Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 27: Vua Ra Chỉ Điều Tra

Sáng mùng tám, tháng mười một. Trời còn tối tro.

Ta ngồi ở bàn gỗ nhỏ đặt sát vách phía đông của thư phòng Lục Vô Ngạn, tay bưng một chén trà đã nguội. Trà thứ ba của canh năm, nguội đúng độ ta có thể uống mà không phải nhăn mặt. Bên ngoài song cửa, sương xuống dày. Vườn tương phủ chỉ còn thấy hai chấm đèn lồng ở hai cột đá.

Trên án thư, chàng đặt ngay ngắn bốn xấp giấy bó dây gai và hai trang giấy rời.

Xấp thứ nhất: hồ sơ vụ nô tì trong giếng Vương phủ. Tem diêm thổ khoét từ vò, dấu triện Trương phủ, ép cạnh trang cuối cùng.

Xấp thứ hai: hồ sơ vụ trẻ em cầu Biện Hà. Sổ giao dịch Đường Y Quán chép lại nguyên văn, ba chữ T. Nguyên C. khoanh mực đỏ.

Xấp thứ ba: hồ sơ vụ phú thương Lâm Đại lang. Lời khai đầu bếp, ba chữ Trương Nhị Lang khoanh mực đỏ ở góc trên bên phải.

Xấp thứ tư: chàng viết đêm qua. Bằng chứng Trương Nguyên Chương giết vợ mình. Chi tiết đào mộ, sơ đồ vị trí quan tài, giải phẫu, ghi chú móng tay nạn nhân dài quá tự nhiên, ghi chú xương cổ nứt hai chỗ.

Hai trang giấy rời đặt bên cạnh, không bó vào xấp nào. Một trang chữ cha ta viết vội trước khi chết: T. N. C. Một trang trong hồ sơ chàng cất trong tủ khoá sắt của thư phòng: chép tay của cha chàng, cùng ba ký hiệu, thêm một chữ diêm rất mờ ở góc dưới.

Bốn xấp cộng hai trang. Chồng lên, cao đúng nửa bàn.

Ta nhìn núi giấy ấy như nhìn một bức tường sắp đổ. Ba năm cha ta chết oan trong bốn xấp giấy này. Ba năm cha chàng chết oan cũng trong bốn xấp giấy này. Kiếp trước ta lật giấy bệnh án, kiếp này ta lật giấy án tù. Nghề cầm giấy, dù ở đâu cũng nặng đầu ngón tay.

“Đủ chưa, đại nhân?” Ta hỏi. Trước ban ngày ta vẫn giữ nếp gọi đại nhân, dù trong thư phòng riêng chỉ có hai người.

Chàng không đáp ngay. Ngón trỏ chàng lần theo dây gai xấp thứ nhất, gõ nhẹ ba nhịp. Nhịp thứ ba dài hơn hai nhịp đầu, kiểu người có thói quen đếm mà không biết mình đang đếm.

“Đủ cho một tay như Vương Ngự sử,” chàng nói. “Ông ấy cần đọc ba canh. Sau đó ông ấy tự vào cung.”

Vương Chí Kính. Ngự sử triều Đại Tống. Người đã hẹn chàng trong tửu quán Vinh Thuận tháng trước, đặt điều kiện tìm bằng chứng Trương giết vợ mới đủ dám dâng vua. Ta đã đưa bằng chứng. Chàng đã tổng hợp. Đêm qua ông ấy hồi báo bằng một mảnh giấy khắc dấu son nhỏ bằng đồng xu, đặt trong ống trúc rỗng buộc chân bồ câu: “Ta chuẩn bị dâng. Chờ giờ mùng chín. Đừng ra khỏi phủ.”

“Hôm nay mùng tám.” Ta đặt chén trà xuống. Nước trà đã nguội hoàn toàn, đọng thành một vòng mờ trên đáy chén. “Ngày mai.”

“Ngày mai.”

Chàng đứng dậy, tay trái vịn cạnh án thư. Hộ oản gỗ đen của chàng chạm mặt gỗ một tiếng khô, như tro hương rơi khỏi bát.

Đứng lên rồi chàng không đi đâu. Chỉ đứng nhìn xuống ta, cách một cạnh bàn. Ánh đèn dầu đặt sát vách hắt ngang, chia mặt chàng thành hai nửa: một nửa vàng nhạt, một nửa chìm trong bóng. Nửa vàng nhạt nhìn ta như nhìn một xấp giấy nữa cần đọc. Nửa chìm bóng thì không nhìn gì, chỉ để đấy.

“Vô Y.” Chàng gọi ta bằng chữ Vô Y. Trong nhà chàng dùng chữ này thay tên. Kể từ đêm ta chủ động mở cửa nói ta là nữ, chàng bỏ luôn cách gọi Thẩm ngỗ tác.

“Chàng nói.”

“Nếu ngày mai vua tin, ngươi phải ra mặt. Không phải với danh Thẩm ngỗ tác. Mà với danh chứng nhân giải phẫu.”

Ta cụp mắt xuống. Chén trà trong tay ta hạ thấp thêm một chút, nương theo bàn.

“Danh nghĩa hạ quan còn là nam.”

“Ngày mai còn là.” Chàng đáp. “Sang tháng, ta không biết.”

Chàng bước ra khỏi bàn, đi về phía cửa sổ. Đứng bên cửa, ngón trái đặt lên khung gỗ, ngón phải nắm tay lỏng trong tay áo. Cách chàng đứng khi có chuyện chưa muốn để lộ. Ta biết cách đứng ấy.

“Đại nhân sợ hạ quan bị buộc tội tà thuật khi lộ.”

Chàng gật một cái. Rất khẽ.

“Ta sợ ngươi bị lôi ra trước cả trước khi vua ra chỉ.”

Ta đặt chén trà xuống hẳn. Nước còn lại trong chén sóng sánh, đọng lại yên như mặt nước đen của giếng phủ Vương.

“Trương Nguyên Chương.”

“Đúng.” Chàng quay lại nhìn ta. Nửa mặt vàng nhạt của chàng lúc này chuyển sang chìm bóng, nửa kia hiện ra. Cùng một khuôn mặt, đèn đổi phía. “Hắn không phải người đợi mình bị bắt. Hắn là người đi trước một nước.”

“Nghĩa là đêm nay hắn sẽ đánh ta hoặc chàng.”

“Không đánh chàng. Đánh ta chàng cũng chưa dám. Đánh ta, tội quá lớn. Đánh ngươi thì dễ hơn.”

Ta gật một cái. Trong lòng ta ghi thầm ba chữ tránh cửa sau. Rồi tự cười thầm, thấy mình vô lý. Ba tháng nay ta vẫn ra vào tương phủ bằng cửa sau. Ai lại tránh cửa mình đi.

“Vậy hạ quan sẽ ngồi yên trong tương phủ đến giờ vua ra chỉ.”

Chàng lắc đầu. “Không ngồi yên. Ngươi phải làm việc bình thường ở Đại lý tự. Nếu hôm nay ngươi ở nhà, hắn sẽ biết ngươi biết. Hắn sẽ chuyển bài.”

Ta nhìn chàng. Chàng nhìn ta lại. Ánh mắt đúng loại ánh mắt của hai kẻ đã chơi cờ với người thứ ba nhiều tháng, giờ vào nước cuối.

“Được.” Ta đứng dậy. “Hôm nay hạ quan đi phòng khám tử thi bình thường. Chàng đi triều. Đêm về, chàng cho hạ quan biết Vương Ngự sử đã trình chưa.”

Chàng gật.

Ta cầm áo choàng vải sồi đen quàng lên vai, buộc dây thắt lưng cho gọn. Trước khi ra cửa, ta ngoảnh lại.

“Đại nhân. Ba xấp giấy trên bàn: chàng cất vào tủ khoá sắt. Đừng để trên án thư. Đêm nay bất kể ai vào thư phòng, chàng cứ để họ thấy tay chàng đang viết cái khác.”

Chàng cười một cái rất nhẹ. Không phải cười vui, cười kiểu người thấy đồng minh biết việc.

“Ngươi đi cẩn thận.”

“Chàng cũng vậy.”

Ta ra khỏi thư phòng khi trời còn tối. Đi qua vườn, dưới hai cột đá còn đèn lồng. Sương ướt vai áo. Đèn lồng vàng đục soi xuống mảnh gạch xanh dưới chân ta một vũng vàng nhỏ như mắt cá.

Đại lý tự cách tương phủ Lục nửa canh giờ đi bộ. Ta đi bộ. Không cưỡi. Kiếp trước ta cũng đi bộ đi làm, dù bệnh viện cách nhà ba khu phố. Đi bộ để đầu chạy.

Đầu ta đang chạy một tên: Trương Nguyên Chương.

Hắn sẽ đánh cách nào?

Danh sách trong đầu ta:

Một, dùng độc. Kiếp trước hoặc kiếp này đều dễ nhất. Nhưng phải qua tay ai đó trong tương phủ Lục. Người trong tương phủ đã được Lục sàng lọc, xác suất thấp.

Hai, dùng thích khách. Đã dùng đêm mùng mười tháng trước, không thành, một tên chạy. Đêm ấy đã cho hắn biết tương phủ có phòng bị. Xác suất trung bình.

Ba, dùng vu cáo. Đây là cách khó nhất về mặt chuẩn bị, dễ nhất về hậu quả. Ta là ngỗ tác nam, danh nghĩa mảnh dẻ. Đâm ta một tội, ta không có gia thế đỡ. Kiếp trước ta từng đọc một tin: bác sĩ pháp y ở Sài Gòn bị buộc tội bán thông tin tử thi, chỉ vì đối thủ muốn hạ. Tin ấy làm ta lạnh gáy hơn tin thân nhân đâm mình.

Ta cúi đầu, đi tiếp.

Vu cáo. Xác suất cao.

Đại lý tự sáng mùng tám. Sân trước đã có ba xác chờ khám: một xác nam bị đâm cạnh mắt phải, một xác nữ chết cháy phường Đông, một xác trẻ chưa xác định. Bích Đào đã đến từ trước, đang xếp dụng cụ giải phẫu trên bàn gỗ. Con bé thấy ta, đặt kìm xuống, chắp tay:

“Sư phụ.”

“Hôm nay ba xác,” ta nói. “Bắt đầu với xác trẻ. Xác trẻ sớm hôi.”

Bích Đào gật, không hỏi thêm.

Ta xức nước hoa hương trầm sau vành tai, cổ tay, hai bên khuỷu tay. Thói quen giữ từ ngày thứ ba làm việc. Không phải sợ mùi tử thi, là sợ mùi ám vào tóc rồi mang về nhà.

Cả buổi sáng ta khám ba xác, viết ba bản báo cáo. Không có gì lạ. Xác nam bị đâm là án bang phái, kẻ giết đã ra tự thú. Xác nữ chết cháy là tai nạn, dầu đèn đổ. Xác trẻ chết vì đói và lạnh, tìm được thân nhân trong buổi.

Đến giờ ngọ, ta ăn cơm cùng Bích Đào tại phòng nhỏ sau phòng khám. Cơm chỉ có canh cải và trứng vịt kho. Bích Đào ăn nhanh, ta ăn chậm. Con bé nhìn ta, hỏi:

“Sư phụ hôm nay hình như khác.”

“Khác thế nào?”

“Không nói chuyện. Bình thường sư phụ nói giữa hai miếng cơm.”

Ta cười một cái. “Ăn đi. Nói làm nghẹn.”

Bích Đào không hỏi nữa. Nhưng con bé ăn xong, đứng dậy, ra sân sau nhìn trời một lúc rồi quay vào. Kiểu người đã sống trong tiệm ngân trang của mẹ, mắt bén.

“Sư phụ. Sáng nay ở cửa Đại lý tự có hai người lạ đứng ngoài. Đứng đúng chỗ khách hết nhìn được. Mặc áo vải xám. Không phải sai dịch.”

Ta ngẩng lên. Đặt đũa xuống.

“Bao lâu rồi?”

“Từ lúc sư phụ vào. Bích Đào ra lấy nước hai lần, cả hai lần đều thấy.”

Ta gật. “Cảm ơn.”

Bích Đào chắp tay. Không hỏi thêm câu nào. Ta để ý con bé chưa từng hỏi câu nào không cần. Con gái Diệp Nương học được ba năm phường Nam nói ít làm nhiều.

Buổi chiều ta ngồi trong phòng viết bản báo cáo cuối cùng. Bút mực đỏ ta không dùng, chỉ dùng mực đen. Mực đỏ ta để riêng, chỉ dùng khi khoanh manh mối chính. Hôm nay không có manh mối chính, có ba xác đã kết. Ta để mực đỏ trong hộp, nắp đóng.

Chiều muộn, khi đèn dầu bắt đầu thắp, ta cất báo cáo, rửa tay bằng nước tro và giấm loãng, mặc áo choàng, ra khỏi Đại lý tự.

Đến cửa, ta cố ý nhìn nhanh sang bên phải. Hai người áo vải xám đã đi. Đổi ca hoặc đổi vị trí. Ta không biết, không cần biết.

Đường về tương phủ, ta đi lối chính. Không đi cửa sau. Ai đã theo dõi mình cả ngày, đi cửa sau chỉ càng tự lộ mình biết. Đi cửa chính, mỉm cười gật đầu chào lính giữ cổng, cứ như một ngày bình thường.

Vào tương phủ, quản gia già Trịnh bá đón ta.

“Thẩm ngỗ tác. Lục đại nhân chưa về triều xong. Cụ có dặn nếu ngươi về trước, ngươi ăn cơm trước, để cụ khỏi phải chờ.”

Ta gật. “Cảm tạ Trịnh bá.”

Ăn cơm một mình trong phòng nhỏ. Cơm đơn giản: canh, rau, thịt kho. Ta ăn nhanh. Ăn xong xuống nhà tắm rửa qua mặt, thay áo trong. Rồi lên thư phòng của chàng. Chàng đưa ta chìa khoá thư phòng sau đêm ta chủ động lộ, phòng khoá bên trong, ta có thể ngồi đó chờ.

Ta ngồi trên ghế trúc, nhìn ra vườn. Vườn tương phủ đêm mùng tám tháng mười một, sương xuống chuyển thành sương muối, đọng thành hạt trên lá tùng. Trong phòng đèn dầu vàng ấm. Ngoài phòng bóng tối xanh xám. Hai màu chia rõ ở khung cửa gỗ.

Nửa canh giờ.

Một canh giờ.

Chàng chưa về.

Ta bắt đầu thấy không ổn. Không phải bồn chồn kiểu thiếu nữ. Là bồn chồn kiểu người đã đánh cờ nhiều năm, nhìn thấy đối thủ chưa động mà biết đối thủ đang gài quân.

Ta đứng dậy, kéo chốt cửa, ra hành lang.

“Trịnh bá.”

Quản gia già chạy tới, tay cầm đèn dầu treo dây đồng. “Thẩm ngỗ tác.”

“Lục đại nhân có tin gì về không?”

“Chưa. Bình thường giờ này cụ đã về. Đêm nay chậm, chắc triều có việc.”

Ta gật. Định quay lại. Trịnh bá gọi thêm.

“À, Thẩm ngỗ tác. Đêm nay có một khách đến xin gặp cụ, gọi đại nhân, hạ quan bảo cụ chưa về, khách xin để lại thư. Thư đặt trong hòm ở phòng khách phía tây.”

“Khách nào?”

“Không nói tên. Áo vải xám. Không phải sai dịch.”

Ta gật. Vẫn giữ mặt bình thường.

“Cảm tạ Trịnh bá. Đêm nay hạ quan sẽ ngồi thư phòng chờ. Nếu cụ về, xin báo hạ quan.”

Trịnh bá cúi đầu, xách đèn đi.

Ta quay vào thư phòng. Đóng chốt cửa. Nhìn ra vườn một lần nữa. Đèn lồng trong vườn đã tắt hai cái, chỉ còn một cái đầu cổng. Có ai đó tắt đèn. Không phải gió. Đêm nay không có gió.

Ta ngồi xuống án thư của chàng. Không mở tủ khoá sắt. Chỉ mở ngăn kéo bàn, lấy một tờ giấy trắng, một cây bút mực đen, viết ba dòng ngắn.

Cửa sau tương phủ có kẻ theo dõi. Ba đèn lồng vườn tắt vô cớ. Khách áo vải xám để thư trong hòm phòng khách phía tây.

Ta gấp giấy, giấu trong tay áo. Nếu chàng về, ta đưa. Nếu chàng không về, ta tự ra khỏi tương phủ trước canh ba.

Đúng lúc ấy, ngoài hành lang có tiếng chân chạy.

Không phải chân chàng. Chàng đi rất đều, kể cả khi vội. Đây là chân của Trịnh bá.

Ta mở chốt cửa.

Trịnh bá đứng đó, mặt xanh dưới đèn dầu.

“Thẩm ngỗ tác. Bên vườn phía đông. Có xác.”

Ta lặng một nhịp. Chỉ một nhịp.

“Xác ai?”

“Không biết. Áo quan. Ngũ phẩm hoặc lục phẩm nhìn ngoài. Nằm bên cạnh hòn giả sơn. Người làm vườn đi thắp lại đèn thấy.”

“Ai đã chạm vào?”

“Chưa ai. Cụ dặn hạ quan bất cứ xác nào đều báo Thẩm ngỗ tác trước, hạ quan chỉ dám gọi ngài.”

Ta gật một cái rất chậm. Trong đầu ta ba chữ đến rồi.

“Trịnh bá. Cho hạ quan mượn đèn. Ai đi báo trưởng vệ, ai đi báo Lục đại nhân, ai canh cửa phòng khách phía tây không cho ai mở hòm. Hạ quan đi xem xác.”

Trịnh bá gật, chạy đi.

Ta cầm đèn dầu, đi theo hành lang ra vườn phía đông.

Vườn phía đông tương phủ nhỏ hơn vườn giữa. Có hòn giả sơn cao ngang vai, đặt cạnh một chậu tùng già. Đèn dầu ta cầm hắt vàng đục lên đá, lên tùng, rồi hắt xuống một mảnh áo xanh đậm nằm dưới chân hòn giả sơn.

Ta lại gần, cúi xuống.

Xác nam. Khoảng ba mươi lăm tuổi. Mặc áo quan xanh đậm, cổ áo có đường viền chỉ vàng, hai vòng chỉ vàng, xác nhận ngũ phẩm. Mũ quan đội đúng cách, không lệch, không rơi. Người xác nằm nghiêng bên trái, mặt hướng về phía hòn giả sơn.

Không có máu quanh xác.

Nhưng cổ áo hé mở, dưới cằm có một vệt bầm mảnh, hình sợi chỉ ép. Vòng dây thít.

Ta đặt đèn dầu xuống mảnh đá bằng bên cạnh, ngồi thấp xuống. Không chạm xác. Chỉ nhìn.

Trong không khí mùi thoang thoảng của trầm hương. Không phải trầm hương từ phòng khách tương phủ. Là mùi trầm loại khác, mỏng hơn, cay hơn. Trầm loại này chỉ có ở Lễ bộ. Ta biết vì cha nuôi cha ta lúc còn sống hay được ban trầm Lễ bộ trong dịp lễ nhỏ, mùi này ta nhớ.

Ta rờ vào cổ tay xác qua tay áo, không chạm da. Cứng nhẹ. Cơ thịt bắt đầu cứng, khoảng canh hai đầu, tức là xác chết cách đây từ nửa canh đến một canh giờ.

Nửa canh trước, ta ăn cơm ở phòng nhỏ. Trịnh bá đứng cửa. Bích Đào đã về phường Nam. Vườn phía đông không ai đi qua.

Nghĩa là kẻ giết đưa xác vào trong nửa canh giờ trước, qua cửa sau.

Ta nhìn quanh. Trên mảnh đá đặt đèn dầu, cạnh chân hòn giả sơn, có một dấu tay in bằng mực đen. Dấu tay nhỏ, ngón dài, chỉ cái. Dấu tay của một thanh niên gầy. Kích thước bằng tay ta.

Không. Kích thước đúng bằng tay ta.

Ta ngồi im trước dấu tay đúng ba nhịp thở.

Kiếp trước ta đã đọc bài giảng về dấu tay in mực. Có một loại kỹ thuật mà kẻ có gan có thể làm: lấy dấu tay từ ly nước, in vào một tờ giấy, ép mực. Hoặc dùng khuôn cao su đúc. Đại Tống không có cao su. Nhưng có sáp ong. Sáp ong đúc dấu tay từ chén trà ta uống mỗi ngày ở Đại lý tự.

Đây là một cái bẫy.

Cái bẫy dành cho ta.

Vẫn ngồi trước xác, ta rút trong tay áo mảnh giấy đã viết lúc nãy. Thêm ba dòng:

Xác quan ngũ phẩm, chết vòng dây thít nửa canh trước. Không có máu, đưa từ nơi khác vào. Dấu tay giả bằng sáp ong trên đá cạnh xác. Kích thước tay ta.

Ta đứng dậy.

Đúng lúc ấy, ngoài cổng chính có tiếng ngựa. Nhiều ngựa. Ít nhất bảy tám con. Không phải ngựa của Lục Vô Ngạn. Chàng đi triều bằng kiệu, không cưỡi.

Rồi có tiếng gõ cổng gấp. Tiếng lính hô:

“Khai môn. Quan phủ đến.”

Ta đứng thẳng người trước xác. Đèn dầu trên đá bên cạnh còn cháy. Sương đêm đọng thành hạt li ti trên vai áo ta.

Trịnh bá chạy về từ phía cổng, thở gấp, mặt trắng bệch.

“Thẩm ngỗ tác. Là quan phủ Khai Phong. Họ nói… họ nói được báo tin trong tương phủ Lục có xác quan lại chết. Họ đến để điều tra.”

Ta gật. Rất chậm.

Nói có sách, mách có chứng. Ba chữ ấy ta viết trong bao nhiêu báo cáo. Đêm nay ba chữ ấy sẽ được người khác dùng đúng cách ấy để đâm ta.

Ta cầm đèn dầu lên khỏi đá. Quay người, đối diện Trịnh bá.

“Cụ để họ vào. Hạ quan đứng đây.”

“Nhưng…”

“Trịnh bá. Đêm nay nếu Lục đại nhân về, cụ đưa cho cụ mảnh giấy này.” Ta rút mảnh giấy đã viết, gấp thành bốn, nhét vào tay Trịnh bá. “Cụ không đọc. Cụ đưa. Đưa trực tiếp, không qua tay thứ ba.”

Trịnh bá nhận, giấu trong tay áo. Gật.

Ta quay lại, đứng cạnh xác. Đèn dầu trong tay. Áo choàng vải sồi đen. Tay áo ướt sương. Một bên chân đứng chạm mảnh đá bên cạnh hòn giả sơn, cạnh chỗ có dấu tay mực đen giả bằng sáp ong.

Ngoài cổng, tiếng lính hô mở cổng. Tiếng chân dồn dập trên gạch xanh, đi thẳng về vườn phía đông. Trưởng vệ tương phủ chạy đi trước, tay giữ đao trong bao, mắt liếc ta một cái xin lỗi. Ta gật một cái tha thứ. Cụ không có lỗi. Cụ có trách nhiệm giữ cổng, người ta đến báo có xác trong phủ, cụ không được cấm.

Đội quan phủ Khai Phong đi vào. Năm người. Đầu là một viên phó doãn, mặt gầy, mắt hẹp.

Phó doãn cúi xuống xem xác, xem dấu tay mực đen trên đá, mặt càng lúc càng khó coi. Ông ta không phải người của Trương, ta đọc được điều đó qua cách ông ta cau mày trước dấu tay giả bằng sáp ong, như một kẻ làm nghề lâu năm ngửi ra mùi giả.

“Ai phát hiện?”

“Người làm vườn.” Ta đáp. “Hạ quan đến sau, chưa chạm vào xác hay tang vật.”

Đúng lúc ấy, Lục Vô Ngạn về tới. Áo triều phục còn chưa kịp cởi, chàng bước thẳng vào vườn, đứng chắn giữa ta và phó doãn.

“Phủ Khai Phong đến tư gia ta lúc canh khuya, không báo trước, không văn thư,” chàng nói, giọng bằng nhưng lạnh. “Xác trong vườn nhà ta, ta có quyền yêu cầu niêm phong hiện trường, chờ nơi có thẩm quyền án mạng trong nội thành cùng vào cuộc. Không phải Khai Phong tự ý khép tội ngay tại chỗ.”

Phó doãn im. Ông ta biết luật đúng như Lục Vô Ngạn vừa nói. Không có văn thư chính thức, không có thẩm quyền, ông ta chỉ có thể niêm phong và rút.

“Bản chức sẽ báo lại thượng cấp.” Giọng ông ta đã bớt sắc. Ông ta ra hiệu cho thị vệ niêm phong chỗ xác bằng dây gai và giấy dán triện, rồi rút lui, không bắt ai.

Đêm ấy trôi qua không có ai bị còng tay.

Nhưng ta không ngủ. Ta ngồi bên án thư tới sáng, nhìn tấm giấy ba dòng ghi chú vẫn giấu trong tay áo, nghĩ tới câu Vương Ngự sử dặn hôm đào mộ: Trương đã bắt đầu ngửi thấy mùi.

Một cái bẫy hỏng không có nghĩa là bẫy thứ hai sẽ hỏng.

Ta đoán đúng.