Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 5: Điều Tra Sợi Vải Xanh

Ra khỏi cửa Vương phủ, sương chưa tan hết.

Sương đọng trên mái đao đá xanh còn nhỏ giọt xuống bậc thềm. Ta đi sau Lục Vô Ngạn nửa bước. Trong tay áo, sợi vải xanh nhỏ đã được ta bọc vào tờ giấy dó, hai đầu gập lại cẩn thận. Cha ta dạy: chứng cứ mà rơi, cả vụ án rơi theo.

Nghĩ tới cha, ngực ta có gì đó nặng. Ta chưa gọi cha lần nào từ khi trở lại. Chỉ gọi trong bụng.

Lục Vô Ngạn dừng bên xe ngựa. Không quay lại, chỉ nói:

“Ngươi lên trước.”

Ta lên. Chỗ ngồi bên trong xe hẹp, mùi gỗ bồ đề khô. Hạ quan còn ngửi ra mùi thuốc mai thoang thoảng của Lục. Rồi cửa xe khép. Xe ra khỏi phường Đông, đi về phía Đại lý tự.

Trong xe, Lục ngồi đối diện. Tay hắn để lên đầu gối, hộ oản gỗ đen kéo sát cổ tay. Mắt nhìn ra khe rèm.

“Ngươi nghĩ mấy tiệm dệt vải xanh này ở Biện Kinh?”

“Hạ quan chưa đếm được.” Ta trả lời. “Nhưng xanh này không phải xanh chàm thường. Nghiêng qua ánh lục. Là xanh vỏ vịt.”

Lục quay đầu nhìn ta.

“Ngươi biết cả tên nhuộm.”

“Kiếp trước hạ quan có đọc.” Ta thu tay lại. “Chỉ vài dòng.”

Kiếp trước ta có đọc, đúng thế. Nhưng đọc trong sách phân tích sợi vải in màu, có chú thích tên khoa học. Ở đây ta nói “kiếp trước có đọc” là cách an toàn nhất. Cái gì ta biết đều gán vào “cha dạy” hoặc “kiếp trước có đọc”. Không ai chất vấn được người chết và người xưa.

Lục không nói tiếp. Xe đi mười lăm nhịp thở. Đại lý tự đã tới.


Vào phòng khám nhỏ phía sau. Ta đóng cửa. Đặt mảnh giấy dó lên bàn, tháo mở.

Sợi vải xanh dài hai thốn ngón tay. Đứt xoắn, không cắt phẳng. Ta rút bút, quẹt nhanh vào cuốn sổ tay riêng của mình:

Ta ngẩng đầu.

“Đại nhân. Nạn nhân giằng vải xanh khi bị bóp cổ. Cào được sợi ra. Kẻ giết mặc áo vải xanh khi đó.”

“Xanh vỏ vịt.” Lục lặp lại chậm. “Không phải màu thường. Ngươi có biết ai bán?”

“Chưa biết. Cần đi hỏi.” Ta ngừng. “Xanh vỏ vịt không phải dân nghèo mặc. Đắt. Nhuộm hai đợt, thợ ít làm.”

Lục gật đầu.

“Đi. Ngươi và ta.”

Ta ngước lên, hơi bất ngờ. Đại lý tự thiếu khanh đích thân đi khảo sát tiệm dệt? Không phải là công việc thị vệ sao. Nhưng ta không hỏi. Chỉ cúi đầu, xức nước hoa hương trầm vào bên tai và cổ tay theo thói quen mấy hôm nay. Mùi tử thi giếng còn vương áo. Ta không muốn đi vào tiệm dân với mùi đó.


Tiệm đầu, phường Đông. Cửa hiệu “Tang Y Trai”.

Chủ tiệm là ông già sáu mươi, tóc trắng đến ngang tai. Nhìn ta trước, thấy áo ngỗ tác đen của Đại lý tự, không đón. Nhìn Lục sau, thấy phù hiệu bạc trên áo, cúi rất thấp.

“Đại nhân… hạ dân…”

“Không cần.” Lục đưa ra sợi vải nhỏ. “Ta hỏi. Xanh này ai làm được?”

Ông chủ cầm sợi, đưa lên ánh sáng. Nhìn kỹ. Xoay ngón vò nhẹ. Vò xong, mắt nghi ngại.

“Đại nhân… xanh này không phải của tiệm nhỏ. Nhuộm hai lần, kiểu Giang Nam. Ở Biện Kinh chỉ có ba nơi làm được. Thứ nhất là Cung phường, dệt cho hoàng thất, không bán ra ngoài. Thứ hai là Vinh Bố Ty phường Bắc, chuyên dệt cho quý tộc. Thứ ba là Lâm gia Bố Trang phường Nam, tiệm nhỏ, nhưng thợ giỏi.”

Ta gật. Ghi vào sổ ba tên. Cung phường loại trừ.

“Ta cảm ơn.” Lục cúi nhẹ. Ông chủ vội cúi thấp hơn.

Ra khỏi tiệm, Lục hỏi:

“Ngươi nghĩ đi nơi nào trước?”

“Vinh Bố Ty.” Ta đáp. “Lớn hơn. Sổ sách kỹ hơn. Nếu không có, sẽ về Lâm gia.”

“Đi.”


Vinh Bố Ty phường Bắc, mái đao vươn cao, đèn lụa treo trên hiên. Chủ tiệm là bà chủ trung niên tên Tôn Kim, mặc áo màu nghệ, tóc búi cao. Bà nghênh đón Lục rất kỹ, nhưng khi nghe hỏi vải xanh, mặt bà lộ vẻ ngại.

“Đại nhân. Xanh vỏ vịt của tiệm tôi bán ra hai năm nay chỉ có bốn khách quen. Đều là quan trên. Sổ khách hàng của tiệm không tiện đưa ra.”

“Ta biết luật lệ tiệm.” Lục nói, giọng đều. “Nhưng đây là vụ án chết người. Sổ ngươi giữ nguyên, ta chỉ hỏi bốn tên.”

Bà chủ nghiêng người. Ta nhìn cách bà đứng, hông chếch, tay để trước bụng. Không phải kính nể, là toan tính. Bà đang bảo vệ khách quen. Khách quen là quan lớn, tiệm dệt sống nhờ bốn tên đó.

Ta xen vào:

“Bà chủ. Hạ quan xin bà nghe. Sợi vải này tìm thấy trên móng tay một nữ nô tì. Nàng ta đã chết. Nếu bà giấu, tiệm bà sẽ liên đới. Nếu bà khai, tiệm bà sẽ được ghi công vào án. Bà tự chọn.”

Bà chủ nhìn ta. Cái nhìn hơi kinh, hơi khinh, một thiếu niên nhỏ dám nói vậy. Nhưng Lục Vô Ngạn đứng cạnh, ánh mắt hắn không cản ta. Bà cuối cùng gật.

Đi vào trong. Lấy ra sổ. Trên sổ, xanh vỏ vịt hai năm gần đây, bốn khách:

Ta nhìn sổ. Bốn tên, không có Vương thị lang, không có con trai Vương thị lang. Ta ngước sang Lục. Lục nhíu mày.

“Không có Vương phủ ở đây.”

“Chưa có.” Ta nói. “Đi Lâm gia.”

Bà chủ nghe hai chữ “Vương phủ” của Lục, mặt trắng đi một chút. Nhưng không nói. Lục cúi đầu ngắn với bà, ra khỏi tiệm.


Đường từ phường Bắc sang phường Nam đi qua kênh Biện Hà. Trưa nhưng nắng loãng, mặt nước đen. Ta nhìn xuống nước, nghĩ.

Nếu Lâm gia cũng không có tên Vương phủ, thì vải này từ đâu? Ta có thể sai. Ta có thể suy diễn quá đà. Cha từng dạy: chứng cứ chưa gộp đủ, đừng chỉ tay ai. Nói có sách, mách có chứng.

Nhưng cha nói vậy vì thời cha chưa có kiến thức về sợi vải, về dấu vết. Ta có. Ta thấy sợi trên móng nạn nhân. Ta thấy vết bầm bàn tay ở cổ nàng ta. Ta biết. Chỉ cần thêm một cái tên trong sổ tiệm dệt là đủ.

Xe qua cầu.

Dưới cầu, nước đen chảy chậm. Ngày mai vào canh nào đó, xác một nô tì khác cũng có thể trôi qua đây. Xác nào cũng chảy về hạ nguồn cùng một dòng, cũng lạnh cùng một cách.


Phường Nam nghèo hơn nhiều. Nhà lợp tranh xen ngói cũ. Tiệm Lâm gia Bố Trang nằm cuối một hẻm hẹp, cửa gỗ bạc màu, treo tấm bảng nhỏ khắc chữ mộc mạc. Bên trong, ba khung cửi đang chạy. Tiếng gõ đều đặn, như mưa nhỏ.

Chủ tiệm là một người đàn ông ngoài bốn mươi, gầy khô, tay có sẹo dài từ khuỷu xuống cổ tay. Nghe Lục hỏi, ông cúi đầu, không dám nhìn thẳng.

“Đại nhân… xanh vỏ vịt tiệm tôi có làm. Nhưng ít. Ba tháng gần đây làm được sáu xấp.”

“Bán cho ai?” Lục hỏi.

Ông chủ nhìn qua vai, gọi một người đàn bà từ sau bước ra. Vợ ông. Bà cầm một cuốn sổ dày, đóng bìa vải nâu. Đưa cho Lục.

Lục mở. Ta đứng bên, cùng nhìn.

Sổ ghi:

Ta đếm bằng mắt. Vương công tử. Năm xấp. Hai lần đến, một lần thân đến, một lần sai người. Ba tháng gần đây.

Ta nhìn Lục. Lục nhìn ta.

“Vương công tử.” Lục nói khẽ, giọng đều nhưng có gì trầm đi. “Không phải cha. Là con.”

“Vương thị lang có mấy con trai?” Ta hỏi ông chủ.

“Nghe nói có ba. Nhưng chỉ có công tử cả là Vương Kiêu ra ngoài. Hai đứa nhỏ chưa xuất phủ.”

Vương Kiêu. Ta ghi vào sổ tay.

Ba tháng gần đây năm xấp vải xanh vỏ vịt. Nạn nhân chết vào tháng chạp, ngày mười bảy. Trước đó mười lăm ngày, Vương Kiêu mua thêm hai xấp cùng loại vải, cùng lô nhuộm.

Ta có bằng chứng thứ nhất. Vải trên móng nạn nhân khớp với vải Vương Kiêu vừa mua.

Ta nghẹn một chút. Không phải vì phát hiện. Mà vì ta thấy trong tay nàng ta hôm khám, khi ta rạch nhẹ khoang móng để lấy sợi ra, ngón tay nàng còn co lại như cầm gì. Nàng ta chống cự đến giây cuối. Móng tay còn cố ghì.

“Cảm ơn ngươi.” Lục nói với chủ tiệm. “Sổ của ngươi ta mượn ba ngày. Sẽ trả nguyên.”

Ông chủ cúi thấp, tay run. Không dám hỏi thêm.


Ra khỏi hẻm, trời đã ngả nắng chiều. Bóng cây đổ xuống mặt đường thành sọc dài.

Lục lên xe trước lần này. Bảo phu xe đi thẳng về Đại lý tự. Ta ngồi đối diện, hai tay đặt lên sổ.

“Đại nhân định bắt Vương Kiêu khi nào?”

“Chưa. Cần thêm.”

“Thêm gì?”

Lục nhìn ta. Ánh mắt hắn như dao khắc, không tối, không sáng.

“Vương Kiêu là con quan Lễ bộ. Bắt hắn không có bằng chứng chắc, tiệm dệt sẽ bị ép rút lời khai. Vương thị lang có thể mua cả ba tiệm im. Ta cần một chứng cứ hắn không phủ nhận được.”

“Sợi vải là chứng cứ.” Ta nói.

“Là chứng cứ. Nhưng chưa đủ. Vương Kiêu có thể khai: ‘Ta mua vải xanh, ta bán lại cho gia đinh, gia đinh giết, không phải ta.’ Chỉ cần hắn đưa được một tên gia đinh nhận, hắn ra khỏi vụ.”

Ta gật. Đúng. Ở kiếp trước cũng vậy. Chứng cứ vật chất mà không có chuỗi liên hệ, luật sư giỏi cãi bay ba đường.

“Vậy đại nhân cần thêm gì?”

“Nhân chứng thấy Vương Kiêu mặc áo xanh vỏ vịt gần giếng đêm hôm đó.” Lục nói. “Hoặc chính miệng hắn khai.”

“Chính miệng hắn khai.” Ta nhắc lại. “Cần bẫy.”

Lục nhìn ta, khoé môi nhếch rất nhẹ. Không phải cười. Là ghi nhận.

“Ngươi nói giống người trong nghề.”

“Hạ quan nghe cha kể.” Ta lại lặp lại câu quen thuộc. Kiếp trước ta nghe cảnh sát điều tra kể còn nhiều hơn. Nhưng cha là bức bình phong tốt nhất cho mọi hiểu biết của ta.

Xe đi trong im lặng một lúc. Ta ngước lên, hỏi thêm:

“Đại nhân, hạ quan hỏi câu ngoài lề.”

“Nói.”

“Hộ oản gỗ đen trên cổ tay đại nhân, ai để lại?”

Lục ngừng một nhịp. Cầm tay trái, xoay hộ oản. Gỗ đen bóng, có khắc chữ mờ ở mặt trong. Ta chỉ vừa liếc thấy, chưa đọc kịp.

“Cha ta.” Lục nói. Giọng phẳng nhưng có gì đó chìm dưới. “Trước khi mất.”

Ta gật. Không hỏi thêm. Có những cái đau không được hỏi lần một.

Ta cũng có một quạt lụa gấp của cha. Trên quạt hai chữ mờ: chờ ta. Ta chưa hiểu cha chờ ai. Chờ ta trở về? Chờ ngày báo thù? Ta chưa dám mở hết cái quạt đó. Sợ mở ra rồi, ta không đủ sức làm điều cha muốn.

Xe rẽ vào cửa Đại lý tự.


Trở về phòng khám nhỏ. Trời đã tối. Ta thắp đèn dầu. Đặt lại sợi vải xanh trên bàn, cùng sổ ghi chép, cùng cuốn sổ mượn của Lâm gia.

Lục đứng bên bàn, tay chống nhẹ. Nhìn cả ba vật.

“Ngươi có ý gì để dụ Vương Kiêu?”

Ta nghĩ một lúc. Cầm bút quẹt vào giấy trắng:

Ta chọn phương án ba. Ghi thêm cạnh dòng:

“Tại sao? Vì Vương thị lang là kẻ giữ chân. Nếu cha con nói chuyện, chúng ta có thể nghe. Nghe được nội tình chỉ cần một khe cửa.”

Đưa giấy cho Lục.

Lục đọc. Đọc xong, không nói. Nhưng gật đầu.

“Được. Sáng mai ta cho gọi Vương thị lang. Nói tiến độ vụ án. Nói có nhân chứng mới nhưng chưa lộ tên. Cho phép Vương thị lang về, dặn khoan báo con.”

“Đại nhân dặn hắn khoan báo con.” Ta hiểu ngay. “Càng dặn hắn khoan, hắn càng gấp báo.”

“Đúng.” Lục nói. Cái nhếch môi lại xuất hiện, lần này rõ hơn. “Gieo gió gặt bão. Vương phủ đã gieo, sắp gặt.”

Ta khẽ cười. Lần đầu ta cười ở Đại lý tự.

Ta thấy hắn không phải chỉ là dao lạnh. Có lúc dao cũng khắc chữ rất đẹp.


Đêm đó ta ở lại Đại lý tự thêm một canh giờ. Ta mở cuốn sổ tay riêng ra, viết vào trang cuối:

“Ngày mười tám tháng chạp. Vụ án giếng phủ Vương. Bằng chứng vải xanh vỏ vịt khớp với năm xấp Vương Kiêu mua ở Lâm gia Bố Trang. Còn một mắt xích: chuỗi tay. Ngày mai bẫy Vương thị lang qua đối thoại. Đợi cha con lộ.”

Ngừng bút. Ghi thêm một dòng nhỏ hơn:

“Cha. Ta bắt đầu từ vụ nô tì. Chưa tới ngài. Nhưng đã tới gần.”

Gấp sổ. Cất vào đáy hòm gỗ nhỏ có khoá của ta, đặt dưới bàn.

Bên ngoài, sương đêm đầu tháng đã xuống. Đèn dầu ở hành lang cháy vàng, phập phồng theo gió. Ta xức thêm một chút hương trầm ở tay, mở cửa ra.

Trên hành lang có bóng ai đi ngang, không quay lại. Vai rộng, tay trái đeo hộ oản gỗ đen. Bước chân đều, không vội. Lục Vô Ngạn.

Ta đứng nhìn theo cho tới khi bóng hắn khuất góc hành lang. Rồi mới đóng cửa.

Trong lòng ta có gì đó rất nhẹ. Không phải mừng. Là như một sợi chỉ vừa buộc được vào tay áo. Sợi chỉ đó chưa đi tới đâu. Nhưng đã có đầu.


Sáng hôm sau, giờ Thìn.

Vương thị lang được xe đưa tới Đại lý tự. Lão vào phòng thiếu khanh, mặt còn xanh hơn hôm ở giếng. Hai tay chắp trước bụng, không dám ngẩng.

Lục Vô Ngạn ngồi sau án. Ta đứng cạnh, không nói. Ta chỉ nghe. Ghi.

“Vương thị lang.” Lục lên tiếng. “Vụ giếng phủ ngươi, ta còn thiếu vài điểm. Hôm nay mời ngươi tới hỏi thêm.”

“Đại nhân… hạ dân nghe.”

“Xác nô tì tên là Uyển Cầm?”

“Vâng.”

“Nàng ta vào phủ ngươi mấy năm?”

“Ba năm.”

“Ba năm này nàng ta phục vụ ai chính?”

Vương thị lang ngừng một chút.

“Phục vụ… phu nhân của hạ dân.”

“Không phục vụ Vương công tử?”

Câu hỏi rơi xuống như đá thả xuống nước. Vương thị lang nuốt.

“Phục vụ… đôi khi. Khi công tử cần trà đêm.”

“Khi công tử cần trà đêm.” Lục lặp lại. Chậm. “Được. Ta hỏi tiếp. Ngày mười bảy tháng chạp, đêm nàng ta chết, công tử ngươi ở đâu?”

Vương thị lang cúi thấp hơn.

“Đại nhân… hạ dân chưa hỏi con trai.”

“Ta cho ngươi bốn ngày về hỏi.” Lục nói. “Nhưng ngươi khoan báo con là ta đang hỏi. Cứ hỏi bình thường, như cha hỏi con. Đến ngày thứ năm ta muốn nghe câu trả lời từ ngươi.”

Vương thị lang giật đầu ngẩng lên. Mắt hắn mở to.

“Đại nhân… nghĩa là…”

“Ta chưa nói gì thêm.” Lục cắt. “Ngươi tự hiểu. Về đi.”

Vương thị lang cúi lạy, lui ra. Đến cửa còn quay đầu nhìn lại một cái. Rồi biến mất trên hành lang.

Ta nhìn Lục. Lục nhìn cửa.

“Bốn ngày.” Lục nói. “Vương thị lang sẽ báo con ngay đêm nay. Vương Kiêu sẽ hoảng. Hắn sẽ đi tìm gia đinh giao vải, hoặc đốt vải trong phủ, hoặc bỏ trốn.”

“Đại nhân định làm gì?”

“Đêm nay ngươi và ta phục ngoài Vương phủ.” Lục nói. “Đợi Vương Kiêu ra.”

Ta gật.

Ta mới làm ngỗ tác được mấy hôm. Chưa từng phục kích. Nhưng nếu là dịp bắt kẻ giết một cô nô tì mà cả phủ định đóng vụ, ta có thể ngồi cả đêm trên mái nhà đợi.


Đêm buông xuống thứ hai của ngày mười tám. Ta xức thêm hương trầm, gói cuốn sổ vào áo trong, cầm bên hông một túi vải nhỏ. Trong túi có mấy thứ ta cần: cuộn dây gai, một mảnh dao mổ nhỏ, giấy dó, và bao găng vải mà ta tự may.

Lục đợi ta ở cửa hậu Đại lý tự. Mặc áo đen, không đeo hộ oản gỗ đen bên ngoài. Hai thị vệ đi cùng, cũng áo đen.

“Đi.” Lục nói.

Ta đi theo. Ra khỏi Đại lý tự bằng cửa nhỏ phía Bắc, tránh cửa chính. Trong đêm, phường Đông có nhà đèn đỏ, có tiếng đàn tỳ bà xa xa. Ta đi giữa Lục và một thị vệ. Không ai nói. Bước chân trên đá lạnh, gió đêm cuối tháng chạp còn buốt.

Tới cách Vương phủ nửa dặm, cả nhóm dừng ở góc khuất một bức tường thấp. Lục ra hiệu, thị vệ tản ra hai bên. Ta và Lục ở giữa, quan sát cửa sau Vương phủ.

Đợi.

Trong đêm, tiếng gõ mõ canh của tuần đinh xa xa. Một canh. Hai canh.

Đến canh ba, cửa sau Vương phủ mở khe. Một bóng người bước ra. Cao. Vai rộng. Mặc áo tối màu, đeo đao ngắn ở hông. Bước nhanh về phía Đông.

Ta nhìn Lục.

Lục gật đầu.

“Vương Kiêu.”

Ta gật lại.

“Đại nhân, hạ quan có thể theo được không?”

Lục nhìn ta một giây. Rồi rút trong áo ra một mảnh vải đen nhỏ, đưa cho ta.

“Che nửa mặt. Ngươi còn nhỏ, người quen mặt ít. Nhưng cẩn thận.”

Ta nhận. Che nửa mặt. Bước ra khỏi bức tường thấp.

Đêm còn dài. Vương Kiêu đang đi. Ta đi theo.

Ta không quay lại. Từ đây, ta bắt kẻ giết đầu tiên của kiếp này.