ta rẽ trái. Đi ba mươi bước xuống ngõ đá.

Đến khúc quẹo đầu tiên, ta thấy một người.

Một người bán hàng rong. Gánh trên vai hai thúng, thúng trước có hạt dẻ rang, thúng sau có mía tím. Áo vải màu chàm, quai gánh tre. Người này đứng ở góc, không rao, chỉ nhìn về phía cửa Đông tương phủ.

Ta đi qua. Không nhìn thẳng. Nhưng ta ghi nhớ.

Một: người này không rao. Người bán rong bình thường rao suốt, không rao thì không bán được. Người không rao đứng ba mươi bước một chỗ đợi việc khác.

Hai: hạt dẻ trong thúng đã nguội. Lớp trên đã se lại, không còn hơi nóng. Người bán rong không để hạt dẻ nguội quá nửa canh giờ. Đây là hạt dẻ để trang trí, không phải để bán.

Ba: quai gánh tre ướt. Trời sáng nay không mưa, ngõ này không có vũng nước. Quai gánh ướt là do người này đứng trong ngõ có sương đọng lâu.

Ta đi tiếp mười bước. Rẽ phải qua ngõ nhỏ dẫn ra phường Nam.

Đến đầu phường Nam, ta thấy người thứ hai.

Người bán quẻ. Ngồi trên chiếu cói. Trước mặt có ba đồng xu và một ống trúc quẻ. Áo lam. Râu ngắn. Đứng dậy khi ta đi qua, chào bằng giọng miền Đông.

“Công tử, gieo một quẻ không?”

Ta lắc đầu, đi tiếp. Nhưng ta ghi nhớ.

Một: giọng miền Đông. Trong phường Nam Biện Kinh, thầy bói bản địa dùng giọng Trung Nguyên. Giọng Đông là giọng khách lạ, ba năm gần đây ít xuất hiện ở đây. Nếu là thầy bói thật, đã đổi giọng để dễ khách.

Hai: chiếu cói mới. Cạnh chiếu chưa mòn, sợi cói còn xanh. Chiếu này mua chưa quá một tuần. Thầy bói bản địa dùng chiếu cũ, cạnh mòn, sợi xám.

Ba: bàn tay. Ngón cái phải của người này có chỗ chai tròn ở đốt giữa, không phải chỗ chai của người xoay đồng xu. Chỗ chai đó ta thấy trên tay thị vệ Đại lý tự, chỗ tì cán kiếm.

Người này không phải thầy bói.

Ta đi tiếp. Rẽ vào tiệm thuốc phường Nam. Mua ba vị: đương quy, hoàng kỳ, bạch truật. Lão chủ tiệm cân, gói, đưa cho ta trong ba gói giấy dầu. Ta trả tiền, cúi chào, ra.

Ra khỏi tiệm, ta đi vòng đường khác. Qua ngã tư phường Nam. Ghé tiệm ngân trang của Diệp Nương.

Diệp Nương đang khảm bạc. Ngước lên khi ta vào.

“Yên.”

“Diệp tỷ.”

Ta ngồi xuống ghế đối diện tỷ. Không cởi áo khoác. Nói khẽ.

“Có hai người theo ta từ tương phủ. Một bán hạt dẻ ở ngõ cửa Đông, một bói quẻ đầu phường Nam. Đều mới đến trong tuần.”

Diệp Nương đặt cây kim khảm xuống.

“Ngươi chắc?”

“Chắc. Hạt dẻ nguội. Chiếu cói xanh. Bàn tay quen cán kiếm.”

Diệp Nương im nửa nhịp.

“Ta cho Bích Đào theo dõi ngầm cả hai. Ba ngày nữa có tin, gửi qua khách đặt hàng.”

Ta gật. Đây là mật ước ba năm ta và Diệp Nương đã quen. Diệp Nương là mắt của ta ngoài Đại lý tự. Tiệm ngân trang của tỷ là chỗ khách vào ra đủ tầng lớp, nên tin dễ đi và dễ đến.

Ta đứng dậy. Tỷ đưa ta một gói nhỏ, giấy dầu vàng, buộc dây gai.

“Cái này Bích Đào bảo đưa ngươi khi ngươi ghé. Là kẹp tóc bạc mới. Ngươi cầm về, tuỳ ngươi.”

Ta cầm. Không mở gói. Chào tỷ. Ra.

Trên đường về, ta không đi lại ngõ cửa Đông. Ta đi vòng cửa Tây, qua sân sau tương phủ, vào bằng lối bí mật của thị vệ.


Về đến thư phòng Lục Vô Ngạn, ta gõ cửa hai tiếng.

“Vào.”

Ta vào. Đưa gói giấy dầu vàng cho hắn. Không phải kẹp tóc.

Trong gói, ta viết trên mảnh vải trắng bằng bút chì than: Hai người, bán hạt dẻ và bói quẻ, đứng ở ngõ cửa Đông và đầu phường Nam. Không phải nghề. Diệp Nương đang cho theo dõi.

Lục Vô Ngạn đọc. Im ba nhịp. Rồi đưa mảnh vải qua ngọn đèn dầu, đốt. Vải cháy chậm, tro rơi xuống một chiếc đĩa đồng đặt sẵn bên án. Hắn dùng ngón cái nghiền tro thành bột mịn.

“Ta đã cho thị vệ ngầm dò,” hắn nói. “Từ sáng. Đã thấy ba người, không phải hai.”

“Ba?”

“Người thứ ba là một đứa trẻ. Bé gái, chừng mười tuổi, đứng bán rau muống dại ở góc chợ giữa. Áo vá, chân trần. Nhưng ăn no. Không phải trẻ ăn xin. Người có mắt sẽ để ý.”

Ta im nửa nhịp.

Ba người. Ba tầng. Người lớn ngoài ngõ, người lớn trong phường, trẻ em ở chợ. Ba tầng theo dõi cùng một tương phủ.

“Trương Nhị Lang?” ta hỏi.

“Ta nghi. Chưa chắc.”

Lục Vô Ngạn cầm bút đen, viết lên bảng gỗ đào, bên cạnh dòng chữ ta viết ban sáng, một chữ nhỏ:

Ba mắt.

Ta gật.

“Đại nhân định làm gì?”

“Không đuổi,” hắn đáp. “Đuổi ba người, Trương biết ta biết. Trương sẽ đổi ba mắt khác, kín hơn, ta khó tìm. Giữ nguyên trạng. Cho thị vệ ngầm quan sát. Đợi ba mắt lộ dây.”

Ta gật một lần nữa.

Chiều xuống. Ánh nắng cuối ngày hắt qua song gỗ, chiếu lên bảng, làm bốn dòng chữ son đỏ như bốn giọt máu chưa khô càng đỏ hơn. Tro vải trắng vẫn nằm im trên đĩa đồng.

Cùng lúc đó, thị vệ trưởng gõ cửa. Vào. Đưa Lục Vô Ngạn một tấm thiếp lụa vàng.

“Trương Nhị Lang gửi. Mời đại nhân đến phủ đàm chuyện, đêm mai canh hai.”

Lục Vô Ngạn nhận thiếp. Không mở ngay. Nhìn sợi dây buộc thiếp. Sợi dây bằng chỉ vàng, ba nút.

“Ba nút,” hắn nói khẽ. “Là ám hiệu quan hệ thân. Trương Nhị Lang muốn tỏ ra hắn với ta còn giao tình.”

Ta gật.

“Đại nhân định trả lời?”

“Trả lời.”

Lục Vô Ngạn cầm bút đen. Viết vào một tờ thiếp lụa xám, không phải vàng.

Đại lý tự đêm nay bận vụ án. Ba ngày nữa nếu rảnh, xin đến bái phủ.

Hai câu. Không nhận. Không từ. Chỉ trì hoãn. Trong triều, câu trả lời không rõ là câu trả lời khôn nhất. Ai đọc cũng phải đoán.

Hắn gấp thiếp. Không thắt nút. Đưa thị vệ trưởng.

“Gửi. Ngay bây giờ.”

Thị vệ nhận, ra.

Ta ngồi xuống ghế đối diện Lục Vô Ngạn. Trong lòng, ta ghép ba chi tiết:

Ba việc, cùng một ngày. Trương đang khép vòng.

Gậy ông đập lưng ông, ta nghĩ. Nhưng chưa đủ thời gian. Nếu Trương phản đòn nhanh hơn ta ghép, gậy sẽ đập lưng ta.

Ta ngước lên.

“Đại nhân.”

“Nói.”

“Ta linh cảm đêm nay có việc.”

Lục Vô Ngạn nhìn ta. Mắt hắn không đổi. Nhưng hắn gật một cái rất nhẹ.

“Ta cũng linh cảm.”

Hắn đưa ta một cây dao. Không phải dao trổ ngỗ tác ta hay dùng. Là một cây đoản đao thép, cán bọc da, dài chừng một thước, sắc mảnh.

“Đêm nay ngươi để cây này dưới gối. Nếu nghe tiếng, không tự chống. Chạy ra hành lang. Thị vệ ta cho dàn góc mái đông và tây từ đầu canh một. Ngươi chỉ cần chạy ra được đến hành lang là an toàn.”

Ta cầm dao. Cán da còn ấm hơi tay hắn.

“Vâng.”

Ta ra khỏi thư phòng. Trời đã tối. Sương xuống dày trên đá xanh. Ta đi qua sân, về khu phòng riêng của ta.


Đêm mùng mười. Trăng khuyết.

Ta không thay áo ngủ. Ta mặc áo đen bó cổ, tóc buộc thấp, áo bó chân. Đoản đao Lục Vô Ngạn đưa, ta đặt dưới gối. Bên cạnh gối, ta để thêm dao trổ nhỏ, cán trúc.

Ta thổi tắt đèn dầu. Nhưng ta không nằm.

Ta ngồi bên cửa sổ. Không mở, chỉ để một khe hẹp cho gió lọt vào.

Trong bóng tối, ta nghe tiếng đêm tương phủ. Chuông đồng canh một điểm. Xa xa, tiếng bước tuần của thị vệ mái đông. Nhẹ, đều. Không phải bước lạ.

Canh hai điểm. Ta chưa nhắm mắt.

Canh ba điểm.

Đến canh ba đủ nửa, ta nghe.

Một tiếng động rất nhỏ, ở góc mái phía tây. Không phải bước chân thị vệ. Bước thị vệ đều nhịp. Tiếng này là tiếng của một người đi lệch, cố tránh mối ngói xô. Đi rồi dừng, rồi đi.

Ta không phải mèo. Không phải quạ. Không phải sóc.

Ta rút đoản đao khỏi gối. Đứng dậy. Không mở cửa lớn. Ta đi qua khe cửa hông, nhẹ như một chiếc lá.

Hành lang ngoài, ánh nến lồng đèn vàng lay động vì gió đêm. Đá xanh dưới chân lạnh. Ta bước ba bước, dừng.

Trước phòng Lục Vô Ngạn, hắn đã đứng.

Áo đen. Tay cầm trường kiếm. Kiếm chưa rút khỏi vỏ. Nhưng ngón tay hắn đặt lên chuôi, sẵn.

Hắn ngước nhìn ta. Không nói. Chỉ chỉ tay về phía góc mái tây.

Ta gật.

Chúng ta đi song song, không tiếng bước. Đến chân cột hành lang góc tây, hắn ra hiệu ta dừng. Ngước lên.

Trên mái ngói, một bóng đen đang lom khom. Mặc áo dạ hành, khăn che nửa mặt. Tay cầm ống trúc. Ống trúc, ta biết. Ống trúc để thổi phi tiêu.

Người này định thổi phi tiêu vào phòng Lục Vô Ngạn qua khe song gỗ.

Lục Vô Ngạn không ra lệnh miệng. Hắn đưa hai ngón tay lên miệng, khẽ huýt một tiếng ngắn, cao. Tiếng ấy như tiếng chim đêm đầu mùa xuân. Không phải người thường nghe được là hiệu lệnh.

Trên mái đông, ba bóng thị vệ chạy nhẹ qua. Trên mái tây, hai bóng khác đã dàn sẵn từ đầu canh một, đợi hiệu. Cả năm người khép vòng, không tiếng.

Người đột nhập nghe. Ngước lên. Rút phi tiêu định thổi loạn.

Muộn.

Thị vệ mái tây nhảy xuống từ trên. Đè. Bẻ tay. Ống trúc rơi xuống ngói, lăn một vòng, dừng ở khe. Phi tiêu chưa được thổi ra.

Ba nhịp thở. Xong.

Lục Vô Ngạn ra hiệu. Thị vệ khiêng người đột nhập xuống sân sau tương phủ. Không đưa qua sân chính. Không đưa qua cửa lớn. Bí mật.

Ta đi theo hắn. Đoản đao vẫn cầm trong tay, chưa nhét vào vỏ.

Sân sau, ánh đèn dầu vàng thắp một cây. Người đột nhập bị đặt quỳ giữa sân, tay bị trói sau lưng bằng dây gai. Khăn che mặt đã bị lột. Là một người đàn ông chừng ba mươi tuổi, mặt nhăn, mũi gãy, chân mày trái có vết sẹo dọc.

Vết sẹo dọc.

Ta ghi nhớ.

Lục Vô Ngạn đứng trước hắn. Không hỏi ngay. Chỉ nhìn.

“Ai sai?”

Người đột nhập không đáp. Ngậm miệng. Mắt hắn đảo qua bên phải, không dám nhìn thẳng Lục Vô Ngạn.

Lục Vô Ngạn không nổi giận. Không đánh. Chỉ ngồi xổm xuống, đưa mắt lên ngang tầm mắt kẻ đột nhập.

“Ngươi có hai lựa chọn. Một, nói tên người sai. Ta ghi tội cho ngươi là ‘đột nhập tương phủ vô ý’, án tù ba năm. Hai, không nói. Ta ghi tội cho ngươi là ‘ám sát Đại lý tự thiếu khanh’, án tử. Ngươi có nửa canh giờ chọn.”

Người đột nhập im nửa nhịp.

Ta đứng bên, không nói. Ta nhìn vết sẹo dọc trên chân mày trái hắn. Vết sẹo ấy ta đã thấy ở đâu đó. Ta lục trí nhớ.

Ba tuần trước. Vụ điều tra Trương phu nhân. Ta ghé phủ Trương Nhị Lang một lần, giả làm ngỗ tác đến khám xác một con hầu bệnh chết. Ở cổng hậu phủ Trương Nhị Lang, ta thấy một tên gác cổng, chân mày trái có vết sẹo dọc, đứng chống giáo.

Ta ngước lên Lục Vô Ngạn.

“Đại nhân. Hắn là gác cổng hậu phủ Trương Nhị Lang. Ta thấy ba tuần trước.”

Người đột nhập nhìn ta. Mắt hắn thay đổi. Sợ. Không phải sợ ta. Sợ Trương Nhị Lang.

Lục Vô Ngạn cười một nét rất nhẹ. Không phải cười vui.

“Ngươi thấy chưa. Ngỗ tác của ta có mắt tốt hơn phi tiêu của ngươi. Ngươi không cần chọn nữa. Ta đã có tên.”

Người đột nhập cúi đầu. Nửa canh giờ chưa cần đợi. Hắn khai.

“Tiểu nhân là Đỗ Ngũ, gác cổng phủ Trương Nhị Lang tam công tử. Đêm nay Nhị lang sai đến tương phủ Lục đại nhân, thổi phi tiêu tẩm mật cà, làm Lục đại nhân mê sảng ba ngày. Không có ý sát.”

“Mật cà,” Lục Vô Ngạn lặp lại. Giọng thấp hơn.

Ta ngước lên hắn.

Mật cà. Chính là một trong ba loại độc ta tìm được trong dạ dày phú thương Lâm Đại lang. Cùng nguồn dược. Cùng một tay bấm.

Ta cầm bút son đỏ từ trong tay áo. Ta đã mang sẵn khi ra khỏi phòng, biết đêm nay có việc phải ghi. Ngồi xuống bậc thềm sân sau, mở sổ tay, chấm bút son.

Đêm mùng mười, canh ba đủ nửa. Người đột nhập tương phủ Lục: Đỗ Ngũ, gác cổng phủ Trương Nhị Lang tam công tử. Phi tiêu tẩm mật cà. Cùng nguồn dược vụ Lâm Đại lang.

Ta đóng sổ.

Trong tương phủ Lục đêm nay, sương xuống trên đá xanh sân sau, đá lạnh dưới đầu gối kẻ đột nhập, tro trầm hương đêm qua đã tan trong đế đồng phòng ngỗ tác của ta, và một dấu son đỏ vừa được chấm vào bảng gỗ đào trong thư phòng.

Bảng gỗ giờ có thêm bốn chữ mới, ta sẽ viết sáng mai bằng bút mực đỏ:

Trương Nhị Lang. Phi tiêu. Mật cà. Đêm mười.

Kẻ đứng sau đầu bếp Quách Lục, đứng sau Đường Thanh, đứng sau Vương Kiêu, hôm nay bắt đầu để lại dấu chân của em trai mình. Trương Nhị Lang không phải Trương Nguyên Chương. Nhưng đường từ Trương Nhị Lang đến Trương Nguyên Chương chỉ có một bước.

Vua đang đợi một sai lầm.

Đêm nay, sai lầm đã bắt đầu.

Lục Vô Ngạn ra hiệu thị vệ đưa Đỗ Ngũ vào ngục ngầm tương phủ. Không ngục Đại lý tự. Ngục ngầm ở đây kín hơn, không có tai của Trương. Sáng mai hắn sẽ được đưa ra, sau khi Vương Ngự sử đã có mặt để làm chứng.

Sân sau còn lại ta và hắn.

Sương đã ngừng rơi. Đèn dầu trong tay thị vệ cuối cùng khuất sau cửa gỗ. Chỉ còn ánh trăng khuyết hắt lên nửa mái ngói tây, bạc mỏng như một mảnh lụa cha ta để lại trong quạt.

Ta đứng dậy khỏi bậc thềm. Sổ tay và bút son ta nhét vào tay áo. Đoản đao Lục Vô Ngạn đưa, ta cầm ngược, cán chìa ra.

Ta đưa lại hắn.

“Đêm nay không dùng đến,” ta nói.

Lục Vô Ngạn không nhận.

“Ngươi giữ. Không phải đêm nay. Là đêm mai, đêm kia. Từ nay ngươi giữ.”

Ta cầm lại. Không nói.

Hắn ngước lên trăng khuyết. Ngực áo hắn phập phồng khẽ. Ta biết hắn cũng vừa thở phào. Bình chân như vại trước thị vệ, nhưng trong lòng hắn vẫn là con người, không phải đá.

“Vào,” hắn nói. “Ngươi ngủ được thêm hai canh giờ.”

“Ta không ngủ.”

“Ta biết. Vậy ngươi ngồi.”

Ta gật. Cả hai đi ngược vào tương phủ. Không đi song song. Ta đi trước, hắn đi sau, cách ba bước, như trong ngày.

Đến chân bậc thềm trước cửa phòng ta, hắn dừng.

“Yên,” hắn nói. Không phải “Thẩm huynh”, không phải “hạ quan”, không phải “ngươi”. Chỉ một chữ Yên. Lần đầu.

Ta quay lại.

Trong ánh trăng khuyết, mắt hắn không nhìn ta. Nhìn xuống bậc đá. Tay trái xoay hộ oản gỗ đen nửa vòng, dừng.

“Từ đêm nay ta đứng trước cửa ngươi. Không phải trong. Chỉ ngoài.”

Ta hiểu. Không phải hắn muốn vào. Là hắn muốn nàng biết bên ngoài có người canh.

Trắng đen phải rõ, có những điều nói ra thì hỏng, không nói ra thì đủ.

Ta cúi đầu một cái rất nhẹ. Mở cửa phòng. Vào. Đóng lại.

Ngồi trong bóng tối, ta nghe tiếng bước hắn không xa. Không đi. Không lại. Đứng.

Bên ngoài, gió khẽ. Sương đã hết. Trong tay ta, đoản đao cán da còn ấm hơi tay Lục Vô Ngạn. Ta đặt đao ngang trên đùi. Ngồi thẳng.

Trong đầu ta, bảng gỗ đào bốn ô son đỏ hiện ra rõ như ban ngày. Giữa bảng, ba chữ Trương Nguyên Chương đứng im. Bên cạnh, ta thấy sáng mai ta sẽ viết thêm một ô thứ năm, chưa kịp kẻ khung:

Trương Nhị Lang.

Kẻ giết cha ta, kẻ giết cha Lục Vô Ngạn, hôm nay đã sai em trai đến tương phủ đêm mùng mười, thổi phi tiêu tẩm mật cà qua khe song gỗ. Một mắt xích, một mối dây, một dấu chân.

Cha ơi, ta khẽ nói trong lòng. Ta đã kéo được một sợi dây đến gần cổ hắn. Chưa siết. Nhưng sợi dây đã có.

Ta nhắm mắt.

Bên ngoài cửa phòng, tiếng bước Lục Vô Ngạn không thay đổi vị trí. Ta biết hắn đứng đấy suốt canh tư, canh năm, cho đến khi chuông đồng điểm sáng.

Đêm mùng mười. Tương phủ Lục. Sương đã tan trên đá xanh. Trên mái ngói tây, một chiếc phi tiêu chưa được thổi ra vẫn nằm im dưới khe. Đợi bàn tay ta sáng mai nhặt lên, đưa vào chậu sứ trắng, thử độc.

Ta thở ra một hơi rất chậm.

Đêm nay ta không ngủ. Nhưng ta không mệt.