Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 35: Đêm Trước Hôn Lễ
Đêm mùng chín tháng chạp. Đêm trước đại hôn.
Sương xuống dày hơn thường ngày, đọng trên mái ngói tương phủ như một lớp bạc mỏng chưa tan. Ta ngồi trên án gỗ trong gian tây, nến trầm hương đã thắp từ đầu canh ba, bấc lửa cỡ hạt đậu. Đèn dầu bên án ta không thắp. Mấy đêm nay ta quen với chỉ một mảng ánh sáng nhỏ. Nến đủ để soi bàn tay ta, không đủ để soi vào tim ta.
Đèn dầu quá sáng thì soi mọi thứ. Nến trầm chỉ soi những gì cần soi.
Trên án là cuốn sổ tay ngầm ta viết suốt tám năm kể từ ngày trọng sinh về Đại Tống. Trang mới nhất ta chưa ghi. Bên cạnh sổ, ta đặt sẵn một chậu nước nhỏ và một khăn bông trắng, phòng khi tay ta cần lau. Bên trái là nghiên mực, mực đã mài từ chiều nay Bích Đào giúp trước lúc con bé về nhà Diệp tỷ.
Áo cưới đỏ treo trên móc gỗ đối diện. Ba đêm nay ta để nó treo đó, không cất vào rương.
Ba đêm ta ngồi trước áo cưới. Ba đêm ta không viết được câu nào vào sổ ngầm.
Nghề của ta dạy ta viết ra bằng chứng. Không phải viết ra cảm giác. Trước một vết đâm ngực trái, ta ghi được ba dòng: sâu bao nhiêu, thuận tay nào, chết trong bao lâu. Trước một cái áo đỏ, ta không biết nên ghi cái gì.
Ta thử một câu, giả vờ nó là báo cáo.
“Áo cưới đỏ nhung. Chiều dài tám xích. Vải Tô Châu. Nhuộm thắm đủ ba bận. Xác nhận: đây là áo cô dâu.”
Ta đặt bút xuống. Không viết được câu thứ hai.
Trong nghề của ta, xác nhận thường theo sau bởi nguyên nhân, nguyên nhân theo sau bởi cơ chế. Nhưng áo cưới đỏ không có nguyên nhân. Cũng không có cơ chế. Nó chỉ là.
Ta thở ra. Bấc nến rung một cái, rồi lại đứng.
Chiều nay Diệp tỷ và Bích Đào đã về. Diệp tỷ ở lại đến sáng đại hôn mới đến sớm, phụ trang điểm. Bích Đào ở nhà riêng của Diệp tỷ đêm nay, mai theo phụ. Mẹ nuôi ở gian đông tương phủ, ngủ từ canh một, thuốc an thần Trương Y kê ba tháng nay đã hợp với nàng.
Vậy trong gian tây tương phủ đêm này, có mình ta và im lặng.
Ta cởi áo ngoài, chỉ còn áo trong vải trắng. Đưa tay lên, chầm chậm cởi dây vải giấu ngực.
Dây vải này ta đã dùng sáu năm.
Chính xác hơn, cuộn vải này ta đổi mới ba lần. Lần đầu năm mười ba tuổi, mẹ Diệp tỷ khâu cho ta khi ta xin nàng làm hộ. Lần thứ hai năm mười sáu, khi ta cao thêm nửa gang. Lần thứ ba năm ta trọng sinh về, ta xin Diệp tỷ khâu lại, dài rộng vừa hơn.
Sáu năm quấn chặt quanh ngực. Ép xuống. Giấu đi. Che.
Sáu năm mỗi sáng ta ngồi trước gương, quấn dây vải trước tiên, mặc áo ngỗ tác sau. Sáu năm mỗi đêm khi cởi ra, da dưới dây vải có vết hằn ngang, mờ nhưng dai. Vết hằn ấy chỉ mất sau nửa canh giờ da hít lại không khí.
Ta cởi dây vải, cuộn tròn lại, đặt lên án bên cạnh sổ tay ngầm. Da ngực ta lộ vết hằn quen thuộc. Đêm nay là đêm cuối cùng ta phải cởi ra vết hằn ấy trước khi ngủ.
Ngày mai, đại hôn. Ngày kia trở đi, ta có thể chọn.
Trong Đại lý tự, ta vẫn là ngỗ tác Thẩm, giả nam, quấn dây vải. Ngoài Đại lý tự, trong tương phủ này, ta là Thẩm Yên. Ta không giấu. Không giả.
Vua đã phá lệ cho ta. Nhưng lệ triều đình phá được, lệ trong xương của ta phá được không, ta chưa dám chắc.
Ta nhìn cuộn dây vải trên án. Nghĩ: sáu năm này ép ta chưa đủ thì thôi, chứ ta cũng đã tự ép ta hàng chục nghìn đêm.
Người ngoài không biết vết hằn ngang trên ngực. Người ngoài chỉ thấy một thiếu niên ngỗ tác gầy, mặt lạnh, không cười. Người ngoài nhìn ta, kính ta hay khinh ta cũng đều nhìn cái vỏ ngoài ấy. Không ai biết dưới vỏ ngoài ấy có một dòng ép sáu năm, ăn vào da rồi ăn vào xương.
Chỉ có hai người biết. Diệp tỷ. Và, kể từ đêm mười sáu tháng chín, chàng.
Bên ngoài hành lang gỗ, có tiếng chân.
Ta nghiêng tai. Không phải tiếng thị vệ. Thị vệ đi ủng da, gót gõ nhịp. Không phải Bích Đào. Con bé đi chân trần trong tương phủ, nhẹ như mèo. Không phải mẹ nuôi. Mẹ nuôi hai năm nay không ra khỏi gian đông sau canh hai.
Tiếng chân này, ta thuộc.
Từ ngày chàng chuyển từ thư phòng chính sang thư phòng đông, tiếng chân chàng đi qua hành lang gỗ này ta đã nghe hơn ba trăm đêm. Chàng đi bằng đế giày bố mềm, không gõ. Nhưng gỗ hành lang có khe, chân chạm khe cựa lên tiếng lép nhẹ. Chỉ tai người quen chờ mới bắt được.
Ta đứng dậy. Cầm áo ngoài, khoác vội. Không quấn lại dây vải. Đêm nay ta không quấn lại.
Tiếng chân dừng trước cửa gian tây.
Ba tiếng gõ. Nhẹ. Không cấp.
“Thẩm Yên.”
Giọng chàng.
Ta không đáp ngay. Ta cúi xuống, đẩy sổ tay ngầm và cuộn dây vải cũ vào hộc bàn nhị lớp. Đóng lại. Vuốt tay áo cho ngay ngắn. Rồi mới ra mở cửa.
Ta mở nửa cánh. Chàng đứng ngoài, mặc áo ngoài vải xanh nhạt, không phải áo triều. Vai bên phải chàng vẫn còn hơi cao hơn vai bên trái. Từ đêm ám sát tháng chín, mũi khâu chỗ vết đâm đã lành, sẹo mỏng như một sợi mực đỏ nhạt. Nhưng cơ vai chàng vẫn co lại theo tật, không duỗi thẳng được như trước.
Tay trái chàng, tay đeo hộ oản gỗ đen, cầm một cái hộp nhỏ. Hộp gỗ hồng đơn giản, không khảm, không sơn.
Chàng nhìn ta. Trong ánh nến trong gian, mắt chàng vẫn là đôi mắt như dao khắc. Nhưng đêm nay dao khắc ấy không hướng vào ta như hướng vào một vụ án. Chỉ nhìn ta, chậm.
“Chàng chưa ngủ.”
Ta nói, giọng thấp, tự nhiên như một câu hỏi trong phòng khám tử thi.
“Nàng cũng chưa.”
Chàng đáp.
Ta lùi lại nửa bước, nghiêng người mở rộng cánh cửa cho chàng vào.
Chàng vào. Ta đóng cửa sau lưng chàng. Không cài then.
Nến trầm trên án còn thắp. Áo cưới đỏ vẫn treo trên móc gỗ đối diện. Chàng nhìn áo cưới một cái, ngắn. Rồi quay lại nhìn ta.
“Nàng chưa ngủ. Đêm trước đại hôn.”
Chàng nói, không phải câu hỏi.
Ta chỉ ngồi lại xuống ghế cạnh án. Chàng ngồi xuống ghế đối diện. Cái hộp gỗ hồng chàng đặt lên án, giữa hai chúng ta.
“Hạ quan không quen ngủ trước ngày làm việc lớn.”
Ta đáp theo thói cũ. Nói xong ta khẽ cắn môi. Ta còn gọi mình là hạ quan trước chàng, trong phòng riêng, đêm trước hôn lễ. Cái vỏ ngôn ngữ sáu năm ấy cắm vào miệng ta chặt hơn cả dây vải cắm vào da.
Chàng cũng nghe. Nhưng chàng không cười, không sửa. Chỉ gật một cái.
“Ngày mai không phải làm việc. Là hôn.”
“Với hạ quan, đều là làm việc.”
Ta buột miệng, rồi khựng. Không phải đùa. Không phải nghiêm. Câu ấy nó ra khỏi miệng ta như một sợi mực đổ nghiêng khỏi nghiên. Ta không kịp thu lại.
Chàng lần này cười một tia. Rất khẽ. Ở khoé mắt trái.
“Nàng còn coi hôn là việc.”
“Hạ quan chưa từng làm việc này lần nào. Không có ghi chép trong sách nghề của cha.”
Ta nói. Câu này ra khỏi miệng ta không buộc nhịp trước, không lọc trước. Chỉ có với chàng, đêm nay, câu ra khỏi miệng ta như vậy.
Chàng nhìn ta lâu hơn. Trong mắt chàng có một tia dịu lạ. Tia dịu ấy ta lần đầu thấy trên mặt chàng đêm ta cứu chàng khỏi ba thích khách. Từ đêm ấy đến nay hơn ba tháng, tia ấy chưa từng tắt hẳn.
“Ta cũng chưa từng làm việc này. Nàng làm cùng ta. Ghi vào sổ tay ngầm của nàng đi.”
Ta không đáp. Trong hộc bàn nhị lớp, sổ tay ngầm ta trang mới vẫn còn trắng. Đêm nay có thể ta sẽ ghi. Có thể không.
Chàng chỉ tay lên hộp gỗ hồng.
“Ta mang cho nàng.”
Ta nhìn hộp. Không phải hộp trang sức. Không phải hộp thuốc. Nhỏ hơn hộp trang sức, dài hơn hộp thuốc. Kích thước hơi lạ.
“Chàng mở.”
Ta nói. Chàng vẫn để yên tay trái, không mở.
“Nàng tự mở.”
Ta đưa tay ra. Ngón tay ta chạm vào nắp hộp. Gỗ hồng mài nhẵn, không có sơn phủ, chỉ có mùi gỗ thơm nhạt. Ta lật nắp.
Bên trong hộp, xếp gọn gàng, là một tấm vải.
Vải đỏ.
Nhung mỏng. Dài chừng bốn xích. Rộng chừng nửa xích. Mép vải viền chỉ vàng nhỏ, khâu tay tỉ mỉ. Không phải hàng may mặc thường. Không có mặt tiệm nào ở Biện Kinh khâu chỉ vàng viền vải kiểu này, ngoài tiệm ngân trang Diệp tỷ.
Ta nhìn tấm vải đỏ. Trong đầu ta, hai câu công thức tự bật lên: xác nhận và cơ chế.
Xác nhận: Vải này khâu bằng chỉ vàng viền, kiểu thợ Diệp tỷ, đặt riêng.
Cơ chế: Kích thước dài rộng đúng kích thước một cuộn vải giấu ngực.
Tấm vải đỏ này là dây vải giấu ngực.
Ta ngước lên nhìn chàng.
Chàng nhìn ta. Vẫn ngồi thẳng trên ghế, tay trái đeo hộ oản gỗ đen đặt trên đầu gối, tay phải giữ trên mép án.
“Chàng.”
Ta gọi. Giọng ta khàn hơn khi ta gọi tên chàng lần đầu tiên trong đời không phải bằng chức danh.
“Ừ.”
Chàng đáp.
“Chàng đặt Diệp tỷ khâu.”
“Ta đặt Diệp Nương khâu.”
“Bao lâu.”
“Ba tháng.”
Ba tháng.
Từ đêm ta cứu chàng khỏi thích khách. Từ đêm ta nói “ta không phải nam”, chàng nói “ta biết”, chàng chạm sẹo môi ta, ta không kìm được một giọt nước rơi xuống mu bàn tay. Đêm ấy chàng đã đi đặt tấm vải này.
Ba tháng, chàng chưa hé một chữ.
Trong nghề của ta, khi ghép ba manh mối để ra một kẻ, ta cần chi tiết. Chi tiết trong tay chàng đêm nay đủ để ghép ra một câu ta chưa nghe chàng nói lần nào: chàng đợi.
Bốn mươi ngày đầu, chàng đợi ta nói ra chính giới tính ta.
Sau đó thêm ba tháng, chàng đợi ngày ta cần đến tấm vải này.
Chàng đợi ta như đợi một vết máu khô lâu ngày, không giục, không xé, chờ đến khi nó tự bong.
Ta cầm tấm vải đỏ trong hộp lên. Nhung dưới ngón tay ta trơn mượt. Không giống dây vải cũ. Dây vải cũ ta quấn sáu năm là vải bố dày, cứng, ép được. Tấm vải đỏ này mềm, không ép được ngực bằng loại này. Nó không phải để giấu.
Ta hiểu. Ta không cần chàng nói.
Nhưng chàng vẫn nói. Câu chàng đã cầm trong lòng bàn tay ba tháng, đêm nay chàng đặt xuống án.
“Nàng giấu ngực sáu năm bằng vải này.”
Chàng nói, chậm.
Không phải bằng vải này, ta nghĩ trong đầu. Vải ta giấu là vải bố. Nhưng chàng nói bằng vải này, có nghĩa là bằng nghi thức của vải giấu. Chàng dùng đúng ngôn ngữ ta đã dùng trong đầu suốt sáu năm.
“Ta muốn tự tay cởi nàng khỏi vải này. Trong đêm tân hôn.”
Ta nghe hết. Ta không đáp ngay.
Trong đầu ta, đêm hai mươi sáu tháng mười ấy hiện lên. Đêm ta lộ giới tính bằng tiếng, sau khi lộ giới tính bằng mắt bốn mươi ngày. Đêm chàng chạm sẹo môi ta. Đêm chàng nói: “Ta không đủ mặt để nói, ta đợi ngươi nói trước.”
Đêm nay, ba tháng sau, chàng lại nói ra một câu chờ. Nhưng câu này ngược. Không phải chờ ta cởi. Là chàng xin cởi.
Ta đặt tấm vải đỏ lại vào hộp. Nhung đỏ nằm gọn giữa gỗ hồng, như một dòng son đổ nghiêng trên trang giấy.
Ta ngồi im hai nhịp thở.
Ngoài cửa sổ, sương đã đọng đủ nặng, một giọt rơi từ mái ngói xuống hành lang. Nghe rất khẽ. Trong nghề của ta, ta nghe được cả sương rơi. Vì tai người mở tử thi phải nghe được cả những âm không đáng nghe.
Đêm nay, tai ta chỉ nghe được ba thứ. Sương rơi ngoài hành lang. Bấc nến trầm cháy nhỏ. Nhịp thở của chàng trước mặt ta.
Ba thứ ấy đủ.
Trong đầu ta, câu công thức nghề nghiệp vẫn tự bật lên như một thói quen: xác nhận, nguyên nhân, cơ chế. Nhưng đêm nay ta không cần công thức. Ta để câu ấy tự trôi qua.
Ta chỉ ngước lên, nhìn chàng thẳng.
“Chàng.”
“Ừ.”
“Ta không nói được câu nào đáp lại chàng đêm nay. Ta chưa quen.”
Chàng gật. Không thúc. Không đợi. Chỉ gật.
Ta cúi xuống, nhìn tay ta đặt trên án. Ngón tay ta có vết chai ở đốt thứ hai ngón trỏ, chai vì cầm dao mổ lâu năm. Móng tay ta cắt sát, không phải kiểu móng phụ nữ Biện Kinh. Bàn tay ta không phải bàn tay đại hôn. Là bàn tay ngỗ tác.
Ta đưa bàn tay ấy sang bên kia án. Chạm vào tay trái chàng.
Chàng khựng nửa nhịp.
Đây là lần đầu ta chủ động chạm vào chàng. Trong hơn một năm qua chàng đã chạm ta bốn lần. Lần một, ngoài rừng vụ thầy lang, chàng dìu ta khi ta bị đâm sườn. Lần hai, đêm mười sáu tháng chín, chàng đẩy cửa vào phòng ngỗ tác không gõ. Lần ba, đêm ám sát tháng chín, chàng nắm cổ tay ta khi ta ép nắm vải trên vai chàng. Lần bốn, ngón tay chàng chạm sẹo môi ta trong thư phòng cùng đêm ấy.
Bốn lần chàng chạm ta. Không lần nào ta chạm chàng trước.
Đêm nay, ta chạm trước.
Ngón tay ta đặt lên mu bàn tay trái chàng. Trên hộ oản gỗ đen. Gỗ mát lạnh dưới ngón tay ta, mát hơn da chàng phía dưới. Ta để tay ta ở đó, không siết, không lỏng.
Chàng không rút tay ra. Chàng giữ nguyên.
Chậm, chàng lật bàn tay lên. Hộ oản chuyển xuống mặt dưới cổ tay. Lòng bàn tay chàng ngửa lên. Ngón tay ta rơi xuống lòng bàn tay chàng.
Da lòng bàn tay chàng khô. Không lạnh, không nóng. Có vài vết chai ở gò tay, chai vì cầm kiếm. Bàn tay chàng cũng không phải bàn tay đại hôn. Là bàn tay quan phá án.
Hai bàn tay không phải bàn tay đại hôn, đặt vào nhau trên án, giữa một cái hộp gỗ hồng và một cuộn vải nhung đỏ.
Chàng khép ngón tay lại. Nhẹ. Bao lấy tay ta.
Ta cứ để chàng nắm tay ta. Không nói.
Nến trầm trên án cháy thêm một khắc. Bấc chảy nhỏ. Khói trầm bốc lên thành một dòng nhỏ, cong nhẹ về phía cửa sổ.
Trong đầu ta, ta ghi vào sổ tay ngầm mà không cần lấy giấy bút:
Đêm mùng chín tháng chạp. Đêm trước đại hôn. Chàng mang tấm vải đỏ đến. Chàng nói câu chàng đã cầm ba tháng. Ta cầm tay chàng trước lần đầu.
Ta để dòng ấy đứng riêng, không kèm xác nhận, không kèm cơ chế.
Có những chi tiết trong đời một pháp y không cần công thức. Có những đêm ta không cần ghi lại nguyên nhân. Chỉ ghi lại rằng nó đã xảy ra, đủ.
“Chàng.”
Ta gọi khẽ.
“Ừ.”
“Ba tháng chàng đợi tấm vải này. Đêm nay chàng đến. Vì chàng biết đêm nay ta chưa ngủ.”
Chàng gật một cái. Ngón tay chàng không lỏng đi trong tay ta.
“Ta biết ba đêm nay nàng không ngủ. Nàng đọc sổ tay ngầm. Nàng ngồi trước áo cưới. Ta biết vì mỗi đêm sương ba canh ta cũng không ngủ, ta thấy cửa gian tây có ánh nến trầm.”
Ta không hỏi chàng làm sao nhìn được ánh nến qua cửa đóng. Chàng có cách. Chàng là quan phá án, chàng có cách của chàng. Trong tương phủ này, cách ấy là bình thường.
“Ba đêm ta không viết được câu nào.”
Ta thú. Không phải thú với ai ngoài chàng. Ba tháng nay ta chỉ thú với chàng.
“Nàng không viết vì nàng không biết viết câu gì.”
Chàng nói, không hỏi.
“Ta biết viết câu cho một vết đâm ngực trái. Ta không biết viết câu cho một áo cưới đỏ.”
“Ta cũng vậy.”
Chàng đáp. Ba chữ. Đơn giản. Ta nhận ra: chàng cũng chưa từng cưới lần nào. Chàng cũng chưa từng ghi được một dòng cho áo cưới đỏ.
Đêm nay chúng ta ngồi hai bên án, tay trong tay, hai người không biết viết câu cho đại hôn.
Trong nghề ngỗ tác, có một thành ngữ ta thường dùng: nói có sách, mách có chứng. Đêm nay ta không có sách, cũng không có chứng, chỉ có ngón tay chàng trong lòng bàn tay ta và một cuộn vải nhung đỏ trong hộp gỗ hồng.
Đủ.
Ta đưa bàn tay còn lại, bàn tay không nằm trong tay chàng, sang bên kia án. Cầm hộp gỗ hồng lên. Đóng nắp. Đặt hộp xuống bên chân ta, không xa.
“Ta nhận.”
Ta nói.
Chàng gật.
“Đêm mai,” ta nói tiếp, giọng vẫn thấp, “sau khi các nghi thức xong, sau khi Diệp tỷ và Bích Đào ra khỏi phòng tân hôn, chàng sẽ tự tay cởi.”
“Ừ.”
“Ta không cần chàng nói lại. Ba tháng chàng cầm trong lòng, đêm nay chàng nói ra, đủ.”
“Ừ.”
Chàng vẫn giữ một chữ. Ba tháng chàng giữ một câu, đêm nay chàng nói ra, sau đó lại giữ một chữ. Người này ba tháng có thể nói ra ba chữ tổng cộng, ta đã học được cách nghe cả ba chữ.
Ta cúi xuống, đặt trán ta lên mu bàn tay chàng. Không mạnh. Chỉ chạm.
Trán ta hơi ấm. Mu bàn tay chàng khô mát. Hộ oản gỗ đen ở mặt dưới cổ tay chàng ép nhẹ vào cạnh mặt ta. Ta không nhấc trán lên ngay.
Chàng cũng không rút tay ra.
Nến trầm cháy nhỏ, sương ngoài hành lang lắng thêm một tầng. Trong gian tây tương phủ đêm ấy, có một cô ngỗ tác chưa cưới cúi trán trên bàn tay một quan phá án. Không ai vào. Không ai ra. Cửa gian tây đóng nhưng không cài then.
Ta ngước lên sau ba mươi hơi thở.
“Chàng về ngủ đi. Ngày mai sớm.”
“Nàng cũng ngủ.”
“Ta sẽ ngủ. Sau khi chàng ra.”
Chàng đứng dậy. Chậm. Ta cũng đứng dậy. Hộp gỗ hồng ta xách theo bên tay không nắm tay chàng. Ta tiễn chàng ra cửa.
Ở ngưỡng cửa, chàng quay lại. Tay trái chàng chạm nhẹ vào tóc ta. Không phải chạm má. Chỉ chạm tóc buộc cao kiểu thư đồng, ngay chỗ dây buộc tóc.
“Ngày mai, nàng xoã tóc.”
Chàng nói.
“Ngày mai sau khi đại hôn xong, ta xoã.”
“Ừ.”
Chàng ra hành lang. Đi bốn bước. Không quay đầu. Ta biết chàng không quay đầu vì nếu quay, chàng sẽ không về được thư phòng đông.
Ta đóng cửa. Không cài then.
Trong gian tây, chỉ còn ta.
Hộp gỗ hồng ta đặt lên án, bên cạnh nến trầm. Không mở nắp nữa. Trong hộp, tấm vải nhung đỏ nằm im, chưa quấn. Nó chưa phải là vải giấu. Nó là vải chờ.
Ta ngồi xuống ghế. Lấy sổ tay ngầm ra khỏi hộc bàn nhị lớp. Mở trang mới. Cầm bút. Nghiên mực còn ẩm từ chiều nay Bích Đào mài giúp.
Ba đêm nay ta không viết được câu nào. Đêm nay ta viết được.
Ta chấm bút, viết:
Đêm mùng chín tháng chạp. Chàng đến. Chàng mang tấm vải đỏ đã đặt Diệp tỷ khâu ba tháng. Chàng nói: “Ta muốn tự tay cởi nàng khỏi vải này trong đêm tân hôn.” Ta không đáp bằng lời. Ta chạm tay chàng trước.
Ta đặt bút xuống. Nhìn dòng chữ vừa viết. Nghĩ một khắc.
Rồi ta chấm bút thêm một lần nữa. Ghi câu thứ hai:
Sáu năm giấu, đến đây là cuối cùng. Không phải giấu nữa. Là chờ.
Ta thổi mực khô.
Đóng sổ. Đặt sổ vào hộc bàn nhị lớp. Đóng hộc.
Trên án chỉ còn nến trầm và hộp gỗ hồng.
Ta đứng dậy. Đi đến móc gỗ đối diện. Chạm tay vào áo cưới đỏ treo trên móc. Vải nhung đỏ dưới ngón tay ta, cùng chất với tấm vải trong hộp. Diệp tỷ khâu áo cưới cho ta, cùng thời gian nàng khâu tấm vải cho chàng. Nàng biết cả hai chuyện, giữ kín cả hai chuyện.
Nói có sách, mách có chứng. Ta có sách của Diệp tỷ, ta có chứng của chàng. Đêm nay ta có đủ để bước vào ngày mai.
Ta thổi tắt nến trầm.
Trong bóng tối, ta cởi nốt áo ngoài. Không quấn dây vải cũ. Đêm nay ta ngủ lần đầu trong sáu năm không quấn dây vải. Da ngực ta thoáng lạnh, không quen. Nhưng lạnh cũng chỉ một khắc.
Ta lên giường, kéo chăn.
Ngoài cửa sổ, sương xuống bảy phần. Trong bóng tối, ta nghe được cả tiếng sương rơi từ mái ngói xuống hành lang. Rơi thành nhịp nhỏ, đều.
Trước khi ngủ, ta nói khẽ vào bóng tối một câu, không cho ai nghe ngoài chính ta.
“Cha. Đêm mai con cưới. Ngày kia con vẫn làm ngỗ tác. Nghề cha, con giữ. Chồng con, con chọn. Cha nếu nghe được, cho con một đêm ngủ ngon đêm nay.”
Sương ngoài hành lang rơi tiếp một nhịp.
Ta khép mắt.
Trong giấc ngủ nửa chừng đêm mùng chín tháng chạp, ta mơ một giấc ngắn. Không phải mơ vụ án. Không phải mơ mở tử thi. Ta mơ thấy chính ta, đứng trước gương gian tây, mặc áo cưới đỏ, tóc đã xoã. Trong gương, sau lưng ta, có một người đàn ông vai bên phải hơi cao hơn vai bên trái, tay trái đeo hộ oản gỗ đen, đứng chờ. Không giục. Không nói.
Ta trong gương đưa tay ra sau. Chạm vào tay chàng.
Lần này chàng nắm chặt.
Ta bừng mắt một khắc. Ngoài cửa sổ, gió cuối canh năm đã có mùi trầm hương từ bàn thờ chính đường bên ngoài. Ai đó trong tương phủ đã dậy thắp hương sớm cho gia tiên Lục thị. Ba tháng nay ta xức trầm để khử mùi tử thi trước khi vào phòng khám. Đêm nay ta ngửi mùi trầm mà trong đầu ta không hiện ra một cái xác nào.
Chỉ hiện ra dòng chữ mới ta vừa viết vào sổ tay ngầm, và một hộp gỗ hồng đặt trên án.
Ta khép mắt lại. Ngủ tiếp.
Đêm còn một canh cuối cùng trước khi đại hôn. Ta chịu được.