Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 28: Yên Bị Vu

Sáng mười tháng mười một. Trời chưa hửng.

Tiếng ngựa dừng trước cổng tương phủ Lục kêu bốn tiếng liên tiếp. Không phải một con. Bốn con.

Ta đang ngồi bên án thư trong thư phòng phía Đông, tay còn cầm chén nước nóng Bích Đào vừa rót. Nghe tiếng ngựa, ta đặt chén xuống. Hạt nước còn dính đáy chén, dính thêm một vệt vào ngón cái.

Kiếp trước ta làm pháp y bệnh viện, cứ có tiếng cấp cứu ban khuya là dựng người. Kiếp này ta cũng vậy. Nghe tiếng bốn con ngựa cùng gõ cửa một tương phủ đang trong lúc điều tra thượng thư Lễ bộ, chỉ có một nghĩa. Hoặc là tin dữ. Hoặc là bẫy dữ.

Ta đứng dậy, khoác áo ngoài. Bích Đào nhìn ta.

“Cô nương…”

“Đi ra xem thử.” Ta đáp gọn. “Nếu là ai của Lễ bộ, không được lên tiếng.”

Bích Đào gật. Nàng đi trước, ta theo sau. Đèn dầu hành lang vặn thấp, bóng hai người in trên vách vôi trắng thành hai vệt dài. Sương tháng mười một nặng, đọng thành lớp mờ trên mấy khung cửa dán giấy điều.

Ra tới tiền sảnh, ta thấy Lục Vô Ngạn đã đứng chờ. Áo trong chưa vấn xong, đai lưng cầm trong tay. Chàng nhìn ta một cái, ngắn. Không nói. Nhưng cái nhìn ấy ta hiểu như đọc trang giấy triều đình lần thứ hai: chàng cũng đang đoán một chuyện xấu, và chàng đang cố xếp trước cho ta một chỗ đứng an toàn.

Cổng tương phủ mở.

Bảy người vào. Đầu là một quan mặc áo đỏ tía, đội mão Đô sự. Sau ông ta là bốn thị vệ mặc giáp nhẹ, tay đeo còng đồng. Cuối cùng, một viên ngục lại của Kinh triệu phủ, tay ôm một cuộn giấy phong sáp vàng.

Kinh triệu phủ. Không phải Đại lý tự. Không phải Đề Hình Ti. Là phủ thứ ba, phụ trách các án xảy ra trong nội thành Biện Kinh, không phụ thuộc Đại lý tự và Đề Hình Ti về mặt hành chính. Đây là chỗ Trương Nguyên Chương cài người đông nhất trong ba năm.

Ta chớp mắt một cái. Trong lòng lạnh đi một chút.

Bẫy đã tới cửa.

Đô sự Kinh triệu phủ chắp tay chào Lục Vô Ngạn nửa vời, đủ phép mà không đủ kính.

“Lục thiếu khanh.”

“Trương Đô sự.” Chàng chào lại, giọng bằng. “Sáng sớm, có việc gì?”

Đô sự không đáp trực tiếp. Ông ta quay sang ngục lại, gật đầu. Ngục lại bước lên, mở phong sáp, giơ tờ giấy hai tay.

“Xin phép Lục thiếu khanh. Có lệnh bắt của Kinh triệu phủ, được Ngự sử đài chuẩn.” Giọng ngục lại đều, nhấn nhá đúng vị trí, giọng của người tập đọc lệnh cả trăm lần. “Bắt ngỗ tác Đại lý tự Thẩm Yên, mười tám tuổi, nghi phạm giết Sách quan Vệ Duy Chi cấp lục phẩm, tối mùng chín tháng mười một tại nhà riêng Vệ phủ, phường Đông.”

Ta nghe hết. Không cử động.

Sách quan Vệ Duy Chi. Cái tên ta không biết. Cấp lục phẩm là cấp quan văn nhỏ, làm việc trong ban ghi chép của Lễ bộ. Của Lễ bộ. Trương Nguyên Chương ngồi thượng thư Lễ bộ. Một quan lục phẩm ở Lễ bộ chết vào chính đêm Trương đang bị điều tra ngầm, mà lại chết ở phường Đông vào đêm Đại lý tự đang đóng vụ, giờ chỉ tay vu vào ngỗ tác của Lục Vô Ngạn.

Nói có sách, mách có chứng. Kẻ dựng cái này biết bốn chữ ấy trước ta.

Lục Vô Ngạn nhận tờ lệnh. Chàng đọc từ đầu tới cuối. Ngón tay chàng dừng ba lần, đúng ba chỗ ta đoán: chỗ tên nạn nhân, chỗ tang chứng, chỗ triện đóng dấu. Mắt chàng không đổi. Nhưng ta thấy hộ oản gỗ đen ở cổ tay trái chàng khẽ nhích một chút, như cái nhích cũ chàng làm khi bấc đèn hết dầu và chàng biết mình phải rót thêm ngay.

Chàng trả tờ lệnh cho ngục lại.

“Tang chứng?”

Đô sự chỉ tay cho một thị vệ. Thị vệ bước tới, mở túi vải, đặt hai vật lên bàn tiền sảnh.

Một con dao. Cán gỗ mun, chuôi khắc hoa lá, lưỡi dao rộng bằng ba ngón, còn dính máu khô ở lưỡi.

Một tờ thư. Giấy vàng nhạt, cỡ giấy hành chính, chữ viết ngay ngắn, ký danh cuối: Thẩm Yên.

Ta đến gần bàn. Ta không đụng vào. Chỉ nhìn.

Đô sự nói. “Con dao này tìm được trong thư phòng Vệ Sách quan. Cắm ở ngực nạn nhân, ba tấc sâu. Bên cạnh dao có một tờ thư này, chữ viết của ngươi, ép Vệ Duy Chi giao ba trăm lượng bạc trước ngày mười ba tháng mười một. Vệ Sách quan không giao, ngươi giết. Có dấu tay trên chuôi dao. Kinh triệu phủ đã đối chiếu với dấu tay ngươi để lại trên bản khai ngỗ tác Đại lý tự.”

Ta chưa nói. Ta cúi xuống, xem con dao thêm một chút. Không cầm. Chỉ nhìn từ ba góc, bằng thói quen của người khám tử thi.

Cán dao gỗ mun. Vân gỗ mun ta phân biệt được: gỗ mun Nghĩa An dày vân thẳng, mun Quảng Tây vân xoáy nhẹ. Cái này là mun Quảng Tây, cùng loại vẫn dùng làm cán dao mổ trong phòng khám tử thi Đại lý tự.

Cùng lô gỗ.

Ta nhấc mắt nhìn dấu tay khô trên chuôi. Bốn dấu ngón chụm, một dấu ngón cái ép ngược. Kiểu ép này, người cầm dao đâm về phía trước không thể tạo được. Là kiểu ép của người cầm dao lên xem cán, không phải người cầm dao đâm.

Ta đã cầm nhiều dao mổ để xem cán. Có cả một con dao ba tuần trước, chuôi mun Quảng Tây, ta cầm lên xem lúc kiểm kê dụng cụ phòng khám. Sau khi xem, ta trả lại giá. Ai đó đã lấy con dao ấy trong ba tuần qua, giữ cẩn thận cả dấu tay ta để lại trên chuôi.

Gậy ông đập lưng ông. Chỉ có điều lần này gậy chưa đập được, chỉ đang giơ.

Ta ngẩng lên. Nhìn Đô sự Trương.

“Hạ quan không phản đối lệnh bắt.”

Đô sự hơi ngừng. Ông ta không đợi câu này sớm thế. Ta biết. Người tính bẫy này tính ta sẽ chối, chối càng to càng dễ khép tội thêm. Ta không cho hắn chỗ đó.

“Chỉ xin một điều. Con dao và tờ thư, hạ quan xin Đô sự cho niêm phong công khai tại đây, trước mặt Lục thiếu khanh, trước mặt ngục lại, trước mặt bốn thị vệ. Niêm phong bằng sáp đỏ. Ghi ngày giờ. Không rời tay Đô sự nửa bước cho tới khi vào kho tang chứng Kinh triệu phủ.”

Đô sự nhíu mày. “Có gì khác không?”

“Có.” Ta nói. “Xin niêm phong luôn cả bản khai ngỗ tác của hạ quan mà Kinh triệu phủ đã dùng để đối chiếu dấu tay. Cũng niêm phong công khai tại đây. Không cho ai rớ vào trước khi có phán quyết.”

Đô sự nhìn ta.

Ta nhìn lại. Ánh nhìn của người không có gì để giấu, có chăng chỉ là quy trình.

“Được.” Ông ta gật.

Ông ta phải gật. Từ chối niêm phong công khai một tang chứng có nghi vấn, trước mặt một thiếu khanh Đại lý tự, không ngục lại nào dám. Trương Nguyên Chương gài bẫy đã tính đến việc ta không phản đối. Nhưng có lẽ hắn không tính đến việc ta biết niêm phong là cái phao đầu tiên.

Ngục lại rút sáp đỏ, hơ nến. Bích Đào bưng nến ra. Sáp nhỏ giọt lên nút vải bọc dao và bọc thư. Ngục lại đóng triện Kinh triệu phủ lên sáp. Rồi thêm một bọc thứ ba, cho bản khai ngỗ tác của ta.

Cả ba bọc, Đô sự cho vào một cái tráp gỗ, khoá chốt, tự cầm.

Ta thở ra một hơi rất khẽ. Nếu con dao rời tay ông ta nửa canh giờ, đã có thể bị đánh tráo dấu tay ta thành dấu tay đậm hơn, hoặc bôi thêm máu lên chuôi. Bây giờ tráp gỗ đã đi công khai, mọi thay đổi về sau đều thành bằng chứng của kẻ gài. Bẫy nào cũng có mắt lưới. Vấn đề là ai luồn tay được vào mắt ấy trước.

Lục Vô Ngạn nhìn ta.

Chàng chưa nói một câu từ khi Đô sự đọc lệnh. Không phải chàng đứng ngoài. Là chàng đang cân. Cân xem can thiệp vào lúc nào không đẩy ta sâu hơn.

Ta chắp tay với chàng.

“Thiếu khanh. Vụ án của Kinh triệu phủ, Đại lý tự không có thẩm quyền can thiệp. Hạ quan biết luật. Xin thiếu khanh không ra lệnh nào cản Đô sự, cũng không viết văn thư nào bênh vực. Việc này để hạ quan tự trình lên Đô sự và Ngự sử đài.”

Ta nói to đủ cho cả bảy người của Kinh triệu phủ nghe. Nói xong ta biết chàng hiểu tại sao ta nói kiểu này: nếu chàng can thiệp bất kỳ chút nào, phía Trương lập tức có cớ trình vua rằng Lục thiếu khanh dùng chức để cứu tình nhân, mà tình nhân lại là một ngỗ tác nam. Cái bẫy sẽ nhân hai. Tội của ta thành tội hai người, án của ta sẽ đóng nhanh trước khi vua kịp nghe.

Chàng gật. Rất khẽ. Đúng cái gật ta cần chàng gật.

“Ta hiểu, Thẩm ngỗ tác.”

Ba chữ Thẩm ngỗ tác. Không phải Thẩm Yên. Không phải ngươi. Là chức danh sạch sẽ, đủ khoảng cách để cả triều đình đọc lại biên bản cũng không tìm được vết mềm.

Ta cúi đầu.

Thị vệ lên. Còng đồng lạnh tanh, gõ vào cổ tay ta hai tiếng khe khẽ. Một tiếng cho tay phải. Một tiếng cho tay trái. Ta nhìn xuống. Còng khá rộng. Da cổ tay ta gầy, còng lỏng, đi không bị rướm.

Ai đó ở Kinh triệu phủ, khi xích ta, đã chọn cái còng nhỏ nhất trong kho. Ta không biết ai. Nhưng ta ghi vào bụng: có một người ở đây không thuộc phe Trương. Người ấy có thể chỉ là một ngục lại quèn nhớ ơn cũ. Ta ghi.

Trước khi đi, ta ngoảnh lại nhìn Bích Đào.

“Nói với mẹ ta rằng hôm nay ta đi công vụ. Đừng làm bà lo. Ba ngày ta về.”

Bích Đào cúi đầu, mắt đỏ, không khóc. Ta biết nàng sẽ không nói với mẹ nuôi câu ta vừa nói. Nàng sẽ nhắn Diệp Nương ngay trong nửa canh giờ. Diệp Nương sẽ báo Lục. Lục sẽ mở tập ba hồ sơ bìa vải xanh cùng ba mảnh giấy của ta. Mọi đường dây đã sẵn.

Ta bước ra cổng tương phủ. Sương chưa tan hẳn. Cổng gỗ đóng lại sau lưng ta, kêu một tiếng dài. Đúng kiểu tiếng cửa phòng khám tử thi kiếp trước khép sau khi ta mang xác vào.


Ngục Đại lý tự, hầm phía Bắc.

Đây là chỗ ta biết. Ta đã đứng ngoài song sắt của khu này ba lần trong ba tháng qua, mỗi lần vì phải lấy khẩu cung một tù nhân. Ta thuộc từng bậc đá xuống hầm, từng vết ố trên vách vôi, từng vết loang của đèn dầu tường. Ta biết tường vôi ẩm nhất ở gian thứ tư từ cửa vào, biết bậc đá số bảy có một vết mẻ, biết cửa gỗ gian thứ hai kêu ken két vì bản lề đồng cũ.

Kinh triệu phủ có ngục riêng, nhưng theo lệ, tội phạm liên quan tới quan viên Đại lý tự phải nhốt tạm tại ngục Đại lý tự để tránh việc bịt miệng trong khi điều tra. Đây là điều luật ba đời trước để ngăn Đại lý tự tự tiện thủ tiêu tù nhân của mình. Hôm nay điều luật ấy quay ngược lại thành cái chỗ tạm giam ta.

Ngục tốt đưa ta vào gian thứ ba từ cửa vào. Gian trung. Vách vôi khô hơn hai gian ngoài. Không có song sổ, chỉ có song sắt.

Ngục tốt trẻ, chừng hai mươi tuổi. Tên Chu Nhị. Ta nhớ tên, vì hôm ta khám xác Đường Thanh sau khi tay lang bị xử, chính Chu Nhị bưng nước rửa tay cho ta. Cậu ta không phải người của Trương.

Chu Nhị mở cửa gian. Ta bước vào. Cậu ta đóng cửa lại, chốt.

“Thẩm ngỗ tác.” Cậu ta hơi cúi. “Hạ nhân… không dám gọi tên. Xin ngỗ tác ngồi tạm. Có cần chăn không?”

“Không.” Ta ngồi xuống mảnh chiếu rơm. “Cho ta cái đèn dầu. Bấc nhỏ cũng được.”

“Được.” Cậu ta gật, quay đi. Nửa khắc sau bưng lại một đèn đất nhỏ, đặt bên chiếu.

Ta cầm đèn, đặt sát vách. Ánh vàng đủ soi ra hai bàn tay ta.

Ngón tay ta hơi run một chút. Không phải sợ. Là lạnh vì cổ tay còn giữ mùi còng đồng ẩm.

Ta xoè bàn tay, đếm nhịp thở như kiếp trước ta dạy sinh viên năm thứ hai: hít vào bốn giây, giữ bốn giây, thở ra sáu giây. Ba lần. Xoè đến lần thứ ba, tay ngừng run.

Trong đầu ta bắt đầu ghép.

Trương Nguyên Chương biết chàng và ta đang điều tra hắn. Hắn không dám ám sát ta trong tương phủ Lục lần nữa, vì lần trước đã hỏng. Hắn đổi chiến thuật: thay ám sát bằng vu án. Chọn một Sách quan Lễ bộ nhỏ, quan hệ mỏng, gia đình yếu, giết đêm mùng chín. Đặt con dao chuôi mun Quảng Tây có dấu tay ta lên ngực nạn nhân. Đặt một tờ thư giả chữ ta bên cạnh. Đưa lệnh bắt qua Kinh triệu phủ, không qua Đại lý tự, để Lục không có tiếng nói. Thời điểm ra lệnh: sáng mười, trước khi Đề Hình Ti họp chầu.

Nếu ta giẫy giụa, hắn có ba ngày để đóng án. Ba ngày này Trương sẽ dùng để làm ba việc: một, ép Vệ phủ ra lời chứng phụ; hai, dựng nhân chứng đã “thấy ta đến Vệ phủ đêm mùng chín”; ba, ép Kinh triệu phủ đưa án lên vua với đề nghị chém đầu.

Ta không giẫy giụa. Ta yêu cầu niêm phong. Cái ngoặt của bẫy đã bị chặn lại ở khớp đầu tiên.

Trắng đen phải rõ. Trong hoàn cảnh này, cách nhanh nhất để trắng đen thành rõ là ta chủ động đưa cho vua đọc một tờ giấy, đến trước tờ giấy của Trương.

Ta nghĩ tới đó thì đưa mắt nhìn ra song sắt.

Chu Nhị đứng cách cửa gian ta ba bước, dựa vào vách vôi, tay không cầm giáo. Cậu ta đang chờ ta cần gì.

Ta gọi. “Chu ngục tốt.”

Cậu ta bước lại. “Ngỗ tác nói.”

Ta nhìn cậu ta. Cân một khắc. Rồi ta hạ giọng, đúng giọng của người đã chấp nhận. Đúng tông của người vừa xoè tay đếm nhịp thở xong.

“Ta xin giấy bút.”

Chu Nhị khựng lại. Cậu ta nhìn ta. Ta không tránh mắt. Ta cứ để cậu ta nhìn cho đủ, để cậu ta tự đọc ra câu ta không nói ra.

Trong ngục Đại lý tự, một người bị bắt vu, một ngày sáng vừa vào ngục, xin giấy bút, chỉ có một nghĩa mà ngục tốt trẻ nào cũng nghĩ tới đầu tiên.

Di thư.

Ta để cho cậu ta nghĩ. Ta không xác nhận, cũng không phủ nhận. Ta chỉ nói tiếp, giọng bằng.

“Ta biết luật ngục cấm dao kéo. Ta không xin dao. Ta chỉ xin một cuộn giấy trắng, một nghiên mực, một bút. Nếu ngục quan không cho, ta không đòi. Nếu ngục quan cho, ta viết trong gian này, không mang ra ngoài. Viết xong ta cuộn lại, dán bằng chính hồ ngươi mang tới. Ngươi giữ.”

Chu Nhị còn nhìn ta thêm một khắc. Trong mắt cậu ta thoáng qua một chút gì đó ta gọi là cái nhũn ra của người trẻ khi thấy một người mình kính chấp nhận kết cục cực đoan. Cái nhũn ấy trong nghề ngỗ tác kiếp trước, ta thấy nhiều. Ở ngực người nhà bệnh nhân. Ở tay điều dưỡng năm thứ nhất.

Cái nhũn ấy chính là chỗ ta cần.

“Ngỗ tác.” Cậu ta khẽ nói. “Ngài đừng làm chuyện dại. Việc chưa xử.”

“Ta biết.” Ta cụp mắt. “Ta không hứa gì. Chỉ xin giấy bút.”

Cậu ta còn phân vân. Ta chờ. Không hối.

“Được.” Cuối cùng cậu ta gật. “Hạ nhân đi hỏi ngục quan. Nếu ngục quan cho, hạ nhân bưng xuống ngay.”

Ta cúi đầu. “Cảm ơn Chu ngục tốt.”

Cậu ta quay đi, bước lên bậc đá số bảy có vết mẻ. Ta biết cậu ta sẽ nói với ngục quan đúng ba chữ xin di thư. Ngục quan sẽ nhíu mày, rồi gật. Vì trong luật Đại Tống có một chỗ mờ: tù nhân bị vu, chưa xử, xin giấy bút để viết trước “lời cuối” hoặc “thân trình,” ngục quan không cho là vô nhân. Cho là hợp lệ, chỉ cần dán và giữ, không được truyền ra ngoài.

Ngục quan sẽ cho. Chu Nhị sẽ bưng giấy bút xuống.

Ta ngồi lại trên chiếu rơm, dựa lưng vào vách vôi. Vách vôi ẩm lạnh, không khác thớ đá lạnh của bàn khám tử thi kiếp trước. Ánh đèn đất trên chiếu vàng nhàn nhạt, đứng yên như đèn dầu phòng thiếu khanh của Lục Vô Ngạn.

Trong đầu ta bắt đầu xếp.

Tờ giấy ta sắp viết không phải di thư. Là ba vụ án.

Vụ nô tì trong giếng phủ Vương thị lang. Từ sợi vải xanh đến tem Trương phủ.

Vụ năm xác trẻ em cầu Biện Hà. Từ chiếc kẹp bươm bướm ngọc đến tên T. Nguyên C. trong sổ Đường Y Quán.

Vụ phú thương Lâm Đại lang treo cổ giả trong phòng khoá. Từ ba loại độc trong dạ dày đến Trương Nhị Lang ép đầu bếp.

Ba vụ. Chi tiết đủ để Vương Ngự sử ghép. Chi tiết đủ để, nếu tờ giấy này đến được tay Vương, tay Lục, và cuối cùng là tay vua, thì cái bẫy vu ta trở thành cái đòn phản.

Ta viết xong sẽ dán. Chu Nhị giữ. Chu Nhị là người ta chọn không phải vì tin cậu ta hoàn toàn. Là vì Lục Vô Ngạn đã đút lót Chu Nhị và ngục quan từ hai tháng trước, ngay sau vụ Đường Thanh, cho tình huống hôm nay. Chàng nói với ta hôm đó: Đại lý tự có ngục, ngục có ngục tốt. Ngục tốt nào cũng cần bạc. Ta lo phần bạc, ngươi lo phần chữ.

Bấy giờ ta còn nghĩ chàng lo xa. Nay ta biết chàng lo vừa đủ.

Bấc đèn đất trong gian nhỏ chảy chậm. Một giọt dầu nóng rơi xuống đế đèn, kêu một tiếng rất nhỏ. Ta nhắm mắt một khắc.

Trong bóng tối, ta thấy ba tấm giấy chàng lấy từ tủ hộ oản đêm nào đặt chồng lên ba mảnh giấy của ta, cạnh triện T-N-C bát giác, xếp thành một hình chữ nhật gọn gàng. Rồi ta thấy tờ giấy ta sắp viết đặt lên trên cùng. Bốn lớp. Đủ chồng.

Ngoài song sắt, tiếng bước chân Chu Nhị trở lại. Bậc đá số bảy kêu một tiếng nhẹ. Rồi tiếng cậu ta đặt một cái tráp nhỏ xuống nền gạch trước cửa gian.

“Thẩm ngỗ tác. Giấy bút đây.”

Ta mở mắt.

Ta đưa tay ra khỏi song sắt, nhận tráp. Bên trong là một cuộn giấy trắng, một nghiên mực nhỏ, một bút lông tơ. Không có dao rọc. Không có kéo. Không có sáp.

Không có sáp vì ngục quan không muốn ta tự tay dán. Cậu ta sẽ đem sáp riêng xuống khi ta viết xong. Đây là luật.

Ta đặt tráp lên chiếu. Mở nghiên. Đổ nước.

Trước khi chấm bút, ta ngước lên nhìn Chu Nhị qua song sắt. Cậu ta đứng đợi, mặt hơi buồn, tay nắm chốt đai lưng.

“Chu ngục tốt.”

“Vâng.”

“Ta viết chậm. Có thể mất một canh giờ. Ngươi không cần đứng đây suốt. Về ghế trực đi. Khi ta gọi, ngươi xuống.”

Cậu ta lưỡng lự.

“Xin ngài…”

“Ta hứa với ngươi một điều.” Ta nhìn cậu ta thẳng. “Trong một canh giờ tới, ta không làm gì hại thân. Nếu ta có bất cứ ý gì khác, ta không đợi ngươi vắng.”

Cậu ta nhìn ta. Rồi cậu ta gật. Cậu ta quay bước, đi lên. Bậc đá số bảy lại kêu nhẹ.

Còn lại một mình trong gian, ta nhấc bút.

Chấm mực.

Nét đầu tiên ta viết trên đầu trang giấy, chữ nhỏ, đúng nét ta hay dùng khi viết báo cáo giải phẫu:

Trình Lục thiếu khanh Đại lý tự, Vương Ngự sử Ngự sử đài, và bệ hạ nếu được đọc.

Người trình: Thẩm Yên. Ngỗ tác Đại lý tự. Nay bị vu án giết Sách quan Vệ Duy Chi, tạm giam ngục Đại lý tự, đêm mười tháng mười một.

Đây không phải di thư. Đây là ba vụ án. Đây là ba mảnh của một cái tên.

Ta ngừng bút một khắc. Ngoài song sắt, đèn dầu tường ngục ai đó vừa vặn cao. Ánh vàng ấm lên nửa vách vôi. Kiếp trước ta chết cô độc trong phòng lạnh, không kịp viết một chữ nào. Kiếp này ta ngồi trong ngục Đại lý tự, tay còn nguyên bút, giấy còn nguyên trang, và ở ngoài kia có một người đang đợi thứ ta viết.

Ta chấm mực lần nữa.

Bắt đầu viết vụ nô tì trong giếng phủ Vương thị lang.