Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 31: Điều Tra Toàn Cục
Ngục Đại lý tự nằm dưới lòng đất, ba bậc đá xuống sâu ba trượng.
Trương Nguyên Chương bị giam từ đêm bắt ở dịch trạm Tây tới nay đã hơn bốn tháng. Một nhất phẩm đại thần phạm trọng tội không thể xử vội, mỗi bước đều phải có chỉ dụ, từ tịch biên gia sản, tra xét đồng phạm, đến cho phép thẩm vấn chính thức có ngỗ tác ngồi ghi lời khai. Ba lần chỉ dụ bị bác vì thiếu thủ tục, ba lần Vương Ngự sử phải dâng sớ lại. Sáng nay, chỉ dụ thứ tư mới xuống.
Ta xuống ba bậc, hai tay giấu trong tay áo, một hộp gỗ nhỏ đựng bút mực đỏ và xấp giấy dó cắt sẵn dưới cánh tay. Không mang hộp dụng cụ khám xác. Bảy ngày sắp tới ta không khám xác. Ta khám lời khai.
Bậc đá lạnh dưới đế giày. Sương đá ẩm, hơi bốc lên từng khối. Kiếp trước ta có xuống một hầm nhà xác lạnh dưới hai độ, kiếp này ta xuống một ngục đá dưới ba trượng. Nhiệt độ khác một chút. Cảm giác dưới xương sống giống nhau.
Cánh cửa gỗ dày ở cuối bậc đá. Cửa mở. Hai thị vệ cúi mình cho ta đi qua.
Trong phòng tra khảo có ba ngọn đèn dầu treo trên ba cột đá. Ánh vàng đọng như những vũng nhỏ trên nền đá. Không khí có mùi máu khô, mùi mồ hôi cũ, mùi giấy dó ẩm.
Trương Nguyên Chương ngồi trên một cái ghế sắt, hai tay bị xích ra hai bên. Áo lụa nâu đã cởi, chỉ còn áo trong màu xám. Tóc hắn vẫn buộc gọn, cạo râu chưa mọc lại. Sáu mươi tuổi. Da mặt nhẹ nhàng như một quan văn về hưu, chỉ ánh mắt vẫn giữ một mảnh dao.
Vương Chí Kính, Ngự sử, ngồi bàn bên phải. Trước mặt là một chồng giấy dó đã chấm mực. Vương không nhìn Trương. Chỉ đọc, chấm, gạch.
Lục Vô Ngạn đứng bên trái, áo đen, hộ oản gỗ trên tay trái không rời. Chàng thấy ta vào, cúi đầu một nhịp rất nhẹ, ra hiệu ngồi.
Ta cúi mình với Vương Ngự sử. “Hạ quan Thẩm Yên.”
Vương gật đầu, không nói. Đưa tay chỉ ghế đối diện Trương.
Ta ngồi. Đặt hộp gỗ lên bàn nhỏ. Mở nắp. Rút bút. Chấm mực đỏ. Ghi ngày.
“Nguyên Phong thứ sáu, tháng ba, ngày mười hai, giờ Thìn.”
Bảy chữ ấy sẽ mở đầu bảy trang giấy trong bảy ngày tới.
Trương Nguyên Chương ngẩng đầu nhìn ta. Miệng khép. Mắt hắn tìm mắt ta.
Ta không tránh. Nhìn thẳng.
“Ngươi.” Hắn nói khẽ. “Ngỗ tác.”
“Hạ quan.”
“Ngươi ghi lời khai của ta?”
“Hạ quan ghi.”
“Ta không khai.”
“Được.” Ta chấm mực. “Hạ quan cũng ghi câu ngươi vừa nói. Ngày một, giờ Thìn: ‘Ta không khai.’ Ghi rõ.”
Ta viết. Bút mực đỏ chạm giấy dó, tiếng nhẹ như cào cỏ.
Trương im ba nhịp thở. Rồi hắn quay đầu, không nhìn ta nữa.
Vương Ngự sử vẫn đọc giấy. Không ngẩng lên.
Ngày thứ nhất trôi qua như một tảng đá lún dần vào nước.
Có ba lần Trương mở miệng, ba lần chỉ nhổ nước bọt xuống nền đá. Ta ghi cả ba lần. “Nhổ. Nhổ. Nhổ.” Kèm giờ. Không thêm hình dung.
Ta không cần thêm. Ba chữ ấy sẽ có sức nặng riêng của chúng.
Ra khỏi ngục, ánh sáng đầu tháng ba đập vào mắt như một tấm gương vỡ. Ta nheo mắt. Lục đi bên cạnh, không nói. Vương lên xe ngựa về Ngự sử đài.
Trước cửa Đại lý tự, chàng dừng lại. “Ngươi mệt?”
“Không mệt.” Ta nói. “Bảy ngày. Hạ quan tính đến ngày bảy.”
Chàng gật.
Ngày thứ hai. Ngày thứ ba.
Trương vẫn không khai. Đội tra khảo dùng đến hình cụ. Ta ngồi ghi. Vương Ngự sử ngồi ghi. Trương chịu.
Ngón chân bị kẹp bằng gỗ vuông. Không kêu. Da đầu bị vuốt bằng đầu roi rễ tre. Không kêu. Đến canh giờ Ngọ, đội tra khảo dừng, cho hắn uống chén nước lạnh. Hắn uống.
Ta ghi. Bút đỏ chấm giấy dó.
“Ngày hai, giờ Ngọ. Trương Nguyên Chương uống nước. Không nói.”
“Ngày hai, giờ Mùi. Trương Nguyên Chương uống nước. Không nói.”
“Ngày ba, giờ Thìn. Trương Nguyên Chương ngủ ngồi. Không nói.”
Đội tra khảo trưởng, một võ quan tên Bùi Tam, đến gần Lục Vô Ngạn thầm thì. “Đại nhân. Hắn cứng. Bảy ngày này e không đủ.”
Lục quay sang ta. Không nói. Chỉ nhìn.
Ta cụp mắt. Rút trong tay áo một mảnh giấy dó nhỏ, gấp bốn. Đưa Lục.
Chàng mở. Đọc. Gật một cái.
Mảnh giấy dó ấy ta viết đêm qua, trong thư phòng tương phủ. Chỉ một dòng.
“Sáng ngày bốn, đưa hồ sơ Thẩm Cát vào. Đặt trên bàn trước mặt hắn. Đừng nói gì.”
Chàng đưa lại cho Bùi Tam. Bùi Tam đọc, gật. Không hỏi.
Ngày thứ tư. Giờ Thìn.
Ta bước xuống ba bậc đá. Trên tay không có bút. Trên tay có một tập hồ sơ giấy dó, buộc chỉ đỏ, bìa ố vàng đề bốn chữ đen: “Thẩm Cát vụ.”
Đây là bốn tờ giấy hồ sơ ngỗ tác của cha ta, hai năm trước. Cha ta chết bất minh, hồ sơ chỉ có bốn tờ. Bốn tờ ấy đến hôm nay ta mới lôi ra khỏi ngăn tủ tương phủ.
Không phải để đọc.
Để đặt.
Ta đặt tập hồ sơ trước mặt Trương Nguyên Chương. Trên bàn đá. Cách hắn một sải tay. Không mở dây chỉ đỏ. Chỉ đặt.
Hắn liếc xuống. Đọc bốn chữ đen. Mí mắt hắn động một cái rất nhẹ.
Ta ngồi vào ghế đối diện. Rút bút. Chấm mực. Không nói.
Vương Ngự sử vẫn đọc giấy. Lục Vô Ngạn đứng cạnh cột đá.
Ngày thứ tư, ta không viết một chữ nào cho đến giờ Ngọ.
Đến giờ Ngọ, Trương mở miệng.
“Bốn tờ giấy.” Hắn nói. Giọng khàn. “Đại lý tự khoá đóng vụ Thẩm Cát năm niên hiệu thập tứ. Ta ký.”
Ta chấm mực. Ghi câu ấy nguyên văn.
“Ai ký cho ngươi?” Ta hỏi. Không ngẩng đầu.
“Đại lý tự thiếu khanh khoá đó. Chức đã đổi ba lần.”
“Ai bảo hắn ký?”
Trương im.
“Ai bảo hắn ký?” Ta hỏi lại. Vẫn không ngẩng.
Trương thở ra. Rất nhẹ.
“Ta bảo.”
Ta ghi ba chữ. “Ta bảo.”
Chấm câu bằng một dấu chấm đỏ.
Vương Ngự sử ngẩng đầu lần đầu tiên trong bốn ngày.
Nhìn Trương. Rồi nhìn ta. Rồi cúi xuống, ghi.
Từ giờ Ngọ ngày bốn, tảng đá bắt đầu lún nhanh hơn.
Ta không hỏi Trương về Thẩm Cát nữa. Câu ấy đủ. Ta chuyển sang diêm thổ.
“Ngươi buôn diêm thổ trong bao nhiêu năm?”
“Bảy năm.”
“Nguồn từ đâu?”
“Núi Hoài Bắc. Ta có người thân trong quân khố.”
“Ai giao dịch với Vương Kiêu?”
“Em trai ta. Trương Nhị Lang.”
“Ai giao dịch với thầy lang Đường Thanh?”
“Cũng em trai ta.”
Ta ghi. Bút mực đỏ chạy trên giấy dó, tiếng nhẹ như sương rơi. Tay ta không run. Tim ta cũng không run. Ta chỉ đang chép một tờ khai bằng ngôn ngữ hai kiếp.
Kiếp trước ta chép biên bản khám nghiệm cho bệnh viện, một loại. Kiếp này ta chép lời khai cho triều, một loại khác. Cả hai đều là chép sự thật.
Đến canh giờ Mùi, Trương xin nước. Uống chén. Ngẩng đầu nhìn ta.
“Ngươi giống cha ngươi. Ta biết ngươi giống hắn ngay từ lần đầu ngươi đứng trước ta.”
Ta không đáp.
Hắn cười một cái rất mỏng. “Hắn cũng cứng. Ta hỏi mãi, hắn không khai. Cuối cùng ta phải giết. Ngươi biết ta giết bằng gì?”
Ta ngẩng đầu lần đầu tiên. Nhìn hắn thẳng.
“Ngươi bóp cổ.” Ta nói. “Từ sau lưng. Kéo về bên phải. Ngón cái ép vào xương móng. Xương móng nứt ngang.”
Trương im.
“Vợ ngươi cũng vậy.” Ta nói. “Trương Bảo Nhi. Ta đã khám lại năm năm sau. Vết hằn dây thừng, xương móng nứt. Ngươi quen tay. Ngươi giết ba mạng trong bảy năm bằng cùng một kiểu. Ngươi nên đổi tay ít nhất một lần.”
Trương nhìn ta lâu. Rất lâu.
Rồi hắn ngả đầu ra sau, tựa vào lưng ghế sắt. Nhắm mắt.
“Ta biết ngươi sẽ đến tìm ta.” Hắn nói. Giọng nhỏ. “Từ ngày ta biết Thẩm Cát có con. Ta không giết ngươi khi ngươi còn bé vì ta tưởng ngươi là con trai. Con trai của một ngỗ tác thì đi được đến đâu. Ta nhầm. Ngươi là con gái. Con gái đi được xa hơn ta tưởng.”
Ta không đáp.
Vương Ngự sử đặt bút xuống. Ngón tay ông chạm nhẹ vào chồng giấy dó. Không nói. Nhưng ta biết ông đã ghi câu vừa rồi.
Lục Vô Ngạn đứng cạnh cột đá, không động. Ánh đèn dầu vàng chảy trên một bên má chàng. Bên kia má chàng chìm trong bóng.
Ta chấm mực. Ghi thêm.
“Ngày bốn, giờ Mùi. Trương Nguyên Chương xác nhận: giết Thẩm Cát.”
Ta gạch dưới ba chữ “giết Thẩm Cát” bằng bút đỏ.
Ba chữ ấy trong lòng ta đợi hai kiếp. Trên giấy dó chỉ mất ba nhịp thở để viết ra.
Kiếp trước ta chép biên bản một xác chết bị đâm sau lưng, không có tên kẻ giết. Kiếp này ta viết ra được cả tên. Đó là khoảng cách của hai kiếp: một cái tên.
Ngày năm. Ngày sáu.
Trương khai mạng lưới.
Ta ghi. Từng cái tên. Từng chức. Từng ngày giao dịch. Từng số bạc. Từng lô diêm thổ.
Danh sách thành hình. Ta ghi bằng bút đỏ, xếp thành cột.
Trương Nhị Lang, em trai. Trực tiếp giao dịch với Vương Kiêu và Đường Thanh.
Hồ Bảng Nguyên, Lễ bộ tả thị lang. Bao che vụ diêm thổ trong triều.
Diêu Duy Kính, Lễ bộ hữu thị lang. Cùng bao che.
Bùi Thịnh, thị lang bộ Công. Cung cấp giấy phép giả cho việc vận chuyển diêm thổ.
Cao Trọng Chi, Ngự y viện phó sứ. Cung cấp thuốc mê cho vụ Đường Thanh.
Ta đếm đến người thứ mười hai.
Mười hai người.
Ba trong triều Lễ bộ. Hai trong bộ Công. Hai trong quân khố. Ba trong Ngự y viện. Một trong Ngự sử đài (một tên trẻ, Vương Ngự sử nghe đến tên nhíu mày). Một cuối cùng là em trai Trương.
Trong mười hai người, có sáu người từng đến phủ Trương ăn tiệc trong ba tháng gần đây. Có ba người từng dâng lễ vào ngày sinh Trương. Có một người là hôn thân của em họ Trương.
Mạng lưới không phải mạng nhện. Là một dòng máu chảy qua triều đình. Bảy năm. Nhiều huyết mạch nhỏ đổ vào một tim.
Đêm ngày sáu, ta ngồi trong thư phòng tương phủ Lục. Một mảnh giấy dó lớn trải trên bàn. Ta vẽ mạng lưới bằng bút mực đỏ. Trương Nguyên Chương ở giữa. Mười hai tên chạy vòng ra như những nhánh xương ngón tay.
Lục Vô Ngạn đứng sau ta, nhìn xuống.
“Một phần ba Lễ bộ.” Chàng nói khẽ.
“Đúng.”
“Trong ba bộ, sáu người có mối liên hệ họ hàng với Trương.”
“Đúng.”
“Vua sẽ rúng động.”
“Đúng.”
Ta chấm mực. Vẽ thêm một mũi tên đỏ từ Trương Nguyên Chương chạy ra ngoài mạng lưới. Mũi tên chỉ vào một chữ ta viết ở góc trên: “Thẩm Cát.”
Chàng nhìn mũi tên ấy. Không nói.
Ta đặt bút xuống.
“Bảy năm hắn xây mạng lưới này.” Ta nói. “Cha ta điều tra được, hắn giết cha ta. Cha ngài điều tra được, hắn giết cha ngài. Vợ hắn biết được, hắn giết vợ hắn. Nô tì Uyển Cầm biết được, con hắn giết. Năm đứa trẻ biết được, thầy lang của hắn giết. Phú thương Lâm biết được, đầu bếp của em hắn giết. Bảy năm, mười một người chết vì mạng lưới này, chỉ tính người ta biết.”
Ta dừng.
“Có bao nhiêu người chết vì mạng lưới này ta chưa biết.”
Chàng đặt tay lên vai ta. Chỉ đặt. Không nói. Không nắm.
Sương phường Nam đang xuống ngoài cửa sổ thư phòng. Đèn dầu trên bàn cháy vàng đều. Trên trang giấy dó lớn, mực đỏ khô dần thành màu nâu.
Ta hít vào. Hít ra.
“Ngày mai.” Ta nói. “Bắt mười hai người.”
Chàng gật.
Ngày thứ bảy. Đêm.
Đại lý tự dàn thị vệ ra mười hai hướng của Biện Kinh.
Bắt cùng lúc, canh giờ Tý.
Ta ngồi trong phòng làm việc của Lục Vô Ngạn, trước bản đồ Biện Kinh phủ mực đỏ đánh dấu mười hai điểm. Vương Ngự sử ngồi đối diện, cũng chờ. Chén trà giữa hai người đã nguội.
Từ giờ Tý đến giờ Sửu, có ba thị vệ phi ngựa về báo.
“Bùi Thịnh, thị lang bộ Công. Đã bắt. Trong nhà tìm được giấy phép giả năm mươi tấm.”
“Hồ Bảng Nguyên, Lễ bộ tả thị lang. Đã bắt. Trong nhà tìm được sổ ghi diêm thổ ba năm.”
“Trương Nhị Lang, em trai Trương Nguyên Chương. Đã bắt. Định trốn đường thuỷ, thị vệ chặn cửa Đông.”
Đến canh giờ Sửu, cả mười hai đều đã ở ngục Đại lý tự.
Vương Ngự sử đặt chén trà xuống. “Xong.”
“Xong.”
Ông đứng dậy. “Sáng mai ta dâng biểu lên vua. Ngươi có muốn đi cùng?”
Ta lắc đầu. “Hạ quan là ngỗ tác. Việc dâng biểu là việc của đại nhân.”
Vương gật. Nhìn ta một lát.
“Thẩm Yên.”
“Có.”
“Cha ngươi năm đó ta chỉ gặp một lần. Ở phòng khám tử thi Đại lý tự, ba tháng trước khi hắn chết. Hắn đang khám một xác thầy lang. Ta hỏi hắn: ‘Ngươi khám ra được gì?’ Hắn đáp: ‘Ngỗ tác không thấy được cả sự thật, chỉ thấy được một mảnh sự thật.’ Ta ghi câu ấy. Ta không quên.”
Ta cúi đầu.
“Đêm nay ngươi thấy cả sự thật.” Vương nói. “Chỉ chưa đủ. Cha ngươi ba tháng sau đó chết. Ngươi hai năm sau tự đứng dậy. Ta thấy huyết thống nghề trong ngươi.”
Ta không đáp. Chỉ cúi thấp hơn.
Vương ra khỏi phòng. Bước chân ông đều đều xuống hành lang gỗ, rồi mất hút sau cửa lớn.
Ta ngồi lại một mình trong phòng làm việc của Lục. Chàng đã ra sân sau kiểm tra ngục. Trên bàn còn tấm bản đồ Biện Kinh, mười hai điểm đỏ, và một chén trà nguội.
Ta cầm chén trà lên. Uống một ngụm. Đắng. Không có vị.
Kiếp trước ta có bao giờ uống trà đắng như thế này không? Có. Đêm trực khuya bên xác chưa lạnh, ta cũng uống trà lạnh đắng. Nhưng đêm ấy chỉ có mình ta và xác. Đêm nay có mười hai người trong ngục, có một vụ án bảy năm sắp kết, có một Vương Ngự sử vừa đọc câu của cha ta cho ta nghe.
Ta đặt chén xuống. Đứng dậy. Đi ra sân sau.
Lục đứng cạnh giếng đá. Ngước lên nhìn trời. Trăng đầu tháng ba mảnh như một sợi chỉ bạc. Sương xuống nhẹ.
Ta đến bên chàng. Không nói.
Chàng cũng không nói.
Chỉ đưa tay khẽ chạm vai áo ta. Như đêm ta cởi vải giấu ngực trong phòng riêng. Như đêm chàng đưa vòng cổ hạt châu đỏ.
Chàng vẫn không nắm tay ta. Không ép.
Nhưng ta biết. Đêm nay chàng đứng đây với ta vì một lời không cần nói ra: cha ngươi và cha ta đêm nay đã có người trả.
Sáng ngày thứ tám.
Vương Ngự sử dâng biểu.
Vua đọc. Vua im nửa canh giờ. Sau đó vua đứng dậy.
Chỉ vua ra khỏi cửa Kính Thiên trong một canh giờ. Chép bằng bút đỏ triều đình, đóng ba dấu ấn ngọc.
“Trương Nguyên Chương, Lễ bộ thượng thư, ba tội: mưu bán quốc khí (diêm thổ chế thuốc súng trái phép), sát hại triều thần (Lục thượng thư, Thẩm Cát ngỗ tác), sát hại chính thê (Trương Bảo Nhi). Ba tội tổng chém, không giam đợi thu quyết. Chém đầu công khai cửa Tây thành, giờ Ngọ ngày mười tám tháng ba.”
“Trương Nhị Lang, em ruột Trương Nguyên Chương, đồng mưu, chém cùng ngày cùng nơi.”
“Mười kẻ đồng phạm còn lại: xử theo pháp, tù giam đợi thu quyết, sung tài sản, phối gia đình về biên viễn.”
“Toàn Lễ bộ đình chức, chờ xét lại. Bộ Công, quân khố, Ngự y viện, đình sáu chức, chờ xét lại.”
Chỉ này đưa xuống, cả Biện Kinh chấn động.
Một phần ba Lễ bộ liên quan. Cả triều nói không dứt trong ba ngày. Có quan sợ đến mức nghỉ ốm giả. Có quan đến Ngự sử đài xin dâng danh sách quà đã nhận của Trương phủ, tự khai. Có nhà quan đêm đó đốt sổ sách trong lò, khói bốc từ ba phường.
Ta không đi xem. Ta không cần xem.
Ta chỉ ngồi trong thư phòng tương phủ, viết lại toàn bộ báo cáo bảy ngày tra khảo bằng chữ chân phương, đóng vào một tập bìa lụa xanh. Tập này sẽ được đưa vào Đại lý tự đình khố, lưu vĩnh viễn. Ngoài bìa ta viết bốn chữ bằng bút mực đen: “Trương án ghi chép.”
Bên dưới bốn chữ ấy, ta viết thêm một dòng nhỏ ba chữ: “Chép bởi ngỗ tác.”
Không ghi tên.
Kiếp trước ta có ghi tên trên biên bản. Kiếp này ta chưa ghi được, vì trong giấy tờ ta vẫn là “Thẩm Yên nam ngỗ tác Đại lý tự.” Chưa phải Thẩm Yên nữ. Chưa được phép.
Nhưng ta biết. Ba chữ “chép bởi ngỗ tác” ấy sẽ đủ. Sau này ai đọc, sẽ hiểu. Sự thật không cần người ta biết tên chép.
Ngày mười tám tháng ba. Giờ Ngọ. Cửa Tây thành.
Ta không đi.
Lục Vô Ngạn đi với tư cách Đại lý tự thiếu khanh. Vương Ngự sử đi với tư cách chứng án. Cả triều đình đi. Cả Biện Kinh đi. Cửa Tây thành ba dặm chật người.
Ta ở nhà. Trong tương phủ.
Ta ngồi trong thư phòng, chấm bút mực đỏ, viết một dòng lên tờ giấy dó cuối cùng của tập báo cáo Trương án.
“Niên hiệu thập lục, tháng ba, ngày mười tám, giờ Ngọ. Trương Nguyên Chương, Trương Nhị Lang. Xử.”
Ba chữ “xử” ta viết một lần, ngắn.
Đặt bút.
Chờ.
Đến giờ Ngọ ba khắc, có tiếng trống ba hồi từ cửa Tây thành vang qua ba phường, chạm đến tương phủ. Trống này không phải trống báo triều. Là trống báo chém.
Ba hồi.
Ba hồi trống ấy nghĩa là hai cái đầu đã rời khỏi hai cái cổ.
Ta nghe trống hết ba hồi, không động. Đèn dầu trên bàn cháy vàng. Ngón tay ta lạnh hơn ta tưởng.
Ta đứng dậy. Ra cửa thư phòng.
Ngoài hành lang gỗ có gió đầu tháng ba lạnh nhẹ. Ta đi ra sân sau. Đi đến giếng đá.
Cạnh giếng có một chậu đất nhỏ, ta trồng ba cây hương thảo từ đầu tháng. Đến hôm nay, cây đã bén, lá xanh lơ lửng trong ánh nắng đầu ngày.
Ta cúi xuống. Đặt tay lên chậu đất.
“Cha.” Ta nói khẽ. “Ta đã về đến chỗ cha rồi.”
Không ai đáp. Chỉ có gió nhẹ luồn qua tay áo ta. Chỉ có mùi hương thảo tươi thoảng lên.
Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu bệnh viện. Kiếp này ta sống đủ dài để nghe ba hồi trống báo chém của kẻ giết cha ta. Ba hồi trống ấy trong đầu ta chưa dứt.
Có lẽ sẽ không dứt.
Cha ta hai năm trước chết. Hồ sơ chỉ có bốn tờ. Đêm nay ta viết thêm được một tờ thứ năm cho cha ta. Tờ ấy có ba chữ đỏ: “kẻ giết cha ta đã bị chém.”
Ta rút quạt lụa gấp trong tay áo. Phất một cái nhẹ. Không phải để che mùi tử thi. Là để lấy hơi.
Trên quạt hai chữ mờ khắc: “chờ ta.”
Ta khép quạt. Bỏ lại tay áo.
“Con về rồi cha. Con còn tiếp.”
Gieo gió gặt bão. Bão hôm nay đã cuốn được kẻ chính. Nhưng trong lòng ta vẫn còn một dòng chưa hết: cha con chết bất minh, oan vẫn còn nợ vài chữ. Con còn phải phá thêm một vòng nữa, để khi bia mộ cha thay lời khắc mới, không phải “chết oan không rõ” mà là “chết trong sạch.”
Ta ngẩng đầu. Trên trời cửa Tây thành có một đám mây trắng đang trôi ngang.
Đằng sau ta có tiếng bước chân trên hành lang gỗ. Chàng về.
Ta không quay lại vội.
Chỉ đứng bên chậu hương thảo, tay khép quạt lụa gấp, đợi chàng bước đến bên.
Chàng dừng lại sau lưng ta, không chạm vào. Giọng chàng vang lên, thấp hơn thường lệ:
“Bảy năm ta chờ ngày hôm nay. Nhưng còn một ngày nữa ta cũng đang chờ. Ngươi biết là ngày nào không?”
Ta không quay lại. Tay ta siết nhẹ quạt lụa gấp.
Ta biết. Nhưng ta chưa dám đáp.