Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 33: Vua Đồng Ý Hôn
Điện Kim Loan sáng đầu tháng mười một.
Trong điện, sương hôm nay không xuống, mà nắng cũng chưa lên hẳn. Ánh non đầu buổi xuyên qua khe rèm gỗ, đổ xiên xuống bậc thềm đá xám, chiếu đúng vào vai áo tím thẫm của Lục Vô Ngạn đang quỳ trước bệ rồng.
Chàng vừa nói xong bốn chữ.
“Thần xin cưới Thẩm Yên.”
Ta đứng cách chàng hai bước, nghiêng nửa vai về phía cột đá gần nhất. Trong nghề của ta, ta đã đứng bên nhiều xác. Chưa lần nào ta thấy trong lồng ngực có tiếng gõ mạnh như bây giờ, giữa ban ngày, giữa điện triều đình.
Ta không nhúc nhích.
Áo ngỗ tác vải bố đen ta còn mặc. Sáng nay khi thị vệ gọi vào cung, ta chỉ kịp buộc lại tóc, thay đôi giày vải. Không kịp thay áo. Không kịp giả nam thêm một lớp nào nữa. Trên môi ta vẫn cái sẹo nhỏ ta để lại từ năm mười ba, giấu nét nữ suốt sáu năm. Sẹo ấy đêm qua chàng đã chạm bằng ngón tay khô lạnh, trong thư phòng tương phủ.
Bây giờ trên điện, giữa bá quan xếp hai hàng dọc, ta là Thẩm Yên. Ngỗ tác Đại lý tự, nữ giả nam. Ba ngày trước vua ra chỉ điều tra Trương Nguyên Chương, ta đã cởi tấm vải mỏng cuối cùng giữa mình và triều đình. Sáng nay chỉ còn lớp da mỏng cuối cùng: giả tiếng, giả xưng, giả cả cách cúi đầu.
Vua ngồi trên ngai. Áo hoàng bào thêu chỉ vàng. Tay trái đặt lên đầu gối, tay phải cầm một cuộn chiếu chỉ chưa mở. Người ta bảo vua nay đã sáu mươi hai, mắt kém, đêm ngủ ít. Ta nhìn kỹ hơn. Mắt vua trong. Không kém. Chỉ có mí dưới trũng nhẹ vì mất ngủ mấy đêm khi ký chỉ chém Trương.
Vua cười.
Không phải cười khẽ. Cười lớn, âm vọng qua kèo gỗ trên trần điện. Ta thấy vài quan văn hàng dưới giật mình, nhích chân nửa nhịp.
“Lục thiếu khanh.”
“Thần.”
“Ngươi xin đúng lúc.”
Bốn chữ ấy vua nói không nặng, không nhẹ. Chỉ là bốn chữ của một người đã đợi câu ấy mấy tháng nay, cuối cùng nghe được, thấy nhẹ. Ta hiểu. Đêm hôm kia khi Vương Ngự sử dâng đủ ba mảnh manh mối cùng chuyện Trương giết vợ, vua đã ký chỉ ngay giữa đêm. Sáng hôm sau chém đầu Trương ở cửa Tây thành. Ba ngày qua triều đình lột xác. Một phần ba quan Lễ bộ bị lôi ra tra. Trong cơn tổng thanh trừng, vua cần một tin vui, một chuyện tốt để dán vào bản báo triều tháng này.
Chuyện tốt ấy vừa quỳ trước mặt vua.
“Đứng dậy.”
Vua khoát tay.
Lục Vô Ngạn đứng dậy. Áo tím thẫm phủ vai băng bên phải, vết thương đêm hai mươi sáu chưa lành hẳn, hôm nay chàng cố giữ vai đứng thẳng, ta thấy ngón tay chàng bên trái hơi run một cái, rồi thôi. Chàng đứng vào chỗ, cách bệ rồng ba bước, cách ta một bước rưỡi.
Vua đưa mắt qua chỗ ta.
“Thẩm Yên.”
“Hạ quan.”
Ta cúi đầu. Giọng ta khô. Trên điện triều đình ta chưa bao giờ dám ngước.
“Ngẩng mặt lên.”
Ta ngẩng.
Trong khoảnh khắc ấy, giữa ta và vua chỉ có bậc thềm đá xám và một quãng sáng non. Vua nhìn ta. Không dò. Không phán xét. Là cái nhìn của một người đã đọc hết ba tập báo cáo giải phẫu ta viết, đọc kỹ đến mức nhớ được từng câu công thức “xác nhận, nguyên nhân, cơ chế” ta lặp lại.
“Ngươi mấy tuổi.”
“Bẩm bệ hạ, mười tám.”
“Cha ngươi mất bao lâu.”
“Hai năm ba tháng.”
“Mẹ nuôi ngươi giờ ở đâu.”
“Bẩm bệ hạ, ở tương phủ Lục thị. Ba tháng nay hạ quan chuyển mẹ sang đó, có Trương Y tương phủ chăm.”
Vua gật một cái. Không nhanh.
“Ba vụ án ngươi phá, ta đã đọc kỹ. Nô tì phủ Vương thị lang. Năm xác trẻ nghèo cầu Biện Hà. Phú thương Lâm Đại lang. Ba vụ này, ngỗ tác Đại Tống mười người đọc, chín người không hiểu ngươi viết cái gì. Ta đọc, ta cũng chỉ hiểu ba phần.”
Ta không đáp.
“Ngươi nói cho ta nghe, ngươi học cái tay ấy ở đâu.”
Câu hỏi ấy ta đợi từ ngày thứ nhất vào Đại lý tự. Nay câu hỏi rơi trước mặt vua Đại Tống, giữa điện Kim Loan, ánh non hắt lên gạch, ta chỉ có một khắc để đáp.
Ta đã chuẩn bị. Từ ngày trọng sinh về Biện Kinh, ta đã sắp sẵn ba câu trả lời cho ba loại người hỏi. Vua thuộc loại thứ ba: hỏi vì tò mò, hỏi vì cần đóng dấu, không hỏi để buộc tội.
“Bẩm bệ hạ. Hạ quan không thầy. Cha hạ quan là ngỗ tác. Sách nghề chỉ có mấy quyển. Còn lại, hạ quan xem xác nhiều, ghi nhớ, so sánh. Chỗ nào cha bảo, hạ quan làm. Chỗ nào cha không bảo, hạ quan mở xác ra tự tìm. Nghề mở tử thi, mở nhiều thì thấy, không mở thì không thấy.”
Ta không nói dối. Cũng không nói hết.
Vua nhìn ta lâu hơn ba nhịp. Trong ánh mắt ấy có một tia mà ta chưa từng gặp trên khuôn mặt một hoàng đế. Là tia của người biết mình đang bị lừa nửa vế, nhưng không muốn lột nửa vế còn lại. Người trên ngôi cao nhất, đôi khi lại cần một bí ẩn nhỏ nhỏ để giữ trong tay áo, phòng khi triều đình lộn xộn.
Vua không truy tiếp.
“Được. Chuyện học nghề tính sau. Chuyện hôn nhân trước.”
Vua quay lại phía Lục Vô Ngạn.
“Lục thiếu khanh. Ngươi hai mươi sáu tuổi. Trong triều mấy phen mẹ ngươi, thái hoàng thái hậu tự tay chọn cho ngươi ba nhà. Ngươi từ chối cả ba. Ta biết ngươi ngoan cố như cha ngươi. Nhưng ngoan cố có giới hạn. Nay ngươi xin cưới ngỗ tác, ta đồng ý.”
“Tạ ơn bệ hạ.”
Lục Vô Ngạn cúi đầu. Không quỳ nữa, chỉ cúi. Vai bên phải nhích lên một thoáng, băng dưới lớp áo tím thẫm giấu đi.
“Đồng ý. Nhưng có một điều.”
Vua ngừng, xoay đầu về phía ta.
“Thẩm Yên.”
“Hạ quan.”
“Ngươi đừng nghĩ ta đồng ý gả ngươi vào tương phủ Lục thị để ngươi ngồi trong khuê phòng thêu chỉ, đợi Lục thiếu khanh về ăn cơm.”
Cả điện im.
Ta nghe được tiếng gió ngoài cửa sổ hắt vào lụa rèm, tiếng một con chim gì bay qua mái ngói vàng. Bá quan hai hàng dưới cúi đầu, không dám thở lớn.
Ta chưa kịp đáp, vua đã tiếp.
“Ta gả ngươi vào tương phủ Lục, nhưng ngươi không được bỏ nghề. Đại Tống có ba trăm ngỗ tác nam, chưa ai đọc nổi phổi có nước hay không. Ngươi đọc được. Ngươi bỏ, ta lỗ. Ta lỗ, dân lỗ. Nghe chưa?”
Ta chớp mắt một cái.
Trong bao nhiêu tình huống ta chuẩn bị trong đầu suốt đường vào cung sáng nay, ta có tính đến việc vua sẽ ép ta rời nghề để giữ danh dự Lục thị. Ta có tính đến việc vua sẽ chém ta vì luật phụ nữ không được vào Đại lý tự. Ta có tính đến việc vua sẽ cho ta hai chọn: hoặc nghề, hoặc hôn.
Ta không tính đến việc vua sẽ ra một điều kiện ngược lại.
Không được bỏ nghề.
Trong lồng ngực ta, tiếng gõ đêm qua chưa dứt, giờ có thêm một tiếng vọng lạ. Ta không gọi tên được tiếng vọng ấy. Là cảm giác đá lạnh ngâm mấy tháng, giờ có một tia nước ấm chảy qua khe.
Ta cúi đầu, thấp hơn lần trước.
“Bẩm bệ hạ. Hạ quan không có ý bỏ nghề.”
“Ngươi nói thật hay nói cho ta nghe.”
“Bẩm bệ hạ. Hạ quan không biết nói dối trước vua.”
Ta nói câu ấy, và ta biết nửa câu ấy là dối. Ta biết nói dối trước vua, ta chỉ chọn không nói dối lúc này. Nhưng câu ấy vẫn thoát ra khỏi miệng ta được, vì ta đang không nói dối cái ý sau: ta không có ý bỏ nghề. Không đêm nào ta ngủ mà không mơ về một cái xác đang chờ ta mở. Không đêm nào ta mở mắt mà quên được câu công thức “xác nhận, nguyên nhân, cơ chế”.
Vua nhìn ta. Rồi cười khẽ. Lần cười này khác lần trước. Khẽ, mím môi, ánh mắt xếch lên một chút.
“Được. Ta chưa gặp một cô dâu nào không bối rối khi được vua đích thân chỉ hôn. Ngươi thì bối rối, nhưng không bối rối chuyện chồng con. Bối rối chuyện nghề. Kiểu bối rối ấy ta thích.”
Vua vẫy tay gọi thái giám đứng bên bệ. Thái giám bước lên hai bậc, cúi người nhận chỉ cuộn từ tay vua.
“Chiếu chỉ.”
Thái giám mở cuộn ra, giơ hai tay đọc.
Chỉ chỉ ngắn. Ba đoạn.
Đoạn một: phong Thẩm Yên hiệu “Nữ Ngỗ Tác Đầu Tiên Chính Danh của Đại Tống”, phá lệ cho phép phụ nữ hành nghề pháp y trong Đại lý tự và Đề Hình Ti.
Đoạn hai: gả Thẩm Yên vào tương phủ Lục thị, phong Lục Vô Ngạn tước Nghi Đô Uý, nâng bổng lộc sáu bậc. Hôn lễ tổ chức trong vòng sáu mươi ngày.
Đoạn ba: điều kiện đi kèm, Thẩm Yên phải tiếp tục nhận án tại Đại lý tự và Đề Hình Ti. Sau hôn lễ, giữ nguyên chức. Không được bỏ nghề khi chưa có người kế nghiệp đủ tay.
Thái giám đọc xong. Cuộn chỉ trong tay vàng lóe dưới nắng non.
Cả điện im ba nhịp.
Rồi có một quan văn hàng thứ nhất bên phải, tuổi khoảng bốn mươi, mặc áo lễ bộ xanh đậm, bước ra khỏi hàng, cúi đầu.
“Bẩm bệ hạ. Lão thần có một câu xin.”
“Nói.”
“Luật Đại Tống cấm phụ nữ bước chân vào phòng khám tử thi. Bệ hạ phá lệ cho một người, e các nữ nhân khác cũng muốn theo. Lễ bộ khó xử.”
Ta nhận ra quan này. Lã Kiến Bình. Thị lang Lễ bộ. Người đã ngồi ghế cấp dưới Trương Nguyên Chương ba năm, nay sau tổng thanh trừng còn giữ được chức, chưa bị dính vào vụ diêm thổ. Lão giữ được ghế vì lão hèn, không phải vì lão sạch.
Vua chưa đáp, ta đã ngước lên.
Ta biết trên điện triều đình, ngỗ tác thấp nhất, chưa được phép cắt lời quan lễ bộ. Nhưng vua vừa phong cho ta hiệu “Chính Danh”. Ta có nửa khắc trước khi bị ép câm.
“Bẩm bệ hạ.”
Ta lên tiếng.
Vua ngước mắt về phía ta. Không cấm.
“Xin bệ hạ cho phép hạ quan đáp lại Lã thị lang.”
“Nói.”
Ta xoay nửa người về phía Lã Kiến Bình. Ta không lên giọng. Ta chỉ cần giọng nghề nghiệp cũ, giọng ta dùng khi báo cáo giải phẫu.
“Lã thị lang. Xin phép hạ quan hỏi lại. Ngài nói luật Đại Tống cấm phụ nữ bước vào phòng khám tử thi. Ngài có tra luật ấy nằm ở quyển nào chưa.”
Lã Kiến Bình cứng người nửa nhịp. Đôi mắt lão đảo qua bên trái, tìm mặt ai đó trong hàng. Không tìm được.
“Là… quy chế Đại lý tự.”
“Quy chế nào.”
“Là…”
“Là quy chế do Trương Nguyên Chương soạn năm Cảnh Đức thứ tám. Ba năm nay áp dụng. Trước năm ấy, Đại lý tự không có điều khoản cấm phụ nữ vào phòng khám tử thi.”
Ta đáp gọn. Trong nghề của ta, ta không đọc luật thay cha, nhưng khi vào Đại lý tự làm việc ta có xem qua sổ quy chế. Ta ghi nhớ số năm. Ba năm trước Trương Nguyên Chương soạn thêm điều khoản mới, không phải luật cũ Đại Tống.
Lã Kiến Bình đỏ mặt. Nhưng lão còn cố.
“Dù Trương soạn, luật đã áp dụng. Bây giờ phá…”
“Trương đã bị chém.”
Vua cắt lời lão.
Giọng vua không lớn. Nhưng bốn chữ ấy như một cuộn giấy dán khoá cửa. Lã Kiến Bình cúi đầu, lùi về hàng.
Vua nhìn ta. Ta biết đây là khắc.
“Thẩm Yên.”
“Hạ quan.”
“Ngươi có gì xin thêm không.”
Ta ngần một nhịp.
Trước khi vào cung, ta có bàn với chàng. Nếu vua hỏi, ta xin cái gì. Chàng không góp câu nào. Chỉ nói: “Ngươi biết mình cần gì. Ta không lấy chỗ của ngươi.”
Bây giờ ta biết.
“Bẩm bệ hạ. Hạ quan xin một điều. Không phải cho hạ quan.”
“Nói.”
“Xin bệ hạ cho Đề Hình Ti một phòng riêng, để nữ ngỗ tác học nghề. Bây giờ trong triều chỉ có một mình hạ quan. Hạ quan chết, nghề chết theo. Nếu có một phòng học, ba năm nữa có mười người. Mười năm nữa có trăm. Đại Tống sẽ không lỗ khi hạ quan không còn.”
Ta không ngước mắt lên. Chỉ nói xong, cúi đầu.
Vua im. Ta không biết vua đang cân cái gì. Có thể là cân giữa “cho một phòng” và “khắp triều dị nghị”. Có thể vua đang tính bao nhiêu năm nữa mình còn ngồi ngai, có ký cái gì để lại được thì ký. Có thể vua chỉ đang mệt, không muốn nghe thêm.
Ba nhịp im.
Rồi vua cười. Không lớn như lần đầu. Cười một cách chậm, giống người cha thấy đứa con nhỏ đưa mình một món quà lạ, chưa biết dùng làm gì, nhưng nhận vì thương.
“Được. Ta duyệt. Đề Hình Ti một phòng riêng, danh xưng ‘Nữ Ngỗ Tác Học Đường’. Ngươi phụ trách. Bổng lộc phòng học ta cấp trực tiếp, không qua Lễ bộ, khỏi phải nghe Lã Kiến Bình càu nhàu.”
Lã Kiến Bình cúi đầu thấp hơn. Bá quan quanh lão quay mặt đi.
Ta quỳ.
“Tạ ơn bệ hạ.”
“Đứng dậy.”
Ta đứng.
Vua khoát tay. Thái giám mở tiếp một cuộn chỉ khác, ghi thêm ba dòng vào chiếu chỉ vừa ban. Xong. Đóng dấu ngọc tỷ. Nắng non trên gạch điện đã dịch qua một khoảng, giờ chiếu lên cột đá cao thứ tư bên phải. Đã canh ba lệ triều. Sắp tan.
Vua đứng dậy. Bá quan cúi. Ta cúi. Chàng cúi.
Vua bước xuống bệ, đi ngang qua chỗ ta. Áo hoàng bào quét gạch một tiếng khẽ.
Vua dừng lại một khắc trước mặt ta.
“Thẩm Yên.”
“Hạ quan.”
“Cha ngươi ở dưới nếu biết, chắc mừng.”
Ta nghẹn một nhịp trong họng. Không đáp được.
Vua không đợi ta đáp. Vua đi tiếp, khuất sau rèm gỗ đỏ phía đông điện.
Bá quan giải tán từng hàng. Không ai lại chỗ ta. Không ai lại chỗ Lục Vô Ngạn. Ta biết ngày nay ai cũng biết chuyện, không ai chưa biết. Nhưng biết là một chuyện, chúc mừng ngỗ tác nữ là chuyện khác. Chưa ai trong hàng bá quan sẵn sàng bước một bước ra khỏi lằn cũ.
Chàng đến bên ta.
“Đi.”
Chàng nói ngắn. Ta đi theo.
Ra khỏi điện, hành lang cung điện dài. Sương sáng đã tan. Đá lát sân triều màu xám nhạt, khô. Nắng non giữa buổi rọi thẳng, trên đá không còn vết sương nào.
Ta đi bên chàng.
Không nắm tay. Không đứng sát. Cách nhau nửa bước, đúng khoảng cách của một ngỗ tác đi cùng một thiếu khanh Đại lý tự. Ai nhìn không kỹ, chỉ thấy hai đồng sự.
Nhưng khi qua bậc cầu đá bắc ngang qua hồ trong sân, chàng ngoảnh lại nhìn ta. Trong ánh non giữa buổi, mắt chàng không còn dao khắc như lần đầu ta gặp trong phòng Đại lý tự. Chỉ có ánh của người đàn ông vừa nghe vua đồng ý gả cho mình một người mình đã đợi bốn mươi ngày.
“Thẩm Yên.”
“Chàng.”
Ta gọi khẽ. Trước điện ta phải xưng “hạ quan”, ngoài kia ta chưa muốn xưng lại. Nay giữa hai bậc cầu đá không có ai nghe, ta gọi chàng bằng chữ ta chỉ dùng trong thư phòng tương phủ.
Chàng không đáp. Chỉ đưa tay, chạm nhẹ vào khuỷu tay ta qua vải áo bố đen. Chạm rồi buông.
“Ta biết ngươi sẽ xin phòng học.”
“Chàng biết.”
“Từ đêm hôm kia, khi ngươi ngồi trong thư phòng ghi chú vào sổ tay, ta thấy ngươi ghi bốn chữ ‘phòng học nữ ngỗ’. Ta biết ngươi sẽ xin.”
Ta chớp mắt.
“Chàng đọc trộm sổ tay ta.”
“Ngươi để ngửa trên bàn. Ta không đọc thì cũng thấy.”
Ta cười.
Không phải cười lớn. Chỉ khoé môi nhích lên một chút. Trên môi ta cái sẹo giả ta để sáu năm cũng nhích theo, kéo một tia đau khô.
Đây là lần đầu tiên từ khi trọng sinh về Đại Tống, ta cười trên sân triều đình. Không phải sau cửa phòng đóng chặt. Không phải trong thư phòng đèn dầu bấc hạt đậu. Trên sân giữa nắng non, giữa lính canh nghiêm chỉnh đứng hai bên hành lang.
Ta không cần giấu.
Ta ngồi lên kiệu trở về tương phủ. Chàng cưỡi ngựa đi bên. Kiệu tám người khiêng, kiệu vàng đỏ, thái giám dặn hôm nay ta dùng kiệu, không được đi bộ. “Là cô dâu vua chỉ hôn, không thể đi bộ ra khỏi cung.”
Trong kiệu, rèm lụa đỏ. Bên ngoài, tiếng vó ngựa chàng đều bên phải. Ta nhắm mắt một khắc.
Trong đầu ta, sáng nay xếp theo trật tự công thức nghề nghiệp.
Xác nhận. Vua đồng ý hôn. Vua đồng ý phong hiệu. Vua đồng ý mở phòng học Đề Hình Ti.
Nguyên nhân. Ba vụ án ba manh mối. Bằng chứng cứng. Tổng thanh trừng thành công. Triều đình cần một tin tốt.
Cơ chế. Trong vòng sáu mươi ngày làm hôn lễ. Sau hôn lễ giữ chức. Không bỏ nghề khi chưa có người kế.
Ba dòng nghề nghiệp. Ta lặp lại trong đầu như đã lặp lại hàng nghìn lần bên các xác. Ba dòng ấy không đủ để chứa cái ta cảm.
Ta mở mắt.
Kiệu đang đi qua phường Đông. Rèm lụa đỏ hé nửa khe. Ngoài kia là phố buổi sáng. Người bán bánh bột lọc gánh qua. Đứa bé ăn xin ngồi bên góc tường. Một bà cụ tay chai đang phơi vải xanh trên dây. Sương đêm trên vải chưa khô hết, nắng non chưa đủ hong.
Ta thấy hết. Ta ghi vào mắt.
Sáu năm giả nam, ta đi qua phố Biện Kinh ba trăm sáu mươi ngày một năm. Chưa lần nào ta ngồi trong kiệu vàng đỏ mà nhìn ra phố. Ta luôn là đứa mặc áo bố đen đi bộ, khăn buộc tóc, giày vải mòn.
Bây giờ ta ngồi kiệu. Ngoài kia có người đi bộ. Có ngỗ tác nam khác trong phường Bắc đang gánh xác không tên đi chôn ở nghĩa trang cửa Nam. Có nhà nghèo mất con năm ngoái chưa tìm được.
Ta không quên họ. Ta ngồi kiệu vàng, ta không quên đứa mặc áo bố đen.
Ta khép rèm lụa lại. Trong kiệu tối hơn. Trong tối, ta ngồi đối diện chính mình.
Trong đầu ta hiện lên một câu ta đã viết vào sổ tay ngầm đêm mười sáu tháng chín, đêm ta bị dao Đường Thanh đâm sượt sườn, đêm chàng đẩy cửa vào không gõ, thấy dây vải giấu ngực ta.
Đêm ấy ta viết: Ta sẽ giấu suốt đời.
Nay hơn một tháng sau, ta viết đè lên câu ấy trong đầu: Ta không giấu nữa.
Trong hơn một tháng ấy, ta đã cởi ba lớp. Lớp thứ nhất là dây vải giấu ngực, chàng thấy đêm mười sáu tháng chín. Lớp thứ hai là chức “nam ngỗ tác”, triều đình biết ba ngày trước khi vua ra chỉ điều tra Trương. Lớp thứ ba là sáng nay, trước điện Kim Loan, giữa bá quan. Ba lớp cởi xong.
Còn một lớp cuối. Là cái sẹo trên môi trên, ta để lại từ năm mười ba.
Ta chạm nhẹ đầu ngón tay lên sẹo ấy. Sẹo khô. Không đau nữa. Ta có thể để hôm nào đó lành lại. Chàng đã chạm sẹo ấy bằng ngón tay khô lạnh của mình trong đêm hôm kia. Chàng không hỏi vì sao ta để sẹo. Chàng cũng không xin ta xoá.
Ta nghĩ, có thể để lành lại từ ngày cưới.
Có thể để hôm nào ta có con gái đầu, ta chỉ vào sẹo đã lành trên môi mình, kể cho con gái nghe: mẹ từng giấu mình sáu năm sau một cái sẹo giả. Mẹ để sẹo ấy đến khi có cha con. Rồi mẹ để sẹo ấy tự lành.
Ta chưa có con gái. Nhưng ta đã có tên đặt sẵn.
Kiệu về đến tương phủ Lục thị. Cửa lớn mở. Thị vệ đứng hai hàng.
Ta bước xuống kiệu. Chàng đã xuống ngựa trước, đứng bên bậc đá đưa tay. Ta không cần đỡ, ta đủ vững. Nhưng ta để tay ta lên tay chàng một khắc, đủ cho thị vệ ghi nhớ hình ảnh này.
Trong tương phủ, thái giám vua sai đi cùng dâng chiếu chỉ đóng dấu ngọc tỷ. Chàng nhận chỉ, đặt lên bàn thờ chính đường Lục thị. Nến vàng thắp lên. Tro hương cũ trong lư đồng phảng phất một tia mùi trầm.
Ta không đứng cạnh chàng. Ta lùi ba bước, đứng phía sau, đúng chỗ của một cô dâu chưa cưới. Chàng dâng ba nén hương lên bàn thờ. Ngước lên tấm bảng gỗ ghi tên Lục thượng thư, cha chàng, người ba năm trước bị Trương giết trong triều.
Chàng cúi đầu.
Ta cũng cúi đầu.
Trong đầu ta, ta nói với cha chàng: Con dâu của ngài không phải nữ nhân thường. Con dâu của ngài có tay mở tử thi. Nhưng con dâu của ngài sẽ giữ chàng, cho đến ngày ngài yên tâm dưới đất.
Rồi ta nói với cha ta, Thẩm Cát, ngỗ tác cũ chết oan hai năm ba tháng trước, mộ ở nghĩa trang cửa Nam: Cha. Con về nhà rồi.
Ta đứng dậy.
Nến vàng cháy đều. Tro hương rớt xuống lư đồng thành từng lớp mỏng như tuyết. Trong đầu ta chỉ còn một câu, không phải công thức nghề nghiệp.
Nói có sách, mách có chứng. Chiếu chỉ vua đóng dấu ngọc tỷ đặt trên bàn thờ. Ta không giả nữa.
Chàng quay lại nhìn ta.
Không nói gì. Chỉ đưa tay chạm nhẹ vào cổ tay ta, chỗ hôm hai mươi sáu tháng mười chàng nắm lần đầu, khi ta băng vai chàng trong thư phòng.
Ta để chàng chạm.
Ngoài chính đường Lục thị, sương sáng đã tan hết. Nắng non đã cao. Trên nóc ngói tương phủ, một con chim mỏ trắng vừa đậu xuống, ngoảnh đầu nhìn xuống sân, rồi bay đi.
Trong lòng ta, sáu năm giả nam đọng lại như một lớp đá lạnh dưới đáy giếng. Nay lớp đá ấy chưa tan. Đá không tan được trong một ngày. Nhưng trên mặt đá, ta thấy có một tia nắng non chiếu xuống, làm sáng lên một chỗ nhỏ.
Chỗ nhỏ ấy đủ để ta thở.
Ta thở.
Lần đầu tiên từ khi trọng sinh về Đại Tống, ta thở một hơi mà trong hơi ấy không có mảnh vải nào ép ngực. Không có cái sẹo nào ta phải giữ. Không có câu công thức nghề nghiệp nào ta phải lặp.
Chỉ có ta, Thẩm Yên. Nữ. Ngỗ tác. Sắp là vợ chàng.
Trong tay áo bố đen ta còn cầm chiếc quạt lụa cũ của cha, quạt ta giấu ba năm nay trong ống tay áo mỗi lần vào cung. Ta khẽ mở quạt ra, đọc bốn chữ mờ khắc bên trong: chờ ta.
Ta cười khẽ với bốn chữ ấy.
Chờ ta.
Cha ơi, ta về rồi. Con đã đợi được. Con đã chờ được. Con đã danh chính ngôn thuận rồi.