Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 36: Đại Hôn

Sáng ngày đại hôn, sương chưa tan trên mái ngói tương phủ Lục.

Ta thức dậy giờ Dần. Trong sáu năm, chưa có buổi sáng nào ta dậy mà không phải bó ngực trước. Đêm nay đúng ra không phải bó. Nhưng theo nghi lễ, dưới lớp áo cưới đỏ vẫn có một dây lụa trắng viền hoa, buộc nhẹ, không giấu nữa, chỉ giữ nếp cho lớp áo trong.

Ta ngồi bên án viết. Đèn dầu đã cháy hết bấc, tim bấc đen như tro hương chưa đổ.

Bên ngoài phòng có tiếng gõ nhẹ.

“Cô. Là em.”

Bích Đào.

“Vào.”

Cửa khép mở. Bích Đào bước vào, tay bưng chậu đồng nhỏ, trong chậu có nước gừng ấm và ba chiếc khăn lụa gấp sẵn. Sau lưng nàng, Diệp Nương bước vào, tay ôm một bọc lụa đỏ nặng.

Ba người phụ nữ. Một gian phòng thư. Một sáng đại hôn.

Không ai nói lớn.

Diệp Nương đặt bọc lụa đỏ lên án. Nàng cởi lớp giấy dầu, mở ra. Trong ánh sáng đầu ngày, một bộ áo cưới đỏ trải ra như mảng máu tươi vừa bung khỏi vết thương lớn. Sáu tấm lụa Tô Châu, mỗi tấm thêu chỉ vàng, thêu phượng, thêu mai, thêu mây cuộn. Bên vai áo, đôi tua đỏ dài chấm mũi hài.

Ta nhìn.

Không đưa tay chạm.

Trong nghề đọc xác, ta đã nhìn đủ máu tươi để không rung tay. Nhưng bộ áo cưới đỏ này không phải máu. Là một thứ mà sáu năm qua ta không cho phép mình nghĩ đến.

“Ngươi đi rửa mặt trước,” Diệp Nương nói khẽ. “Xong ta mặc cho.”

Ta gật.

Bích Đào đưa khăn ấm cho ta. Ta nhúng khăn vào chậu nước gừng, vắt vừa, phủ lên mặt. Hơi ấm đọng ở mí mắt. Kiếp trước ta còn là pháp y bên cạnh bàn thép ở Sài Gòn, mỗi sáng cũng rửa mặt bằng khăn nóng thế này trước khi đeo găng vào phòng giải phẫu. Chỉ đổi khăn lụa và chậu đồng. Cùng động tác. Cùng cái tâm. Chỉ đổi việc.

Rửa xong, ta ngồi trước gương đồng.

Diệp Nương chải tóc ta. Không vấn kiểu thư đồng. Không vấn thấp gáy. Nàng chải sáu năm rối cũ thành một dòng đen sáng, rồi vấn cao thành búi to, chèn thêm bốn cây trâm phượng vàng và một mảnh khăn phù xoa đỏ phất bên má trái.

Ta nhắm mắt.

“Đau không?” Bích Đào hỏi khẽ khi cắm cây trâm cuối.

“Không.”

Đau bên trong hơn ngoài. Nhưng không phải đau khó chịu. Là đau của một mảnh đất đóng băng sáu năm bắt đầu tan.

Diệp Nương lấy son đỏ nhung. Cũng loại son ta đã điểm hôm ăn cháo sáng cùng Lục Vô Ngạn, hôm đó cách đây ba tháng lẻ chín ngày. Nàng đưa son lên môi ta. Chậm. Đều. Chấm lớp nền dày, rồi bơm ra hai bên bằng đầu ngón trỏ.

Rồi đến áo.

Diệp Nương và Bích Đào mỗi người một bên, kéo tay áo lụa đỏ trùm qua đầu ta. Áo nặng. Sáu tấm lụa xếp lớp, thêu chỉ vàng đè lên nhau, khi phất ra sau chân, tà áo trải một vệt như dòng máu chảy đông ở mặt đất. Cổ áo cao, che tận xương cổ. Ống tay áo rộng, buông tới ngón út.

Cuối cùng, khăn hỉ đỏ.

Diệp Nương phủ khăn lên đầu ta. Khăn dày, thêu song hỷ vàng trên nền đỏ nhung. Trước mắt ta, thế giới lập tức đổi màu. Đỏ. Chỉ đỏ. Ánh sáng lọt qua sợi lụa mỏng, đọng thành một tầng hồng ấm. Ta không nhìn được ai. Không thấy đường đi. Không thấy bản mặt mình trong gương.

Chỉ nghe.

Nghe tiếng thở của Bích Đào bên trái, hơi nhanh. Nghe tiếng Diệp Nương gấp lại lớp giấy dầu, chậm. Nghe tiếng sáo thổi từ ngoài cổng tương phủ Lục, ai đó đang tập nghi lễ.

Hỷ phục nữ Trung Hoa · thêu phượng vàng, chụp ảnh cưới

Hỷ phục nữ Trung Hoa · thêu phượng vàng, chụp ảnh cưới

662.000đ

Xem chi tiết →

Trong khăn đỏ, ta ngồi im.

Kiếp trước ta chưa từng mặc áo cưới. Hai chín tuổi vẫn độc thân. Kiếp này, sáu năm giả nam, chưa từng dám nghĩ đến. Hôm nay, mười tám tuổi, mặc lớp áo đỏ nặng nhất đời, ngồi trong tầng hồng ấm của khăn hỉ, ta thấy hai kiếp tan vào nhau như hai lớp mực khô đè lên nhau trên cùng một tờ giấy. Không có ranh giới. Chỉ có một tờ giấy đỏ chưa viết chữ.

Ta thở nửa nhịp.

Đủ.


Bên ngoài, tiếng trống nghi lễ vang lên.

Ba tiếng nhặt. Rồi bảy tiếng dồn.

Diệp Nương đứng dậy.

“Đến giờ. Ta dẫn ngươi ra sảnh chính.”

Ta gật đầu dưới lớp khăn đỏ. Bích Đào đỡ tay trái. Diệp Nương đỡ tay phải. Ta đứng lên, tà áo lụa đỏ trải xuống chân, hài đỏ thêu phượng cắm trong lớp áo. Ba bước đầu ta bước không quen. Lụa dày kéo bước ta chậm hơn nửa nhịp. Nhưng ta không sảy chân. Trong nghề pháp y, ta từng đi qua nền phòng giải phẫu ướt máu, nền lấp hạt kê trong nhà nghèo, nền bùn nghĩa trang cửa Nam. Nền lụa đỏ mới, cũng chỉ là một nền.

Ba người phụ nữ đi ra khỏi phòng thư.

Hành lang tương phủ dài. Đá dưới chân đã có người rắc cánh hoa đỏ. Cánh mai đỏ, cánh mẫu đơn, cánh hồng lai. Không bậc thềm nào không đỏ. Không bờ tường nào không treo lụa đỏ. Cả tương phủ Lục sáng nay như bị nhúng vào một chậu son.

Ta bước ba mươi bước.

Đến cổng sảnh chính, tiếng trống dừng.

Diệp Nương ghé sát tai ta, giọng chỉ đủ ta nghe.

“Ngoài kia có vua và thái hoàng thái hậu. Có thượng thư ba bộ. Có mười tám công hầu. Có mẹ nuôi ngươi. Có Bích Đào. Không có ai lạ. Ngươi đừng sợ.”

Ta gật.

“Ta không sợ.”

Không sợ thật. Trong nghề đọc xác, ta đã đứng đối diện đủ hạng người sống và người chết. Vua chỉ là một người sống ngồi trên ghế cao hơn. Đám công hầu chỉ là một hàng người sống mặc áo đồng loạt. Cái sợ thật của ta năm nay đã tan hết ở đêm ám sát ba tháng trước, khi ta cầm dao chém một tên đao thủ trong tương phủ Lục, tay không run. Cái đêm ấy ta biết: khi cần cứu người mình yêu, ta không run.

Đêm nay, ta không cần cứu. Chỉ cần đi.

Cửa sảnh chính mở.


Sảnh chính tương phủ Lục rộng ba mươi trượng. Trần cao hai tầng. Cột gỗ đỏ nạm vàng. Hôm nay giữa sảnh trải một tấm thảm đỏ dày, chạy thẳng từ cửa vào tới bàn thờ thiên địa. Hai bên thảm, hai hàng người đứng. Bên trái là văn quan. Bên phải là võ quan. Cả hai hàng đều mặc triều phục trang trọng nhất.

Cuối cùng, phía trên bàn thờ, có ba ngai đặt cao. Ngai giữa là vua. Ngai bên trái là thái hoàng thái hậu. Ngai bên phải trống, có một cây tùng nhỏ chậu sứ trắng, thay cho cha đẻ Lục Vô Ngạn đã mất.

Trong lớp khăn hỉ đỏ, ta không nhìn được rõ. Nhưng ta cảm được. Có tiếng lụa cọ, có mùi trầm hương lan ra từ bốn góc sảnh, có hơi thở của hàng trăm người sống đứng im.

Diệp Nương và Bích Đào đưa ta vào giữa thảm đỏ.

Đến giữa sảnh, họ dừng.

Có một bước chân đi ngược lại phía ta.

Bước chân ấy ta thuộc.

Sáu tháng ở Đại lý tự, ta đã nghe chàng bước hàng nghìn lần. Trong nghề đọc người, ta biết mỗi bước chân là một chữ ký. Bước chân của Lục Vô Ngạn có ba đặc điểm: hài chàng đế mỏng nên tiếng chạm đất nhẹ, chân trái chàng nặng hơn chân phải một chút vì vết thương cũ ở đầu gối, và giữa hai bước chàng có nửa nhịp ngưng, như một câu ngắn có dấu phẩy ở giữa.

Đêm nay, cùng bước chân ấy, chàng đi tới đón ta.

Chàng dừng cách ta một bước.

Ta không nhìn được chàng. Nhưng ta ngửi được. Trầm nhạt. Sương đêm chưa tan hết trên vai áo chàng. Hộ oản gỗ đen của chàng, mùi gỗ cũ ấm.

Chàng không nói.

Chàng đưa tay ra. Ta không thấy tay. Nhưng ta cảm được, cách sáu tấc bên ngoài lớp khăn hỉ.

Diệp Nương và Bích Đào lui một bước.

Ta đưa tay ra. Ngón tay ta chạm ngón tay chàng.

Chàng nắm nhẹ.

Không siết. Không lỏng. Chỉ nắm.

Trong lòng bàn tay chàng, ta cảm được một mảnh vải nhỏ. Chàng đã đặt sẵn trong lòng bàn tay chờ ta. Mảnh vải mềm, gấp làm bốn. Ta biết ngay. Là miếng lụa đỏ chàng đưa ta đêm trước, mảnh vải chàng nói sẽ tự tay cởi ta khỏi vải này trong đêm tân hôn. Chàng đã cầm sẵn. Đại hôn chưa xong, chàng đã báo cho ta biết đêm sau là gì.

Ngón tay ta run một lần. Chỉ một lần.

Chàng siết tay ta chặt thêm nửa nhịp. Rồi lại nới.

Ta hiểu.

Không sợ.

Ta ngẩng đầu dưới lớp khăn đỏ. Bước tiếp.


Nghi thức đại hôn Đại Tống bốn lễ.

Một, bái thiên địa.

Chàng dẫn ta đến bàn thờ thiên địa, đặt ở đầu thảm đỏ. Bàn thờ có ba bát hương lớn, ba lư hương đồng, một tấm ván đỏ khắc hai chữ thiên địa bằng vàng. Ta và chàng quay mặt về phía Bắc, nơi vua ngồi. Ta chỉ nhìn thấy lụa đỏ, mờ nhoè qua khăn hỉ.

Người xướng lễ, giọng vang cả sảnh.

“Nhất bái thiên địa.”

Ta và chàng cùng quỳ. Ta không quen quỳ trong áo cưới, tà áo lụa đỏ nặng ép xuống hai đầu gối, ta phải hạ chậm, chống nửa gan bàn tay. Chàng quỳ bên trái, cách ta nửa bước. Chàng chờ ta xuống trước, rồi mới xuống theo.

Ta cúi đầu. Trán ta không chạm đất, chỉ chạm không khí trên tấm thảm đỏ. Trong lớp khăn hỉ, mắt ta khô, không rơi. Không phải không xúc động. Là vì trong nghề pháp y, ta học được cách không rơi nước mắt ở nơi công cộng. Ta để nước mắt cho đêm.

Bái đủ ba lần.

Đứng dậy.

Hai, bái vua và song thân.

Chàng dẫn ta quay mặt về phía ngai vua. Ta không nhìn được vua. Nhưng ta cảm được hơi thở vua đang mỉm cười.

“Nhị bái quân trưởng.”

Bái lần thứ tư. Bái lần thứ năm. Bái lần thứ sáu.

Sáu lần xuống. Sáu lần lên. Chân ta tê nhẹ, xương chậu ê. Nhưng lưng ta thẳng.

Đến lượt bái song thân.

Bên trái ngai vua, có một chiếc ghế thấp, mẹ nuôi ta Thẩm bà ngồi trên đó. Bà mặc áo lụa lam sẫm, cổ áo thêu hai chữ phúc thọ bằng chỉ bạc. Bên phải, bên ngai thái hoàng thái hậu, có một chiếc ghế thấp khác, trống. Cha đẻ Lục đã mất. Thái hoàng thái hậu về danh nghĩa nhận Lục Vô Ngạn làm cháu ruột từ nhỏ, đêm nay bà ngồi thay hai hàng ghế song thân bên phía chồng.

Ta và chàng quỳ. Ba lần bái.

Trong lần bái thứ hai, ta nghe được tiếng Thẩm bà khóc rất nhỏ trên ghế thấp. Không phải khóc lớn. Là khóc kiểu mẹ nuôi đã ngồi hai mươi năm bên giường bệnh, khóc kiểu người đã đợi con dâu tưởng chừng không đợi nổi, khóc kiểu người đã sáu năm nhìn con giả nam mà không dám hỏi. Khóc như đá lạnh gặp nước ấm, tan không ai nghe.

Trong khăn hỉ, mắt ta ướt một chút. Ta nghiến răng nửa nhịp. Không rơi.

Ba, bái phu thê.

Chàng dẫn ta quay mặt vào nhau.

Ta không thấy chàng. Chàng không thấy ta. Chỉ có lớp khăn hỉ đỏ giữa hai mặt.

“Tam bái phu thê.”

Ta và chàng cùng cúi.

Lần đầu ta cúi đầu trước Lục Vô Ngạn. Lần đầu chàng cúi đầu trước ta. Sáu tháng ta gọi chàng đại nhân, ba tháng ta gọi chàng chàng trong bốn bức tường, đêm nay ta gọi chàng phu quân trong nghi lễ, trước mặt vua và cả triều đình.

Ba lần cúi.

Đứng dậy.

Xong nghi thức chính.


Tiếp là lễ dâng rượu hợp cẩn.

Bích Đào và một cung nữ bước ra, mỗi người bưng một chén rượu đỏ, chỉ cao bằng nửa ngón út. Ta và chàng nhận chén, uống một hớp, đổi chén nhau. Ta không nhìn được chàng, nhưng cách bốn tấc, ta nghe được nhịp thở chàng khi chàng nhận chén ta. Nhịp thở ấy dài hơn thường ngày nửa canh. Chàng cũng đang xúc động, chỉ giấu kỹ.

Rượu vào cổ ta, không cay. Là rượu tỉa mai ướp năm năm, ngọt như mật đọng.

Nhị vị hôn phối uống xong, người xướng lễ vang lên câu cuối.

“Lễ thành. Cung nghinh tân nương nhập động phòng.”

Sảnh chính đồng loạt cúi đầu.


Ta không tự đi được nữa. Lụa cưới nặng, khăn hỉ dày, mắt không nhìn rõ. Chàng nắm tay ta chặt hơn nửa nhịp. Ta bước theo chàng.

Từ sảnh chính ra thảm đỏ ngoài, chín mươi bước. Ta đếm từng bước bằng nhịp gót hài chạm nền lụa. Chín mươi bước dài như một đêm ta thức khám xác. Nhưng đêm nay không có xác. Chỉ có bước chân chàng, và tay chàng, và đầu thảm đỏ nối vào cửa gian đông sương.

Gian đông sương là phòng tân hôn.

Đến cửa, đám thị nữ dừng. Không ai vào theo. Đây là quy củ Đại Tống: qua ngưỡng cửa gian tân hôn, chỉ tân lang tự dẫn tân nương vào, không có người thứ ba.

Chàng dẫn ta qua ngưỡng.

Cửa gỗ đỏ khép sau lưng ta một tiếng cụp mềm.


Trong gian tân hôn, mọi thứ đỏ.

Ngay cả không khí cũng ấm hơn ngoài. Trên trần treo ba dải lụa đỏ dài xuống, trên bàn án đỏ có cây nến đỏ khổng lồ đang cháy, đầu tim bấc vàng ổn định. Giường tân hôn phủ sa đỏ, chăn đỏ, gối đỏ. Bên đầu giường, một bát nước nhân sâm đỏ nhạt. Trước gương đồng, hai hạt táo đỏ, hai hạt lạc, hai chùm long nhãn khô, biểu tượng hoài tử của tục hôn Đại Tống.

Chàng dẫn ta đến mép giường.

Ta ngồi xuống, mép giường mềm. Áo cưới lụa đỏ trải chín tấm trên vải sa. Trong khăn hỉ, ta chờ.

Theo lễ, chàng phải dùng cán cân bằng gỗ lim gọi hỷ xưng để hất khăn hỉ. Nhưng chàng không cầm hỷ xưng.

Chàng ngồi xuống mép giường bên cạnh ta.

Cách nửa bàn tay.

Chàng đưa tay lên, nắm nhẹ hai mép khăn hỉ, kéo xuống bằng chính tay chàng.

Khăn rơi vào lòng ta.

Ánh nến đỏ trong phòng đổ vào mắt ta. Ta chớp một cái. Rồi ngước lên nhìn chàng.

Chàng nhìn ta.

Đêm nay, dưới ánh nến đỏ, gương mặt chàng không lạnh như ngày ở Đại lý tự. Xương gò má vẫn cao, mắt vẫn đen như mực đọng lâu, nhưng trong lòng mắt ấy có một tầng ánh mềm mà ta chưa từng thấy trong sáu tháng làm việc bên chàng. Tầng ánh ấy không phải ánh nến. Là ánh của một người đã đợi lâu, đêm nay không phải đợi nữa.

Chàng nhìn ta nửa nhịp thở. Rồi thấp giọng.

“Thẩm Yên.”

Hai chữ.

Ta không đáp bằng tên chàng. Ta đáp bằng một chữ đã quen từ ba tháng trước.

“Chàng.”

Chàng cười. Không cười mở miệng. Chỉ nhếch mép một chút. Kiểu cười của người đã cân xong một chuyện nặng ba đời, đặt xuống, và không cần nhấc lên nữa.

Chàng đứng dậy. Đi ba bước đến bàn án đỏ. Cầm hai chén rượu nữa, đây là chén riêng, không phải chén nghi lễ. Chàng bưng về, đặt một chén trước ta.

“Uống với ta. Không phải rượu lễ. Là rượu ta đã chôn từ ngày ngươi vào Đại lý tự.”

Ta cầm chén. Rượu đỏ hơn rượu lễ. Đây là rượu mai đỏ ngâm hạt đào, chôn dưới gốc mai. Chàng đã chôn từ tháng đầu ta vào Đại lý tự. Chàng đã tính trước ba tháng đầu năm.

Nâng như nâng trứng.

Trong ba tháng đầu ấy, chàng chưa từng nói với ta một câu về tương lai. Nhưng chàng đã chôn rượu.

Ta uống nửa chén. Rượu ấm, ngọt, đắng nhẹ ở hậu.

Chàng cũng uống nửa chén. Đặt chén xuống.

Trong phòng, ngoài tiếng nến cháy tim bấc, không còn tiếng gì khác.

Chàng đưa tay lên, chạm nhẹ cây trâm phượng vàng trên búi tóc ta.

“Đêm nay ngươi mệt. Ta không vội.”

Ta gật.

“Ta cũng không vội.”

Sáu năm ta bó ngực. Đêm nay không phải là đêm để phải vội mở. Chỉ là đêm để đứng bên chàng, ngồi bên chàng, biết rằng cửa đã khoá, khăn đã rơi, tên đã gọi, ta đã ra khỏi vỏ.

Chàng nhìn ta thêm một nhịp. Rồi đưa ta ra ghế bên cửa sổ. Ghế gỗ trầm, có đệm đỏ. Cửa sổ mở he hé, gió đêm mang mùi trầm hương từ ngoài phòng lọt vào.

Ngoài phòng, có tiếng lửa nến rất khẽ.

Chàng nhìn ra cửa sổ.

“Diệp Nương đang thắp nến trầm hương ngoài hành lang. Suốt đêm.”

Ta gật.

Diệp Nương đã hứa với ta từ tháng trước. Đêm tân hôn của ta, nàng ấy sẽ ngồi ngoài cửa gian đông sương, thắp một dãy nến trầm hương suốt đêm, canh cho ta ngủ yên. Không phải nghi lễ. Là lời hứa của một người bạn duy nhất biết ta là nữ trong sáu năm qua. Nàng ấy đã giữ bí mật cho ta sáu năm. Đêm nay, nàng ấy giữ cửa cho ta.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Ta ngước lên nhìn chàng.

“Chàng biết vì sao Diệp Nương lại chọn trầm hương không?”

Chàng lắc đầu.

“Vì trầm hương khử uế. Sáu năm ta vào phòng khám tử, ta xức nước hoa trầm để khử mùi xác. Đêm nay Diệp Nương thắp nến trầm ngoài cửa. Không phải để đuổi tà. Là để cho ta biết, sáu năm không xức phòng khám nữa cũng được. Ta có một gian phòng đủ ấm để không cần trầm khử.”

Chàng nhìn ta lâu.

“Vậy trầm hương đêm nay là gì?”

“Là dấu tro.”

Ta ngồi xuống ghế đệm đỏ. Áo cưới lụa nặng, ngồi xuống, tà áo trải trên nền lụa như một tấm bản đồ chưa vẽ. Trong lòng ta, tro hương đầu ta nghĩ tới không phải tro chết. Là tro của một mảnh vải trắng ta bó ngực sáu năm, một ngày nào đó ta sẽ đốt. Không phải đêm nay. Đêm nay ta còn cất trong tủ. Nhưng ngày đốt cũng không xa.

Chàng ngồi xuống ghế đối diện. Cách ta nửa cánh tay. Không chạm. Không xa.

Trong gian tân hôn ấm nến, hai chúng ta cùng nhìn khuôn cửa sổ mở he hé. Bên ngoài, tiếng nến trầm hương cháy đều. Trên sàn hành lang, ánh vàng của mười cây nến rực trải một vệt dài trước cửa gian đông sương. Diệp Nương ngồi trên chiếc ghế thấp, tay trái đặt trên đùi, tay phải cầm que gỗ nhỏ, mỗi khi tim bấc nến cong quá, nàng ấy vươn tay cắt bớt. Nàng ấy không nhìn cửa. Không nghe ngóng. Chỉ ngồi. Trong sáu năm qua, đây là lần đầu Diệp Nương ngồi canh Yên tử của mình mà không phải đề phòng ai. Đêm nay không có ai vào. Không có ai ra. Chỉ có bấc nến trầm hương, cháy đều, cháy suốt đêm.

Ta nhìn chàng. Chàng nhìn ta.

Trong ánh nến đỏ trong phòng cộng ánh nến trầm hương ngoài phòng, đôi mắt chàng có hai lớp sáng: một lớp đỏ nhung của gian tân hôn, một lớp vàng mờ từ hành lang. Đôi mắt như mực đọng lâu ấy đêm nay không viết án. Chỉ viết một chữ.

Ta biết chữ ấy.

Không cần chàng đọc.

Trong nghề đọc xác, ta học được rằng người sống nói dối bằng miệng, nhưng mắt là thật. Trong nghề đọc người, ta học thêm rằng có những câu không cần miệng nói, vẫn đủ đọng như mực đỏ trên bản án cuối. Đêm nay trong đôi mắt chàng, ba chữ đọng như thế.

Ta đưa tay ra. Không nắm tay chàng. Chỉ đặt lên mu bàn tay chàng, ngón út khép nhẹ.

Ngón tay chàng khô. Ấm.

Chàng không xoay tay lại. Chỉ để yên.

Cả hai cùng nhìn ra cửa sổ.

Kết tóc xe tơ, cổ nhân nói. Ta không thuộc kỹ tục ngữ, nhưng đêm nay ta hiểu bốn chữ ấy theo cách riêng: kết tóc là tóc đã vấn cao đủ giữ cây trâm phượng, xe tơ là sợi lụa đỏ trong lòng bàn tay chàng chờ đêm sau. Cả hai đều là việc chậm. Cả hai đều không cần vội.

Ngoài hành lang, nến trầm hương cháy đều. Trong phòng, cây nến đỏ khổng lồ đầu tim bấc vàng, không lay. Trên sàn hành lang, hình ảnh Diệp Nương ngồi im nghiêng người, tay cắt bấc. Trong gian đông sương, hình ảnh ta và chàng ngồi hai ghế đối diện, mu bàn tay chạm mu bàn tay.

Đêm dài. Nến còn nhiều.

Đêm nay chưa vội.

Từ đêm này, còn bao đêm nữa.


Ta ngước nhìn chàng lần cuối trong ánh nến đỏ.

Trong lớp áo cưới đỏ nặng, dưới lớp lụa mềm, có một mảnh vải trắng nhỏ, viền hoa. Là mảnh vải giữ nếp áo trong, không phải mảnh vải bó ngực sáu năm cũ, mà là một mảnh mới, do Diệp Nương khâu riêng cho lễ. Một ngày nào đó chàng sẽ tự tay cởi. Không phải đêm nay. Đêm nay ta chỉ ngồi, ta chỉ nắm mu bàn tay chàng, ta chỉ đợi nến trầm hương ngoài phòng cháy đến canh cuối.

Đủ.

Đêm ấy, đại hôn của Thẩm Yên và Lục Vô Ngạn khép lại trong ánh nến trầm hương. Ngoài hành lang, Diệp Nương ngồi canh không rời. Trên bàn án đỏ, hai chén rượu mai đỏ ngâm hạt đào đã cạn nửa. Trên án viết, trong gương đồng nhỏ, ta soi lại một lần: khuôn mặt của Thẩm Yên, không phải hạ quan, không phải ngỗ tác nam, không phải thiếu niên trầm lặng. Chỉ là Thẩm Yên, tân nương của Lục Vô Ngạn, và người đã đi qua hai kiếp.

Đêm nay, ta ngủ trong lụa đỏ.

Ngoài phòng, tiếng bấc nến trầm hương cháy đều đến sáng.