Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 32: Danh Chính Ngôn Thuận
Sau ba hồi trống cửa Tây thành, Biện Kinh im dần suốt nửa tháng.
Không phải im lặng chết. Là loại im lặng của một thành phố vừa nôn hết một khối độc ra khỏi bụng, còn mệt, chưa hết run, nhưng đã thở được. Chợ phường Đông họp lại đông như cũ. Trẻ con lại chạy ngoài ngõ. Chỉ có ba phường quanh phủ Trương cũ vẫn còn mùi khói giấy đốt, chưa tan hẳn.
Ta không ra ngoài nhiều. Đại lý tự sau vụ án lớn có hàng chồng hồ sơ tồn đọng phải dọn, ta ở phòng khám nhỏ từ sáng đến khuya, khám lại từng vụ nhỏ bị gác lại suốt bảy năm Trương còn tại vị.
Xuân qua. Hạ tới.
Thẩm bà, tức mẹ nuôi ta, chuyển vào tương phủ đã được vài tháng, ở khu Tây gần bếp và vườn thuốc. Bệnh bà không nặng thêm, nhưng cũng không nhẹ đi. Trương Y tương phủ ngày nào cũng ghé xem mạch, đổi thuốc. Ta rảnh được canh nào, đều sang ngồi cạnh giường, đọc cho bà nghe vài trang hồ sơ đã đóng, không phải để bà hiểu án, chỉ để bà nghe giọng ta.
Một chiều đầu hạ, Diệp Nương ghé tương phủ, mang theo một hộp bánh đậu xanh mới ra lò.
“Ta nghe tin khắp Biện Kinh rồi.” Diệp Nương ngồi xuống bên giường Thẩm bà, tay vẫn cầm hộp bánh chưa mở. “Trương thượng thư bị chém. Cả nhà hắn lung lay. Ngươi trả được thù cho chú rồi.”
Thẩm bà nằm nghiêng, tay run run nắm lấy tay Diệp Nương. Miệng bà méo một bên, giọng nói khó nghe rõ từ ngày bạo bệnh, nhưng ta hiểu.
“Con… Yên… con…”
“Con biết rồi.” Ta cúi xuống, nắm bàn tay còn lại của bà. “Con đã báo cho mẹ nghe từ đêm đó. Mẹ quên rồi sao?”
Bà lắc đầu nhẹ. Không phải quên. Là muốn nghe lại. Ta hiểu người bệnh nằm lâu một chỗ, cùng một tin vui cũng muốn nghe đi nghe lại, như sợ nói ít thì tin sẽ nhạt đi, sẽ không còn thật.
Ta kể lại. Không kể phần tra khảo dưới ngục, không kể phần máu me. Chỉ kể phần bà cần nghe: cha ta đã có tên trong tờ án cuối cùng, không còn là “chết bất minh” nữa, mà là “chết trong sạch, kẻ giết đã đền tội”.
Thẩm bà khóc. Nước mắt chảy chậm, đọng ở khoé mắt nhăn, không lau kịp. Ta lấy khăn lau cho bà.
Diệp Nương mở hộp bánh, đặt lên bàn nhỏ cạnh giường. Mùi đậu xanh hấp ngọt nhẹ lan trong phòng.
“Bây giờ vụ án xong rồi.” Diệp Nương nói, giọng hạ thấp, liếc ta một cái dò xét. “Ngươi tính sao?”
“Tính gì?”
“Ngươi biết ta hỏi gì.” Diệp Nương đặt tay lên đầu gối, nhìn thẳng ta. “Ngươi giả nam sáu năm. Cả Đại lý tự giờ đã biết ngươi là nữ, chỉ giấu bên ngoài. Vụ án cha ngươi xong, ngươi không còn lý do phải giấu nữa. Nhưng ngươi vẫn giấu. Ngươi định giấu đến bao giờ?”
Ta im một lúc, tay vẫn giữ khăn lau khô trên tay Thẩm bà.
“Ta chưa nghĩ tới.”
“Ngươi nói dối.” Diệp Nương cười nhẹ, không trách. “Ngươi nghĩ tới mỗi đêm. Ta biết ngươi. Ngươi chỉ không dám nói ra.”
Ta cụp mắt.
Đúng. Ta có nghĩ. Từ đêm ngục đá, từ đêm chàng đặt tay lên vai ta bên giếng, ta đã nghĩ. Nhưng nghĩ và nói ra là hai việc khác nhau. Ta là ngỗ tác. Ta quen với việc đợi đủ chứng cứ rồi mới kết luận. Chuyện lòng người, ta chưa có cách khám như khám xác.
“Lục đại nhân định thế nào?” Diệp Nương hỏi tiếp. “Hắn có nói gì với ngươi chưa?”
“Chưa.” Ta đáp thật. “Hắn không nói. Chỉ…”
Ta ngừng.
Chỉ là những cái không nói ấy, ta cảm được nhiều hơn lời. Chàng vẫn đứng sau ta mỗi lần ta khám xác khó. Vẫn để phần cơm nóng nhất cho ta khi về muộn. Vẫn không nắm tay ta, nhưng luôn đứng đủ gần để tay chàng chạm được vai ta nếu ta ngã.
“Hắn chờ.” Diệp Nương nói thay ta, giọng chắc. “Ta đoán hắn chờ ngươi chính danh trước. Hắn là con Lục thượng thư, không thể cưới một ngỗ tác còn đang giả nam giữa triều đình. Việc ấy hại cả ngươi lẫn hắn.”
Ta gật khẽ.
Đúng là vậy. Ta hiểu chàng đủ để biết chàng không phải người vội. Chàng chờ được. Nhưng ta không chắc ta chờ được bao lâu, khi mỗi đêm nằm trong thư phòng khu Đông, một mình, nghe tiếng bước chân chàng đi ngang ngoài hành lang, không dừng lại, cũng không vội đi.
Thẩm bà bóp nhẹ tay ta. Ta ngước lên, thấy bà đang nhìn ta, ánh mắt dù méo mó vì bệnh vẫn rất tỉnh.
“Yên.” Bà nói, chậm, từng chữ một. “Con… đừng sợ.”
Ta nghẹn.
“Con không sợ.” Ta nói. Nhưng giọng ta không vững như ta muốn.
“Con sợ.” Bà lắc đầu nhẹ. “Mẹ… nhìn con… từ nhỏ. Con giấu giỏi với người ngoài. Không giấu được mẹ.”
Ta cúi đầu, áp trán vào bàn tay gầy của bà.
“Con sợ điều gì?” Diệp Nương hỏi khẽ.
Ta im một lúc lâu mới đáp.
“Ta sợ khi ta không còn giấu nữa, mọi thứ ta có bây giờ sẽ đổi khác. Ta sợ chức ngỗ tác ta giữ được là nhờ ta còn mang danh nam. Ta sợ ngày ta chính danh là nữ, triều đình sẽ lấy lại cây dao mổ khỏi tay ta, dù cha ta chết vì công lý, dù ta đã phá được ba vụ án lớn. Luật vẫn là luật.”
Ta nhớ năm ta mười tám, đêm đầu tiên khoác áo ngỗ tác, cha nuôi từng dặn một câu ta chưa hiểu hết lúc đó: “Con làm nghề này, đừng sợ người ta hỏi con là ai. Chỉ sợ ngày con quên mất mình khám xác vì lẽ gì.” Khi ấy ta tưởng cha nói về nghề. Giờ ngồi đây, ta mới hiểu cha nói về chính con người ta.
Sáu năm, ta khám xác vì cha ruột. Vì lẽ công bằng ba chữ “chết bất minh” phải được viết lại. Lẽ ấy hôm nay đã xong. Nhưng con dao mổ trong tay ta không vì thế mà nhẹ đi. Ta vẫn còn hàng trăm xác đã khám qua từng năm, còn Bích Đào đang học nghề dưới tay ta, còn những cô gái khác ngoài kia có thể một ngày nào đó cũng cần một người như ta đứng ra nói: “Nàng ấy không tự vẫn. Có kẻ giết nàng.” Nếu ta rời khỏi nghề chỉ vì sợ chính danh, những cô gái ấy sẽ lại về tay những ngỗ tác nam vốn không thèm nhìn kỹ móng tay một xác nữ tì.
Ta chợt nghĩ tới Bích Đào, giờ này chắc đã ngủ trong gian phòng gần bếp. Con bé mười ba tuổi, tay còn run mỗi lần cầm dao mổ, nhưng mắt chưa từng né tránh một xác nào ta đưa cho nó xem. Nếu ta lùi bước hôm nay, con bé lớn lên sẽ học được điều gì? Rằng cứ giỏi là đủ, hay rằng giỏi mà sợ thì vẫn phải giấu mình cả đời? Ta không muốn dạy nó điều thứ hai.
Diệp Nương im. Không có câu nào để đáp ngay câu ấy. Nàng biết luật Đại Tống rõ hơn ai, buôn bán tiệm ngân trang bao năm, va vào không biết bao quan lại.
“Vậy ngươi định giấu mãi?” Diệp Nương hỏi lại, nhẹ hơn lần trước.
“Ta không biết.” Ta thành thật. “Ta chỉ biết, nếu một ngày ta phải chọn giữa được cưới Lục Vô Ngạn và được tiếp tục cầm dao mổ, ta không biết ta chọn được.”
Câu ấy ta chưa từng nói ra thành tiếng với ai, kể cả với chính mình trong đầu. Nói ra rồi, ta thấy nhẹ hơn một chút, và cũng nặng hơn một chút.
Diệp Nương im lặng một lúc, ngón tay gõ nhẹ lên hộp bánh.
“Ngươi nhớ khi ngươi mới vào Đại lý tự không?” Nàng hỏi, giọng chậm lại. “Ngươi mười tám tuổi, gầy như que củi, ngồi co trong áo ngỗ tác rộng thùng thình, không dám nhìn thẳng ai quá ba nhịp thở. Ta khi đó nghĩ, con bé này sống không quá một năm trong cái nghề này, sớm muộn cũng bị lộ, bị đuổi, hoặc tệ hơn.”
Ta khẽ cười, dù trong lòng không thấy vui trọn.
“Ta cũng nghĩ vậy.”
“Nhưng ngươi sống được sáu năm. Không phải nhờ giấu giỏi. Là nhờ ngươi giỏi thật. Giỏi đến mức người ta quên mất phải hỏi ngươi là nam hay nữ, chỉ còn nhớ ngươi khám xác chuẩn không sai một ly.” Diệp Nương nhìn ta thẳng. “Ngươi nghĩ triều đình giữ ngươi lại vì cái danh ngỗ tác nam, hay vì ngươi là người duy nhất khám ra được vụ Trương Nguyên Chương mà cả Đại lý tự bó tay bảy năm?”
Ta không đáp ngay.
Câu hỏi ấy chạm đúng chỗ ta né tránh nhất. Ta vẫn quen nghĩ mình sống sót nhờ lớp vải giấu ngực, nhờ giọng nói ta luyện trầm xuống, nhờ dáng đi ta tập cứng lại. Ta chưa từng dám nghĩ, có lẽ những thứ ấy chưa từng là thứ giữ ta lại. Thứ giữ ta lại là con dao mổ trong tay, và cái đầu biết đọc ra sự thật dưới lớp da người chết.
“Ta không biết.” Ta đáp thật.
“Ngươi biết.” Diệp Nương lắc đầu, cười buồn. “Ngươi chỉ chưa dám tin.”
Ta cúi nhìn hai bàn tay mình. Ngón tay còn dính một vệt mực đỏ chưa rửa sạch từ sáng, thứ mực ta dùng để khoanh manh mối chính trong sổ án. Sáu năm nay, đôi tay này đã mổ hơn trăm xác, đã lần ra ba vụ án lớn, đã run lên đúng một lần duy nhất, đêm ta tự tay đóng nắp quan tài cha. Đôi tay ấy chưa từng run vì sợ người khác biết ta là nữ. Nó chỉ run vì sự thật, không run vì thân phận.
Có lẽ Diệp Nương nói đúng. Có lẽ ta đã tự dựng lên một bức tường không ai bắt ta phải trèo qua.
Diệp Nương nhìn ta lâu, rồi thở dài, cười khẽ.
“Ngươi lo xa quá. Có khi trời không bắt ngươi chọn.”
“Trời không bắt. Nhưng luật bắt.”
“Luật do người viết ra.” Diệp Nương nói. “Người viết ra thì người sửa được. Ngươi quên vua vừa mới nói với Vương Ngự sử rằng cả kinh thành nợ ngươi một cái ơn sao? Ngươi tưởng chỉ có ngươi biết đếm sổ nợ ấy à.”
Ta ngẩng lên nhìn nàng.
“Ý nàng?”
“Ta không biết cụ thể.” Diệp Nương lắc đầu, xua tay. “Ta chỉ buôn vải, không buôn chuyện triều đình. Ta chỉ nói, đừng tự đóng án cho chính mình trước khi vụ chưa xử. Ngươi thường dạy ta câu đó, giờ ngươi tự quên.”
Ta bật cười nhẹ. Đúng là câu ta hay nói.
Thẩm bà trong lúc hai người nói chuyện đã thiu thiu ngủ, tay vẫn nắm nhẹ tay ta. Ta khẽ rút tay ra, kéo chăn mỏng đắp thêm cho bà, dập bớt ngọn đèn dầu cho ánh sáng dịu lại.
Diệp Nương đứng dậy, thu dọn hộp bánh còn thừa, để lại một phần trên bàn cho Thẩm bà lúc tỉnh dậy.
“Ta về.” Nàng nói. “Mùa thu ta lại ghé.”
“Đường xa, cẩn thận.”
Diệp Nương đi tới cửa, dừng lại, quay đầu.
“Yên.”
“Gì?”
“Ngươi thắng được cả vụ án bảy năm. Ngươi thắng được Trương Nguyên Chương. Ta không tin ngươi thua nổi có mỗi chuyện xưng tên mình là nữ.”
Nàng đi. Cửa khép nhẹ sau lưng.
Ta ngồi lại một mình bên giường Thẩm bà, nhìn ngọn đèn dầu cháy lay động theo hơi gió lọt khe cửa. Ngoài sân, tiếng ve mùa hạ rền lên từng đợt, rồi tắt, rồi lại rền.
Ta rút quạt lụa gấp trong tay áo, mở nhẹ. Hai chữ mờ hiện dưới ánh đèn dầu: chờ ta.
Cha để lại hai chữ ấy, ta chưa từng hiểu hết cha chờ điều gì. Có lẽ cha chờ ta sống được. Có lẽ cha chờ ta trả được oan. Cả hai điều ấy, đến hôm nay ta đã làm xong.
Nhưng còn một điều cha chưa từng dặn, vì cha không biết ta sẽ gặp một người như Lục Vô Ngạn. Điều ấy ta phải tự chờ lấy câu trả lời, không ai chờ hộ ta được.
Ta khép quạt lại. Đứng dậy, thổi tắt đèn dầu còn thắp, chỉ để một ngọn nhỏ nhất cho Thẩm bà đỡ tối.
Ra khỏi phòng, hành lang khu Tây vắng. Xa xa, phía sân sau, có ánh đèn còn sáng trong phòng làm việc của chàng. Ta đứng nhìn một lúc, không bước tới.
Ta chưa sẵn sàng hỏi câu ta cần hỏi.
Tiếng chân gấp vang lên cuối hành lang. Trịnh bá, thở hổn hển, tay cầm một phong thư dán sáp vàng, chạy tới trước mặt ta.
“Thẩm ngỗ tác! Vừa có sứ giả từ cung tới, để lại phong thư này, dặn đích thân ngươi mở, không qua tay ai khác. Người đó không đợi trả lời, lên ngựa đi ngay.”
Ta cầm phong thư. Sáp vàng, dấu triện hình rồng nhỏ đóng ở giữa, khác hẳn dấu triện vuông thường dùng cho công văn Đề Hình Ti hay Đại lý tự. Đây là dấu triện riêng của điện Kim Loan.
Tay ta hơi run khi tách lớp sáp.
Bên trong chỉ có một dòng, nét ngự bút:
Ngày mai, giờ Thìn, vào triều. Mang theo toàn bộ hồ sơ khám cha ngươi.
Không ký tên. Không cần ký tên. Chỉ dấu triện rồng là đủ.
Ta đứng sững giữa hành lang, phong thư trong tay lạnh hơn cả gió đêm hè. Ba vụ án đã đóng. Trương Nguyên Chương đã đền tội. Vậy vì sao vua còn cần xem lại hồ sơ khám cha ta, đích thân, ngay ngày mai?
Xa xa, ánh đèn phòng chàng vẫn cháy, như một ngọn hải đăng nhỏ giữa đêm hè oi ả. Ta nhìn về phía đó một nhịp thở dài, rồi quay bước, không phải về thư phòng khu Đông, mà thẳng tới cửa phòng chàng.
Đêm nay, ta không thể chờ tới mai mới hỏi câu ta cần hỏi.