Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 30: Bắt Trương
Canh năm. Sương đọng lại thành giọt trên trần ngục, rớt xuống nền đá lạnh nghe từng tiếng một.
Ngục tốt mở khoá xiềng chân ta. Sợi xích rơi xuống đá kêu một tiếng ngắn. Ta ngồi trên sàn ngục ba ngày ba đêm không nói, cổ tay đã tê từ lâu, giờ vừa gỡ ra thì máu chạy trở lại buốt như có kim châm bên trong.
“Thẩm ngỗ tác,” ngục tốt hạ giọng, “chỉ vua đã đến. Xin mời ra.”
Ta đứng dậy. Đầu gối kêu răng rắc. Ta đưa tay chỉnh lại vạt áo tù, không nhìn hắn, chỉ nói khẽ:
“Cảm ơn ngươi đã đưa giấy cho đại nhân.”
Ngục tốt cúi đầu. Không đáp.
Ta bước ra khỏi phòng giam. Hành lang ngục Đại lý tự dài, đèn dầu treo hiên đã cháy sắp hết dầu, ngọn lửa bé bằng đầu ngón út lay lắt trong sương. Bóng đèn dầu chiếu lên tường đá thành từng vệt vàng nhợt, giống màu da tử thi để đến canh giờ thứ tư.
Ba ngày trong ngục, ta không tính giờ bằng đồng hồ, tính bằng số lần ngục tốt thay ca. Canh sáu lần thay. Nghĩa là ba mươi sáu canh giờ. Ba ngày.
Cửa ngục mở ra. Sương đêm ùa vào mặt lạnh như dội nước.
Chàng đứng đó.
Lục Vô Ngạn. Áo giáp da đen. Kiếm bên hông. Tay trái vẫn đeo chiếc hộ oản gỗ đen. Ánh mắt như dao khắc trên đá, nhưng ta thấy quầng thâm dưới hai bên mắt chàng, thấy môi khô nứt một đường mảnh. Chàng đã không ngủ.
Chàng không nói lời nào. Chỉ tháo áo choàng ngoài, quàng lên vai ta. Áo còn ấm hơi người.
“Trương phủ,” chàng nói, giọng khô. “Thị vệ đã bao vây từ canh tư. Nhưng hắn không có ở đó.”
Ta ngẩng đầu.
“Chạy rồi?”
“Chạy rồi.”
Ta nhắm mắt một giây. Mở ra.
“Ngựa đâu?”
Chàng chỉ về sân trước. Hai con ngựa cột ở gốc hoè, một con đen một con nâu. Đen là ngựa chàng. Nâu, ta biết, là ngựa mẹ nuôi ta thường mượn của tương phủ để đi thăm mộ cha.
“Đi thôi.”
…
Phủ Trương ở phường Đông, cách Đại lý tự ba dặm. Ta và chàng phi qua cửa phường trong sương, vó ngựa rơi trên đá lát nghe âm âm như trống rỗng. Ba ngày trong ngục làm chân ta yếu, nhưng cưỡi ngựa không cần chân, chỉ cần siết đùi và cầm dây cương. Ta cầm được.
Đến phủ Trương thì trời mới hửng.
Cổng chính đã bị thị vệ cạy khoá. Trong sân, người phủ đã bị bắt cả, ngồi xếp hàng trong sân giữa: gia đinh, quản gia, tiểu thư, thị nữ. Không ai khóc. Ai cũng nhìn xuống đất. Có kẻ đã biết chuyện, có kẻ chưa. Nhưng đều biết một điều: chủ nhân của họ đã bỏ chạy trước khi họ kịp thu xếp.
Ta xuống ngựa. Chàng đi trước, ta đi sau.
Thư phòng của Trương Nguyên Chương ở dãy sau. Cửa gỗ vẫn còn mở toang. Ta bước vào.
Trên án thư, có tro.
Ta cúi xuống nhặt một mẩu giấy chưa cháy hết. Mực còn đọc được ba chữ ở góc: “diêm thổ” và “cửa Tây”. Nét chữ của Trương Nguyên Chương, ta đã đối chiếu với các sớ tấu của hắn trong ba tháng qua.
Ta cầm mẩu giấy đưa lên gần mắt. Ngửi.
“Tro tuổi một canh giờ,” ta nói. “Không quá một canh giờ.”
Chàng đứng cạnh án thư, đôi tay đặt trên chuôi kiếm.
“Nghĩa là hắn cháy giấy khi chỉ vua vừa được ban ra. Có kẻ báo trước.”
“Nội gián.”
“Trong Ngự sử đài, hoặc trong Đô sát viện.”
Ta không đáp. Chuyện nội gián sẽ tính sau. Bây giờ chuyện gấp là bắt Trương.
Ta đi vòng thư phòng một vòng. Nền gạch có một viên hơi lệch. Ta cúi xuống, dùng đầu ngón tay bẩy lên. Bên dưới là một mảng gỗ. Gỗ ẩm, mùi hôi mốc bay ra như từ hầm cá.
“Đường ngầm.”
Chàng lại gần. Cùng ta soi đèn xuống. Một cầu thang gỗ hẹp, đủ một người xuống. Ta đưa đèn xuống thăm dò rồi rút lên.
“Đường này chảy về hướng Tây bắc. Ra phường Nam là ngắn nhất. Nhưng phường Nam có tiệm bạc Diệp Nương, phường Nam có thị vệ tuần đêm. Hắn không dại đi phường Nam.”
Chàng nhìn ta.
“Ngươi đoán hắn đi đâu?”
Ta thẳng lưng. Nhớ lại tất cả những gì đã biết về Trương Nguyên Chương.
“Trương có tiểu thư sinh ra ở phủ Kinh Triệu, tây bắc Biện Kinh. Ba tháng trước hắn cho tiểu thư về nhà ngoại nghỉ dưỡng. Chuyện đó không lạ, nhưng ba tháng là hơi dài. Hắn đã bố trí lối chạy từ trước. Cửa Tây thành. Đường quan lộ Tây. Đi qua Ngũ Lý đình, đổi ngựa dịch trạm, tiếp tục Tây tới phủ Kinh Triệu. Nếu chạy được, hắn sẽ ẩn ở đó, chờ liên hệ mạng lưới cũ.”
Ta ngẩng lên.
“Chàng đã cho chặn cửa Tây thành chưa?”
“Chặn rồi.”
“Vậy hắn còn ở trong thành. Hoặc đã ra trước khi thị vệ đóng cửa.”
“Cửa Tây đóng canh tư giữa. Từ đây đến cửa Tây là một canh giờ. Nếu hắn cháy giấy canh tư đầu, hắn đã ra khỏi thành trước khi chặn.”
Ta nhắm mắt tính lại. Chàng nói đúng. Trương đã ra trước.
“Ngựa nhanh của Trương phủ có mấy con?”
Quản gia được điệu tới. Hỏi. Đáp: “Ngựa Phi Vân, con tốt nhất. Cách đây một canh giờ hắn đã cưỡi đi.”
“Áo mặc?”
“Áo dài xanh vải bố. Không phải quan phục.”
“Khăn?”
“Có khăn nâu che nửa mặt.”
Ta gật đầu.
“Hắn giả thương nhân. Đi đường quan lộ Tây, đích Kinh Triệu. Chúng ta còn kịp.”
…
Sương dày hơn khi ra khỏi thành. Cửa Tây thành đã có mười thị vệ đứng gác, hai bên trái phải là đèn dầu vàng nhợt. Chàng cho lệnh mở cửa. Cửa gỗ nặng kêu ken két, mở ra một khoảng sương trắng như đổ vôi.
Ngoài thành là đồng, đồng qua rồi tới đường quan lộ Tây. Đường thẳng, hai bên trồng dương liễu. Đại Tống trồng liễu để che nắng cho khách bộ hành, nhưng đầu đông thì liễu đã trụi lá, chỉ còn cành khô vươn vào sương như những bàn tay xương.
Đội truy bắt mười hai thị vệ. Chàng dẫn. Ta đi cạnh. Bích Đào, trợ lý ta, đi phía sau.
Ngựa phi.
Vó ngựa gõ trên đường đá lát nghe từng nhịp một. Ta cúi thấp người xuống cổ ngựa, để gió sương không hắt vào mặt. Áo choàng của chàng còn quấn vai ta, mùi ám thoáng của trầm hương và mực. Mùi thư phòng chàng.
Một dặm. Hai dặm. Ba dặm.
Không thấy bóng người nào trên đường.
Ta nghĩ về cha.
Thẩm Cát. Ngỗ tác Đại lý tự. Chết bất minh hai năm trước. Bia mộ ở nghĩa trang cửa Nam khắc tám chữ: “Tận trung phá án, chết oan không rõ.” Ngày ta trọng sinh, ta ngồi trên bia mộ đó nói với cha một câu: ta về rồi cha, ta biết pháp y hơn cha nghìn năm.
Hai năm rưỡi. Từ ngày đó đến giờ.
Bây giờ ta cưỡi ngựa trên đường quan lộ Tây, đuổi theo người đã giết cha ta. Đường xa mười dặm mà ta thấy như hai năm rưỡi.
Trong ngực ta, dưới lớp áo tù chưa kịp thay, vòng cổ hạt châu đỏ chàng để trước cửa phòng ta đêm đầu ở tương phủ nằm im lặng. Ta đã đeo suốt ba ngày trong ngục. Không ai thấy vì nằm dưới cổ áo. Nó ấm hơn mọi thứ khác ta có trên người lúc đó.
Ta đưa tay chạm nhẹ vào chỗ cổ. Vòng còn.
Chàng cưỡi ngựa trước ta nửa thân. Không quay lại. Nhưng vai chàng thẳng, tay cầm cương chắc. Ta biết chàng cũng đang nghĩ về cha chàng. Lục thượng thư. Chết ba năm trước.
Người ta đuổi, giết cả cha ta và cha chàng.
Ta siết dây cương chặt hơn.
Bốn dặm. Năm dặm.
Đến Ngũ Lý đình.
Đình gạch nhỏ bên đường, mái ngói đã cũ, cột gỗ mục. Bên trong đình có ông lão trông đình, đang thổi lửa nấu ấm nước. Chàng xuống ngựa, ta xuống theo.
“Có ai đi qua đây trong canh giờ vừa rồi không?”
Ông lão nhìn lên. Mắt đục.
“Có. Một người áo xanh vải bố, khăn che nửa mặt, ngựa lông trắng. Đi hướng Tây.”
“Bao lâu rồi?”
“Uống một chén trà thì đi. Cách đây độ nửa canh giờ.”
Chàng nhìn ta. Ta gật.
“Nửa canh giờ. Đến dịch trạm Ngũ Lý là năm dặm nữa. Hắn sẽ đổi ngựa ở đó. Ta còn kịp.”
Chàng đưa cho ông lão một quan tiền. Ông lão nhận, cúi lạy. Chàng và ta lên ngựa.
Sáu dặm. Bảy. Tám.
Đường quan lộ chuyển hướng chút, chạy men theo bờ kênh nhỏ. Mặt nước đen phẳng như gương, phản chiếu bóng cành liễu khô. Ta nhìn xuống mặt nước, thoáng thấy khuôn mặt mình: gò má hõm, môi trắng, sẹo nhỏ trên môi trên vẫn còn dấu. Ba ngày ngục làm ta trông giống hồn ma hơn giống người.
Chín dặm.
Mười dặm.
Dịch trạm Ngũ Lý hiện ra trong sương.
…
Dịch trạm nhỏ. Mái ngói xám. Sân trước có một hàng cột buộc ngựa. Cột thứ ba có một con ngựa lông trắng. Cạnh cột thứ ba là một tên tiểu nhị đang xách nước rửa cho ngựa.
Chàng ra hiệu. Đội thị vệ dừng ngựa cách dịch trạm nửa dặm. Bố trí thành hình bán nguyệt bao quanh sân sau, chỉ chừa cửa trước.
Chàng, ta, và bốn thị vệ đi bộ vào từ cửa trước.
Ta đi trước.
Ta biết vì sao ta đi trước. Ta là ngỗ tác. Ta không phải quan phá án. Trương Nguyên Chương nhìn ta sẽ khinh, sẽ không đề phòng. Chàng và thị vệ đi sau ta, khi Trương chú ý ta thì thị vệ đã có thời gian bao. Chàng đã hiểu và không ngăn.
Bên trong dịch trạm, ba bàn gỗ. Bàn giữa có một người ngồi. Áo dài xanh vải bố. Khăn nâu che nửa mặt. Trước mặt hắn là một chén trà nóng, bốc khói mỏng.
Ta bước tới.
Bàn hắn không có vệ sĩ. Không có gia đinh. Chỉ một mình.
Ta ngồi xuống đối diện, tự nhiên như một khách lỡ đường tìm chỗ ngồi ké.
Người khăn nâu ngẩng đầu.
Hai mắt.
Ta nhận ra đôi mắt đó. Ta đã nhìn đôi mắt đó ba lần trong triều đình khi ta theo chàng vào ngoài phiên. Một lần Trương Nguyên Chương liếc qua ta khinh khỉnh, hai lần hắn giả bộ không thấy.
Bây giờ đôi mắt đó nhìn ta. Đứng lại. Trong một tích tắc, ta thấy nó co lại.
Hắn nhận ra.
Ta không cần rút khăn hắn. Ta chỉ nói khẽ, đủ để hắn nghe:
“Trương thượng thư. Đường Tây khó đi.”
Hắn không đáp. Bàn tay hắn để trên bàn, ngón cái ngón trỏ đã bấu lấy nhau. Vết sẹo dọc lòng bàn tay trái lộ ra bên dưới ống tay áo khi hắn xoay cổ tay. Sẹo cũ hai mươi năm. Cha ta đã ghi trong sổ tay: “T.N.C. thuận trái. Sẹo dọc bàn tay trái, dài một tấc.”
Ta ngồi thẳng. Không rời mắt hắn.
Bốn thị vệ đã tiến vào phòng. Chàng đứng ngay sau ta.
Trương Nguyên Chương chậm rãi tháo khăn.
Khuôn mặt hắn giấu dưới khăn khô như một tờ giấy bị phơi. Râu chưa cạo, tóc rối. Mắt vẫn sáng, nhưng không còn cái sáng lạnh của kẻ đứng trong triều đình. Là cái sáng đục của con thú bị dồn.
Hắn đặt khăn xuống bàn.
“Ngươi là con của Thẩm Cát.”
Không phải hỏi. Là khẳng định.
Ta gật.
“Đúng.”
Hắn cười. Cười một tiếng ngắn, khàn.
“Ngươi là con gái.”
Ta không đáp.
Hắn nhìn sang chàng, đứng sau ta. Rồi nhìn lại ta.
“Lục Vô Ngạn. Con trai Lục Chương. Con của kẻ ta giết đầu tiên. Con gái Thẩm Cát. Con của kẻ ta giết sau. Hai đứa con của hai người chết. Đến bắt ta cùng nhau. Trời cũng có mắt.”
Ta không nói. Ta biết đây là lúc hắn giễu. Kẻ như hắn khi bị dồn vào chân tường sẽ dùng lời mỉa mai để giữ được chút thể diện cuối. Ta để hắn nói.
Hắn chậm rãi nâng chén trà lên. Uống một ngụm.
“Ta giết cha ngươi vì hắn tra ra vụ diêm thổ. Ta biết đêm đó hắn về nhà sẽ viết sớ. Ta không thể để sớ đó lên triều. Ta cho người chờ ở đường về nhà hắn, đâm hắn ở góc phường Bắc. Hắn kêu được nửa tiếng thì tắt.”
Ta ngồi im. Không chớp mắt.
Ta biết chi tiết vụ giết cha từ trước. Chàng và ta đã ghép ra từ ba tháng nay. Nhưng nghe hắn nói ra bằng chính miệng hắn, thẳng, không giấu, không hối, ta thấy một cái gì đó bên trong ta lạnh lại một tầng nữa. Không phải phẫn nộ. Là một loại lạnh không có nhiệt độ, giống nền đá ngục Đại lý tự canh năm.
Hắn đặt chén trà xuống.
“Ta không hối. Cha ngươi biết luật chơi ở triều đình. Ai đứng cản đường ta, ta dẹp. Cha ta xưa cũng dạy ta như thế. Ta giết Thẩm Cát. Ta giết Lục Chương. Ta giết cả năm đứa trẻ ở phường Bắc để tăng tuổi thọ khi ta đau tim ba năm trước. Ta không hối gì.”
Chàng đứng sau ta không động. Ta cảm giác được tay chàng đã đặt trên chuôi kiếm. Nhưng chàng không rút. Chàng chờ ta.
Ta cúi xuống, đặt bàn tay lên bàn. Ngón tay ta vẫn còn dấu xích cổ tay. Ta để cho hắn thấy.
Ta nói, giọng bằng, không cao không thấp:
“Trương thượng thư. Ngài không hối vì ngài không biết hối. Người biết hối sẽ không cần ai nói cho biết. Người không biết hối thì có nói cũng vô ích. Cho nên ta không nói.”
Ta ngẩng đầu.
“Ta chỉ nói một câu.”
Ta ngừng. Nhìn thẳng mắt hắn.
“Vậy hôm nay, ta cũng không hối.”
Sương ngoài dịch trạm dày lên một tầng nữa, ùa qua khe cửa vào phòng, đọng trên bàn thành một lớp mỏng.
Trương Nguyên Chương nhìn ta lâu. Rồi hắn quay đầu, phun một tia trà xuống nền gạch.
Chàng bước lên. Rút kiếm ra khỏi vỏ. Đầu kiếm chạm nhẹ vào cổ Trương Nguyên Chương, cách chưa đầy nửa tấc.
“Trương Nguyên Chương. Ta phụng chỉ vua bắt ngươi. Buông tay khỏi bàn. Đứng dậy.”
Trương Nguyên Chương đứng dậy. Không giằng co. Kẻ như hắn biết lúc nào phải im.
Thị vệ tiến vào. Xích tay. Xích chân. Xích cổ.
Ta đứng bên. Nhìn xích khoá lại nghe từng tiếng một.
Bên ngoài, trời bắt đầu sáng thật sự. Sương tan dần. Mặt trời đầu đông đỏ nhạt hiện ra sau đường viền núi phía Đông. Trên đường quan lộ Tây, còn thêm ba thị vệ dẫn ngựa trắng của Trương đi ra. Bích Đào đứng ngoài sân, tay cầm cương ngựa nâu của ta, chờ.
Chàng đứng cạnh ta. Không nói.
Ta đưa tay lên chỗ cổ, chạm nhẹ vào vòng cổ hạt châu đỏ dưới lớp áo. Còn ấm.
Ta thở ra một hơi. Hơi thở ra thành khói trắng.
“Về Biện Kinh,” ta nói.
Chàng gật đầu.
Chúng ta ra sân dịch trạm. Thị vệ đưa Trương lên xe tù. Xe tù có cửa gỗ, ba tấm chấn song sắt. Trương ngồi trong đó, tay xích, cổ xích. Mắt vẫn nhìn ra, vẫn cái nhìn của người không hối.
Ta không nhìn hắn nữa.
Ta lên ngựa. Chàng lên ngựa. Bích Đào lên ngựa. Đội truy bắt quay đầu về hướng Biện Kinh.
Trên đường về, chàng cưỡi ngựa sát ta hơn. Vai chàng gần vai ta.
“Ba ngày trong ngục,” chàng nói. Giọng khô hơn thường lệ.
Ta không đáp ngay. Nhìn phía trước. Đường quan lộ Tây trải dài, cây liễu khô hai bên như hàng bút mực đỏ cắm ngược xuống đất.
“Ta viết chữ. Ta không nghĩ.”
“Ba ngày ngươi không ăn.”
“Ta ăn hai bữa. Cơm nguội.”
Chàng im một lúc.
“Sau khi giao Trương cho vua, ta xin phép về tương phủ nghỉ ba ngày. Ngươi cũng thế.”
Ta nhìn chàng.
“Được.”
Chàng đưa tay, gạt một vệt sương trên má ta. Ngón tay chàng ấm hơn ta tưởng, so với mọi thứ ta chạm trong ba ngày qua. Ta để yên.
Xa xa, cửa Tây thành Biện Kinh hiện dần trong ánh sáng đầu ngày.
Gieo gió gặt bão. Cha ta viết câu đó trong sổ tay cuối cùng trước khi chết. Ta đã đọc câu đó hàng chục lần trong hai năm rưỡi. Hôm nay ta hiểu. Trương Nguyên Chương gieo hai mươi năm. Gặt trong nửa canh giờ.
Nhưng ta biết chưa xong. Hắn còn phải khai. Còn cả mạng lưới diêm thổ. Còn em trai hắn. Còn nội gián trong triều đã báo trước cho hắn chạy.
Ta siết nhẹ dây cương.
Sau lưng đoàn ngựa, từ trong xe tù, có một giọng khàn vọng ra, chỉ đủ để mình ta nghe:
“Ngỗ tác. Ngươi tưởng bắt được ta là xong? Người đưa tin cho ta chạy đêm đó, ngồi cao hơn ta. Ngươi còn lâu mới đụng tới được.”
Ta không quay đầu lại. Nhưng tay siết dây cương chặt hơn một nấc.
Đường về Biện Kinh vẫn còn mười dặm nữa. Con đường thật, có lẽ, còn dài hơn thế.