Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 29: Di Thư Là Bằng Chứng
Canh ba, đêm mười chín tháng mười một.
Ngục Đại lý tự tầng dưới có ba lối. Lối chính đá xanh, hai bên cột đèn dầu vặn thấp. Lối phụ bên tây xuyên xuống hai gian giam nữ, không dùng, vì Đại lý tự chưa từng giam nữ. Lối phụ bên đông, ba gian giam quan phạm. Một gian trống, hai gian đã có người. Ta ngồi trong gian trống ấy, không phải quan, cũng chưa được xử. Trên giấy ghi án, ta là “Ngỗ tác Thẩm Yên, tình nghi giết Sách quan Vệ Duy Chi, bằng chứng dao có dấu tay và thư ép giao tiền”.
Ta đã xem giấy này qua vai ngục tốt.
Trong lòng ta ghi lại từng dòng chữ. Ba năm làm pháp y kiếp trước, ta quen đọc ngược ngoài mặt bàn cảnh sát hình sự. Kiếp này, đọc ngược ngoài tay ngục tốt Đại lý tự không khó hơn.
Gian giam sáu bước rộng, năm bước dài. Vách đá phía sau còn dấu tay nắm than của người trước. Nền lát gạch xám, mảng khô, mảng ướt. Cạnh cửa sắt, một tấm đệm rơm mỏng. Trên đệm, một chậu nước lạnh, một bát cơm gạo trắng. Ngoài ra không gì.
Đèn dầu treo trên cột đá ngoài hành lang. Ánh vàng loang qua song sắt, in lên vách gian giam ba vệt dài. Bên trong gian, không có đèn.
Ta ngồi trên đệm, lưng thẳng, chân xếp bằng. Kiểu ngồi khám tử thi cũ, khi phải chờ trợ lý pha thuốc. Ngón cái và ngón trỏ tay phải bấm mạch cổ tay trái, đếm.
Sáu mươi bảy nhịp một phút.
Kiếp trước, nhịp tim ta khi lo lắng bao giờ cũng lên trên tám mươi. Kiếp này, mười sáu tiếng canh trong ngục Đại lý tự, sáu mươi bảy. Ta ngạc nhiên. Hoá ra, khi biết chắc mình không phải kẻ đang chờ chết, chỉ là kẻ đang chờ giấy bút, người ta có thể bình tĩnh đến vậy.
Ta đợi ngục tốt.
Lời “cho ta giấy bút, ta muốn viết di thư” ta đã nói từ canh giữa. Ngục tốt gật, quay đi. Chưa quay lại. Ta hiểu vì sao. Giấy bút trong ngục Đại lý tự phải xin qua Đề Hình Ti, đóng ấn của giám ngục. Đóng ấn xong, ngục tốt phải trở lại kho lấy, đi mất một canh.
Canh giữa qua canh ba, có tiếng chân.
Ngục tốt đi ngang, tay bưng khay. Trên khay: một tệp giấy trắng vàng, mực đen trong nghiên đá nhỏ, một cây bút lông, và một bát trà nóng. Trà, ta không dặn. Người đưa hắn dặn thêm bát trà.
Ngục tốt mở khoá. Đặt khay xuống nền gạch. Không nhìn ta. Cúi đầu.
“Sư gia. Bút mực đây. Bát trà, quan gia bảo cho sư gia đỡ lạnh.”
Sư gia. Trong ngục, ta là “sư gia” vì ta là ngỗ tác của Đại lý tự. Chưa xử, chưa mất chức. Cái xưng hô này, ta nhận không dễ. Nhưng đêm nay, ta nhận. Ta cần nó hơn ta nghĩ.
“Đa tạ.”
Ngục tốt gật. Chưa đi.
Ta nhìn hắn. Ba mươi tuổi, gương mặt thô, tay có sẹo dài từ cổ tay lên khuỷu, dấu bỏng, không phải dấu dao. Ngón áp út bên phải cong nhẹ, dấu gãy đã lành. Ngục tốt Đại lý tự thường là quân đội cũ chuyển sang. Đúng kiểu ấy.
Hắn đứng thêm một hơi, rồi nói khẽ, giọng thấp đến mức ta phải nghiêng đầu.
“Sư gia. Quan gia bảo, viết xong, gõ song ba tiếng. Không cần vội.”
Quan gia.
Trong Đại lý tự, chữ “quan gia” chỉ dùng cho một người. Lục Vô Ngạn.
Ta cụp mắt. Trong lòng, một chút gì loang ra như mực đen chấm vào giấy chưa khô. Ta không cho phép mình bám vào cảm giác ấy. Chấm đi, để mực khô. Việc trước mắt.
“Nghe rõ.”
Ngục tốt quay đi. Cửa sắt đóng lại. Khoá kêu một tiếng gọn.
Chỉ còn ta, khay giấy, đèn dầu ngoài hành lang.
Ta ngồi trước khay. Bút cầm bằng ba ngón. Nghiên mực mài không vội. Kiếp trước, ta ghét bút lông vì khó điều khiển. Kiếp này, ta đã viết bằng bút lông năm tháng. Tay ta đã quen.
Ngoài kia, ai đang chờ tờ giấy này?
Ta đoán ba lối.
Một, Trương Nguyên Chương. Hắn gài ta vào bẫy án ma, chờ ta viết di thư nhận tội, dâng lên vua để đóng vụ. Nếu ngục tốt là người của hắn, tờ giấy sẽ đến tay hắn trước canh sáu. Hắn chỉnh sửa nét chữ chỗ nào cần chỉnh, đóng ấn giả, dâng lên. Ta chết trong ngục. Cha ta ngoài nghĩa trang cửa Nam vẫn không được đưa về.
Hai, Vương Ngự sử. Nếu Vương biết ta bị vu, Vương có thể đút ngục tốt xem ta có gì nói. Nhưng Vương là Ngự sử, đường thẳng thắn, ít dùng cách đút ngục. Xác suất thấp.
Ba, Lục Vô Ngạn. Người vừa xưng hô “quan gia” của ngục tốt. Đã đút Chu Nhị từ bao giờ, ta không biết. Có thể từ đêm ta bị bắt. Có thể từ đêm ta chưa bị bắt. Chàng là người dựng lưới trước khi thấy cá.
Ta ngậm bút.
Nếu là lối một, ta viết di thư thật, Trương thắng.
Nếu là lối hai, ta viết di thư kèm chứng, Vương ghép được, may ra dâng lên vua kịp trong ba ngày. Nhưng ba ngày đủ Trương ép ngục tốt đổi giấy, ép cai ngục nhét thuốc độc vào bát cơm, ép Đại lý tự “phát hiện” ta tự sát trong ngục.
Nếu là lối ba, ta viết ra hết. Không phải di thư. Là báo cáo pháp y. Chàng đưa Vương, Vương dâng vua ngay đêm.
Ta chọn lối ba.
Vì ta tin chàng.
Trong lòng, ta ghi lại chữ “tin” ấy một dòng ngắn. Kiếp trước ta không tin ai suốt bảy năm nghề pháp y, sếp có, đồng nghiệp có, cả người yêu cũ. Kiếp này, chữ “tin” ta viết một dòng cho chàng. Chàng đáng.
Ta chấm mực. Bắt đầu.
Đêm mười chín tháng mười một năm Nguyên Phong thứ mười, canh ba.
Thẩm Yên, ngỗ tác Đại lý tự, hiện đang bị giam ở gian giam quan phạm số ba, đông sảnh. Tình nghi giết Sách quan Vệ Duy Chi bằng dao, có thư ép giao tiền. Xin trình bày ba việc, không phải di thư.
Việc thứ nhất: dao án tang.
Dao án tang là dao Đại lý tự cấp cho ngỗ tác, cán gỗ mun, sống dao khắc số hiệu triện bát giác. Số dao ta được cấp là “ngỗ tam”. Đêm quan phủ bắt ta, dao mang ra đối chứng đúng là dao ta, số hiệu chính xác. Nhưng: đầu dao có dấu bột mài trắng, dày đến nửa phân. Ngỗ tác Đại lý tự đêm nào cũng lau dao bằng dầu, không mài. Nếu bột mài dày nửa phân, có nghĩa là dao đã được đưa qua đá mài trong bảy tám ngày liên tục.
Ta không mài dao trong bảy tám ngày qua. Ta có sổ chép án đêm mười lăm đến mười tám tháng mười một, ghi đầy đủ giờ giấc. Sổ ở trong giỏ nước hoa hương trầm dưới bàn án phòng chép án của hạ quan.
Nếu quan phủ đối chiếu sổ này, sẽ thấy: trong bảy tám ngày ấy hạ quan có mặt ở Đại lý tự đủ tám buổi giải phẫu. Không có khoảng thời gian nào hạ quan mang dao đi mài lâu như vậy.
Vậy dao đã bị lấy trộm khỏi giá dao ngỗ tác ở phòng khám tử thi, đưa cho một kẻ khác dùng, rồi trả lại. Trong bảy tám ngày qua, ai vào phòng khám tử thi mà không phải hạ quan hay Lục thiếu khanh? Ba người: giám ngục Trần Tứ, ngục tốt Chu Nhị, và một khách phủ Trương xin xem thi thể “bà con” hôm mười bảy tháng mười một. Việc ghi trong sổ khách của Đại lý tự. Xin đối chiếu.
Việc thứ hai: dấu tay trên cán dao.
Cán dao mun có bốn mảnh dấu tay, đối chứng với dấu tay hạ quan. Đúng bốn ngón phải: cái, trỏ, giữa, áp út. Không có ngón út. Không có dấu tay tay trái.
Tay hạ quan cầm dao luôn có tám ngón. Bốn ngón phải cầm cán, bốn ngón trái đỡ sống dao. Đây là thói quen của người khám tử thi, sợ dao trượt vào cổ tay. Nếu chỉ có bốn ngón phải, có nghĩa là dao được cầm theo cách của người không quen dao khám, chỉ quen dao chiến. Hoặc, dấu tay hạ quan được lấy đi trong lúc hạ quan không biết, in lên cán dao án tang.
Cách lấy dấu tay không khó: nhúng tay khách vào phấn cám mịn khi họ tỉnh, hoặc trong lúc họ ngủ nhét cán dao đã bôi keo dán vào lòng bàn tay. Ba đêm gần đây, hạ quan có ba đêm ngủ trong tương phủ Lục thiếu khanh. Không kẻ nào vào phòng hạ quan được. Trước ba đêm ấy, hạ quan ngủ ở phòng chép án Đại lý tự. Phòng ấy có chìa của giám ngục Trần Tứ.
Xin điều tra hộp phấn cám ở phòng cai ngục.
Việc thứ ba: thư ép giao tiền.
Thư viết trên giấy hoè vàng, chữ khá giống nét hạ quan. Nhưng: chữ “án” ở dòng thứ ba, dấu chấm dưới cong nhẹ về bên phải. Chữ “án” của hạ quan, dấu chấm cong về trái, do hạ quan cầm bút lệch. Đây là thói quen sáu năm giả nam hạ quan không sửa được. Chỉ có một người trong triều biết thói quen ấy: Lục thiếu khanh, vì chàng nhìn hạ quan viết mỗi ngày.
Vậy kẻ giả chữ hạ quan là kẻ không biết chi tiết bút lệch. Kẻ đó xem chữ hạ quan trên báo cáo án, chép theo. Ai xem báo cáo án của ngỗ tác? Ngoài Đại lý tự thiếu khanh và Ngự sử: chỉ có Lễ bộ Thượng thư có quyền yêu cầu bản sao.
Trương Nguyên Chương.
Ba việc trên không đủ chứng hạ quan vô tội tuyệt đối. Nhưng đủ để kéo dài đêm nay, chờ chứng thêm. Xin dâng cho Vương Ngự sử Vương Chí Kính, phường Tây, ngõ Bạch Vân, ngôi nhà thứ ba từ đầu ngõ.
Kèm ba việc trên, xin đưa thêm bản đối chiếu ba vụ án trước đây có Trương Nguyên Chương đứng sau. Ba mảnh manh mối này hạ quan và Lục thiếu khanh đã gộp thành mười mảnh, đủ chứng ba vụ án lớn. Nay thêm mảnh thứ mười một: chính bẫy án ma vu tội hạ quan hôm nay cũng là dấu tay của Trương. Bẫy vụng, gấp, dấu chấm cong sai bên. Hắn đang hoảng.
Kẻ đang hoảng, dễ bắt.
Ba mảnh cũ: một, tem diêm thổ Vương phủ, dấu triện bát giác T-N-C, biên bản đêm mười một tháng chín. Hai, sổ Đường Y Quán khách tên T. Nguyên C., ba lọ thuốc trẻ em, biên bản đêm hai mươi ba tháng mười. Ba, Trương Nhị Lang ép đầu bếp Lâm Đại lang, khai trong biên bản Đại lý tự đêm mười lăm tháng mười một.
Bảy mảnh của Lục thiếu khanh, hạ quan không chép được vì không có trong tay. Xin Lục đại nhân bổ sung.
Mảnh thứ mười một, hạ quan đã trình bày ở trên.
Nếu Vương Ngự sử đọc và tin, xin dâng vua đêm nay. Đêm nay là canh ba. Đến canh năm còn kịp cửa cung mở. Nếu chậm một ngày, hạ quan không chắc còn viết được tờ thứ hai.
Hạ quan không sợ chết. Nhưng hạ quan còn chưa đưa cha ra khỏi bia mộ nghĩa trang cửa Nam. Cha còn chờ.
Thẩm Yên, đêm mười chín tháng mười một, canh ba, khép bút.
Ta khép bút. Đặt vào nghiên. Chấm dứt câu.
Ba tờ giấy. Chi chít chữ. Ta đọc lại từ đầu, chỉnh hai chỗ. Chỗ đầu, thêm dấu chú thích “án tang” là “án phẩm”, để người ngoài Đại lý tự đọc không lẫn. Chỗ hai, ta ghi ở lề: “Nếu tờ giấy này rơi vào tay Trương phủ, xin đốt. Đừng dâng.” Nét chữ dòng ấy hạ quan cố ý viết đúng thói quen bút lệch trái. Lục đại nhân nhìn qua sẽ biết là tay ta. Trương nếu chặn được, sẽ nghĩ là giấy tự sát của một ngỗ tác cùng đường, đọc lướt, đốt.
Ta cuộn ba tờ giấy. Buộc bằng một sợi bấc từ đèn dầu ngoài hành lang, ta với qua song sắt bẻ ra. Không có triện Đại lý tự, không có sáp niêm. Chỉ có bấc đèn.
Ta gõ song sắt ba tiếng.
Rất nhẹ.
Trong hành lang có tiếng chân. Ngục tốt trở lại.
Cửa mở. Ngục tốt bước vào, nhận cuộn giấy. Không nhìn. Không hỏi. Nhét vào tay áo phải, chỗ bên trong lót vải nâu. Đóng cửa. Khoá.
Ta ngồi lại trên đệm. Chân xếp bằng.
Bên ngoài, tiếng chân ngục tốt khuất dần về phía cửa hậu ngục. Không đi hành lang chính. Ta gật nhẹ trong lòng. Đúng đường. Cửa hậu ngục dẫn ra ngõ hẹp sau Đại lý tự, chỗ ban đêm không có thị vệ tuần.
Ta khép mắt.
Trong đầu, ta hình dung đường đi của cuộn giấy.
Từ ngõ hẹp sau Đại lý tự, ngục tốt Chu Nhị đi bảy trăm bước tới ngã ba miếu Đông. Ở đó, có người đứng đợi. Người ấy đứng ở góc miếu, không bước vào ánh đèn treo cột miếu. Áo văn quan đen. Tay trái đeo hộ oản gỗ đen. Chàng nhận giấy. Không mở. Đưa Chu Nhị một túi bạc nhỏ. Chu Nhị chắp tay. Lui.
Từ ngã ba miếu Đông, chàng đi bộ ba trăm bước sang phường Tây. Ngõ Bạch Vân. Ngôi nhà thứ ba từ đầu ngõ. Gõ cửa.
Vương Ngự sử đêm khuya không ngủ, đang xem bản báo cáo án diêm thổ cũ. Người nhà mở cửa dưới. Chàng vào. Ngồi ở gian giữa. Chờ Vương xuống.
Ta không thấy cảnh này. Ta đang ngồi khép mắt trên đệm rơm trong gian giam quan phạm số ba, đông sảnh. Nhưng ta biết. Ba tháng làm việc, ba tháng ta xem chàng dựng lưới. Chàng dựng gì cũng có nhịp. Nhịp của chàng, ta thuộc.
Ta đếm mạch cổ tay. Sáu mươi bảy nhịp. Không đổi.
Bên ngoài, canh ba đang chuyển canh tư. Có tiếng trống canh từ cửa Bắc thành vọng lại rất mờ. Rồi im.
Ta ngồi tiếp. Không cựa.
Không biết bao lâu. Canh tư đã qua. Có thể đang canh năm đầu.
Ngoài hành lang, tiếng chân. Không phải chân ngục tốt thường. Chân này đi đều, đi có nhịp, giày da cứng. Không một, không hai. Bốn hoặc năm.
Thị vệ triều đình.
Ta mở mắt. Đứng dậy. Sửa lại áo. Đứng thẳng trước cửa sắt.
Đèn hành lang thêm hai người mang đèn khác đến. Ánh vàng sáng hẳn lên. Gian giam ta không còn ba vệt dài, mà sáng đều.
Cửa sắt mở.
Đứng ngoài, ba người. Một, giám ngục Trần Tứ, sắc mặt tái. Hai, một quan Đề Hình Ti hạ quan không quen, cầm chỉ vàng. Ba, người hạ quan quen.
Lục Vô Ngạn.
Chàng chưa mặc áo quan chính. Vẫn áo dân đen thường. Tay trái vẫn đeo hộ oản gỗ đen. Nhìn hạ quan một khắc, không nói.
Quan Đề Hình Ti giương chỉ.
“Chỉ vua. Thẩm Yên, ngỗ tác Đại lý tự. Giải tại ngục tức thì. Trả lại chức. Không truy cứu vụ án Sách quan Vệ Duy Chi với Thẩm Yên.”
Hạ quan chắp tay. Cúi đầu. Không nói.
“Chỉ vua tiếp: bắt Trương Nguyên Chương, Lễ bộ Thượng thư. Bao vây phủ Trương từ canh năm. Giao Lục Vô Ngạn dẫn đầu đội truy bắt.”
Trần Tứ đứng bên khuỵu nhẹ. Chưa ngã. Chỉ khuỵu.
Chàng gật đầu với hai thị vệ đứng sau lưng. Hai người bước tới. Kẹp Trần Tứ hai bên.
“Trần Tứ.” Giọng chàng vẫn bằng. “Ngươi mở khoá phòng khám tử thi cho ai đêm mười bảy tháng mười một?”
Trần Tứ tái. Miệng mấp máy, không ra tiếng.
“Không nói cũng được. Ngươi vào gian giam quan phạm số ba, đông sảnh. Đúng gian Thẩm Yên vừa ngồi. Ta cho ngươi một canh nghĩ.”
Trần Tứ bị hai thị vệ kéo vào gian. Ta bước ra. Đi ngang chàng, không nhìn. Chàng cũng không quay đầu. Chỉ nói khẽ, giọng đủ để một mình ta nghe.
“Ngươi mang đèn.”
Ta cầm chiếc đèn dầu ngoài hành lang. Bấc còn cháy quá nửa. Ánh vàng loang trong tay ta.
“Đi trước.”
Ta đi trước. Chàng theo sau. Ra khỏi ngục Đại lý tự.
Sương phường Nam đã dày. Trời chưa sáng, nhưng ở góc đông đã có một vệt xám mỏng. Sắp canh sáu.
Ta ngoảnh nhìn lại. Chàng đứng đúng nhịp sau ta ba bước. Không quá gần, không quá xa. Ba tháng chàng đi sau ta như vậy, chưa lần nào đổi khoảng.
“Đại nhân.”
“Ừm.”
“Ngài đút Chu Nhị từ bao giờ?”
Chàng im một nhịp.
“Từ đêm ngươi vào Đại lý tự lần đầu. Ta đút cả Chu Nhị lẫn Trần Tứ. Chu Nhị nhận, Trần Tứ nhận nhưng nhận cả tiền của Trương phủ ba tháng sau. Ta biết. Ta để hắn nhận, chờ hắn động.”
Ta gật.
Kiếp trước ta không tin ai suốt bảy năm. Kiếp này, ba tháng, ta hiểu ra một điều. Có người không giữ ai tin. Chỉ giữ chính mình cẩn thận đến mức không ai lừa được. Chàng thuộc kiểu ấy.
“Ngài đợi hắn động, để bắt hắn cùng lượt với Trương.”
“Ừm. Bẫy án ma là tay Trần Tứ mở phòng khám cho khách phủ Trương lấy dấu tay ngươi trên cán dao cũ. Đêm ấy hắn nhét cán dao dính keo vào tay ngươi khi ngươi ngủ ở phòng chép án. Ta biết đêm ấy. Ta không ngăn.”
Ta khẽ ngước lên. “Ngài để hạ quan bị vu?”
“Ta để ngươi bị vu. Để có mảnh thứ mười một. Không đủ hai mảnh, vua sẽ không ra chỉ. Đủ hai mảnh, một là bẫy Trần Tứ, hai là dấu chấm cong sai bên, vua thấy Trương lộ tay. Vua chờ ba năm cho một đêm này.”
Ta im.
Ta không giận. Kiếp trước ta khám xác không giận kẻ đâm. Kiếp này ta không giận người đặt cả ta lên bàn cân để đổi lấy đêm bão. Nếu là ta, ta cũng đặt. Bàn cân ấy, ta hiểu.
Nhưng ta hỏi. Vì ta muốn nghe chàng đáp.
“Nếu hạ quan không nghĩ ra mà viết di thư thật thì sao?”
Chàng dừng bước.
Ta dừng theo.
Chàng nhìn ta. Ánh đèn dầu trong tay ta hắt lên mặt chàng một vệt vàng. Vệt vàng chạm cạnh mắt, không lên tới trán.
“Ta biết ngươi không viết di thư.”
“Vì sao?”
“Vì đêm mười lăm tháng mười, ngươi đã nói với ta: hạ quan xin điều tra chung, ba mảnh của hạ quan là của đại nhân, bảy mảnh của đại nhân là của hạ quan. Người nói câu ấy không viết di thư trong một đêm bị vu. Người ấy viết báo cáo pháp y.”
Ta cụp mắt.
Đèn dầu trong tay hơi ấm. Ấm hơn ta nghĩ. Ta nghĩ tro hương lư đồng phòng chép án của hạ quan chắc đã nguội hẳn. Kiếp trước ta chết trong phòng lạnh, dao đâm sau lưng, không ai đứng bên. Kiếp này, ba năm gieo của Trương, ba tháng gieo của hạ quan, ba năm gieo của chàng, tất cả gặt vào một tờ giấy bấc đèn buộc.
Nói có sách, mách có chứng. Câu ấy hạ quan đêm nay hiểu thêm một tầng. Sách là mười một mảnh. Chứng là dấu chấm cong sai bên.
“Chàng đi.” Ta khẽ nói.
Chàng không hỏi ta gọi khác. Chỉ nhẹ gật.
Trước cửa Đại lý tự có mấy con ngựa cột. Bốn thị vệ đứng chờ. Chàng lên yên. Ta lên yên bên cạnh. Đèn dầu trong tay ta, ta cắm vào giá đèn trước yên. Bấc còn cháy. Ánh vàng loang trên bờm ngựa đen.
“Đi đâu?” ta hỏi. Câu này ta hỏi cho chắc, không phải vì không đoán được.
“Bắt Trương.”
Chàng ra roi. Ngựa phi. Ta phi theo.
Ra khỏi phường Nam, qua phường Trung, phi thẳng về phía cửa Tây thành. Đường phố còn ngủ. Nhưng ta biết, giờ này ở phủ Trương Nguyên Chương đã có kẻ đến gõ cửa. Không phải nội thị mang tin. Là thị vệ, mang chỉ.
Bên tai ta, gió sương phường Bắc. Bên ngực ta, nhịp tim. Ta bấm mạch cổ tay trái một lần cuối.
Bảy mươi hai nhịp một phút.
Đã lên. Lần đầu trong đêm nay.
Không phải vì sợ. Là vì đang phi ngựa. Cũng có thể là vì có một người phi ngựa bên cạnh ta. Có thể vì cả hai. Ta không cần tách ra.
Gieo gió gặt bão. Ba năm Trương gieo. Đêm nay bão đến. Bão có hai người thổi, và một người phía trên. Vua.
Ngựa phi vào ngõ dẫn tới cửa Tây thành. Bấc đèn trước yên ta cháy đến quá nửa. Ta không quay đầu.
Phía sau lưng ta, ngục Đại lý tự đã lùi lại xa. Trong ngục ấy đêm nay có một gian trống chuyển thành gian có người. Trần Tứ ngồi trong ấy. Sáng ra, gian bên cạnh sẽ có Trương Nguyên Chương.
Ta phi tiếp. Bấc đèn không tắt.
Cửa Tây thành hiện lên ở cuối đường, ba cột đá đen, hai bên treo đèn lồng đỏ. Đèn lồng chưa hạ, có nghĩa cửa còn chưa mở. Còn kịp.
Chàng ra roi lần nữa. Ngựa chàng dẫn lên nửa bước trước ta. Ta không đuổi. Ta đi sau chàng nửa bước, đúng khoảng chàng vẫn đi sau ta ba tháng qua. Đêm nay đảo lại, ta không thấy lạ.
Đến cổng cửa Tây thành, chàng ghìm cương. Bốn thị vệ theo sau ghìm cương. Cả đội ngựa dừng trước một hàng thị vệ khác đang đứng gác. Thị vệ gác thấy chỉ trong tay quan Đề Hình Ti, chắp tay, mở cổng.
Sau cổng, con đường dẫn thẳng ra dịch trạm ngoài thành mười dặm.
Chàng quay đầu nhìn ta lần đầu suốt đoạn phi ngựa.
“Sẵn sàng?”
Ta gật.
“Sẵn.”
Chàng ra roi. Ngựa lao qua cổng. Ta theo.
Ngoài cổng, sương còn dày hơn trong thành. Đèn dầu trên yên ta bắt gió một cái, bấc chao. Nhưng không tắt.
Bấc đêm nay, bằng cách nào đó, không muốn tắt.