Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 6: Đối Chất

Vương Kiêu bước vào phòng thẩm tra Đại lý tự lúc canh Tỵ, tay bị trói sau lưng bằng dây gai thô. Hắn hai mươi hai tuổi, vai rộng, ngực dày, tóc buộc kiểu quý công tử. Áo gấm màu chàm còn sạch. Trói tay hắn xong, thị vệ đẩy nhẹ vai. Hắn không loạng choạng. Bước vào ghế đối diện Lục Vô Ngạn, ngồi xuống đàng hoàng như đang tới nhà bạn ăn tiệc.

Ta ngồi cuối bàn, tay cầm bút, sổ ghi mở sẵn.

Đại lý tự phòng thẩm tra hôm nay không thắp đèn dầu. Trên trần có ô cửa mái, ánh sáng thu rơi thẳng xuống giữa bàn. Trên bàn: một khay gỗ đựng sợi vải xanh lấy từ móng tay nạn nhân, một tờ khai của phủ Vương thị lang, và bát nước tro để lau tay.

Ta liếc Vương Kiêu, đọc hắn như đọc một xác tươi mới đến.

Cổ tay trái có vết chai kéo ngang mu bàn tay, không phải chai bút, không phải chai kiếm, mà chai vác. Kẽ móng có đường viền đen mờ, cạy không sạch. Bụi đó không phải mực, không phải than. Gấu áo hắn phía trong, chỗ đầu gối, có phấn vàng nhạt.

Kẻ vác nặng ba tháng liên tiếp. Vật vác có bụi vàng.

Ta hạ mắt xuống sổ, viết thầm mấy chữ: “vết chai vác, phấn vàng gấu áo, kẽ móng đen mờ.”

Bút ta gõ nghiêng, một chấm mực nhỏ hình mũi kim rơi vào rìa trang.

Lục Vô Ngạn không mở lời ngay. Chàng đặt trước mặt Vương Kiêu một sợi vải xanh, dài chừng nửa đốt ngón tay.

“Vương công tử. Ba tháng trước ngươi mua năm xấp vải xanh ở tiệm Trịnh, phường Nam. Sổ tiệm ghi rõ tên, ghi rõ ngày, ghi rõ số bạc.” Chàng nói bình lặng, không nhấn.

Vương Kiêu cười khẩy, ngả lưng ra thành ghế đến nỗi dây gai kéo căng.

“Ta mua vải là chuyện thường.”

“Là chuyện thường.” Lục Vô Ngạn gật nhẹ, “vậy sao sợi vải xanh này lại kẹt trong móng tay một nữ nô tì phủ nhà ngươi, khi nàng ta đã chết dưới đáy giếng phủ ngươi, ba ngày trước?”

Vương Kiêu bấy giờ mới nheo mắt.

“Đại nhân. Nô tì tự nhảy giếng. Cả phủ đều thấy.”

Ta ngước lên. Đặt bút xuống. Giọng ta khô lạnh, đúng nhịp câu “xác nhận, nguyên nhân, cơ chế”.

“Hạ quan xin phép trình bày. Trên cổ nạn nhân có tám vết bầm ngón tay. Bốn dấu bên phải, bốn dấu bên trái. Khoảng cách đo được: ngón cái ba thốn, ngón trỏ hai thốn tám, ngón út hai thốn năm. Vết bầm còn đỏ, chưa chuyển tím đen, tức là bóp cổ khi tim còn đập. Phổi mở ra không có nước, chỉ có bọt máu khô. Nghĩa là nàng chết trước khi rơi xuống giếng.”

Ta ngưng. Rồi tiếp, giọng vẫn phẳng như đá lát:

“Xác nhận: giết người. Nguyên nhân: bóp cổ. Cơ chế: chèn khí quản, ngạt trong khoảng nửa khắc. Sau đó thi thể được ném xuống giếng để giả tự vẫn.”

Vương Kiêu nhìn ta. Ánh mắt hắn từ trên xuống, đo ta. Ta biết hắn đang đo cái gì. Hắn không đo bằng chứng. Hắn đo ta. Đo đứa “tiểu ngỗ tác” mười tám tuổi mặt gầy, giọng cứng, dám nhìn thẳng vào con trai một vị quan Lễ bộ.

Cái nhìn của hắn ta đã gặp rồi ở kiếp trước. Bên ngoài phòng giải phẫu. Người nhà nạn nhân đến chửi rủa. Cùng ánh mắt: “Ngươi là ai mà dám…”

Ta không tránh mắt. Không cần tránh. Kẻ đứng trước ta không phải trẻ hư nhà quan. Là kẻ đã bóp cổ một cô gái mười sáu tuổi trong đêm rồi thả xuống giếng cho nàng ta chìm.

Ta nói tiếp, giọng không dâng cao, không hạ:

“Vương công tử tay dài. Ngón cái đo qua, hạ quan ước ba thốn hai, chênh dấu bầm hai phân. Nhưng nạn nhân bị bóp lúc giãy, cổ xoay, dấu bầm co lại. Chênh hai phân không loại được người tay dài như vậy.”

“Ngươi…” Vương Kiêu gằn giọng.

Lục Vô Ngạn ngăn. Chàng chỉ khẽ nhấc một ngón tay lên. Vương Kiêu ngưng ngay. Trong Đại lý tự, ngón tay Lục thiếu khanh còn nặng hơn dây trói.

“Vương công tử.” Lục nói, “Tiệm dệt phường Nam khai với hạ quan. Vải xanh này chỉ có bảy khách mua trong ba tháng gần. Hai quý tộc, một tiêu cục, ba tiệm rượu. Người cuối cùng, khách lớn nhất, mua năm xấp một lần, là ngươi.”

Vương Kiêu nuốt khan.

“Ta mua vải xanh làm áo lót.” Hắn cố cứng, “chuyện nhà, không liên can nô tì.”

Ta khẽ hỏi, giọng vẫn khô:

“Vậy vì sao sợi vải xanh này lại có bụi vàng bám ở đầu, hạ quan đã thử lấy nước tro rửa, không tan? Bụi vàng này giống bụi ở gấu áo trong của Vương công tử.”

Ta chỉ vào gấu áo hắn.

Vương Kiêu cúi nhìn xuống, ánh mắt lần đầu tiên hơi loạn.

Cả phòng im. Chỉ có tiếng bút ta hạ xuống giấy, khô một tiếng.

Ta không cần hắn thú nhận ngay lúc này. Trong giải phẫu, người ta không đợi thi thể tự khai. Người ta cắt và người ta đọc. Bây giờ ta cũng vậy. Vương Kiêu chỉ là một cái xác chưa chết, và ta đang cắt hắn bằng lời.

Ngay lúc đó có tiếng gõ cửa gấp.

Thị vệ báo, giọng khẽ: “Bẩm thiếu khanh. Vương thị lang xin cầu kiến.”

Ta cầm bút, ngước lên nhìn Lục Vô Ngạn.

Mắt chàng chạm mắt ta một khoảnh khắc. Không nói. Chỉ hơi gật.

Vương thị lang bước vào. Sáu mươi tuổi, áo quan Lễ bộ tím sậm, đai da khảm bạc, râu bạc buộc gọn. Lão vốn là kẻ có tiếng “chắc như đá”, vào triều hai mươi năm không lộ vui buồn ra mặt. Nhưng lúc thấy con trai bị trói ngồi giữa Đại lý tự, hai vành mắt lão đỏ lên rất nhanh.

Ta nhìn kỹ. Cái đỏ đó không phải xót. Là sợ.

Lão quỳ trước Lục Vô Ngạn. Không phải gập gối lấy lệ. Là quỳ hẳn hai đầu gối xuống đá lát.

“Lục đại nhân. Con trai lão phu nhỡ tay ngu muội. Xin đại nhân khoan xử một tuần. Lão sẽ đích thân tra rõ, dâng đủ chứng cứ lên Đại lý tự. Nếu hắn thực có tội, lão xin theo luật, không xin miễn.”

Lục Vô Ngạn nhìn lão, mắt phẳng.

“Vương lễ bộ. Đại lý tự không phải chỗ để quan lại tự tra chuyện nhà mình.”

“Đại nhân…”

“Ngài xin gặp riêng con trai một khắc, hạ quan cho phép. Chỉ một khắc. Sau đó tiếp tục chính thức thẩm tra. Luật Đại Tống, con quan phạm án cũng là án. Cha con nói chuyện xong, án vẫn phải xử.”

Vương thị lang cúi rất thấp. Trán chạm đá.

“Đa tạ đại nhân.”

Lục Vô Ngạn quay sang ta.

“Thẩm ngỗ tác. Ngươi mang sợi vải và tang chứng sang phòng tang. Ghi lại đầy đủ, bổ sung số đo. Nửa canh giờ nữa quay lại đây.”

Ta cúi đầu, bưng khay gỗ tang chứng, sổ ghi kẹp bên nách. Đi ra.

Ngoài hành lang có gió. Cuối năm Biện Kinh vốn đã lạnh, gió trong Đại lý tự lại càng khô, càng thấm âm khí. Ta bước dọc hành lang, đi ba trượng thì tới phòng tang chứng bên cạnh phòng thẩm tra. Vách gỗ. Ta biết.

Ta không cố ý.

Nhưng ta không né tránh.

Nghĩa nữ, ngỗ tác, kẻ trọng sinh, ba danh phận này ở trong ta mấy ngày nay đã tự thoả thuận với nhau một điều: nghe được cái gì thì nghe. Người mất tiếng là người chết. Người sống phải mở tai.

Ta vào phòng tang. Đóng cửa nhẹ. Đặt khay gỗ lên bàn. Ngồi xuống ghế sát vách. Rót nước tro rửa tay, gỡ bút, mở nghiên. Mọi thao tác đều nhẹ, đều bình thường.

Chỉ có tai ta là nghiêng về phía vách gỗ.

Vách này ba mươi năm cũ, khe giữa các thanh gỗ đủ để lọt tiếng. Kiếp trước ta ngồi trong phòng giải phẫu vẫn nghe thân nhân nạn nhân la hét bên ngoài qua cửa sắt. Vách gỗ Đại Tống dày hơn cửa sắt bao nhiêu, nhưng tai người trọng sinh cũng nhạy hơn tai kẻ mới sống lần đầu bấy nhiêu.

Bên kia, Lục Vô Ngạn đã ra ngoài. Chỉ còn Vương thị lang và con trai.

Tiếng Vương thị lang, gấp, run:

“Kiêu tử. Nói cho cha nghe. Thật, hay giả?”

Vương Kiêu, giọng lười:

“Cha khỏi lo. Vụ này không nặng.”

“Con giết nô tì?”

Ta nghiêng đầu sát vách một chút. Bút mực trong tay dừng lại.

Vương Kiêu, giọng cụt như dao vằn ngắn:

“Nhỡ tay.”

“Nhỡ tay?” Vương thị lang cắn răng, “Nhỡ tay là bóp chết một con bé mười sáu tuổi rồi ném xuống giếng sao?”

“Con bé đó nhìn thấy con giao hàng đêm mùng bảy. Nếu không giết, nó nói ra thì cả nhà mình xong. Không chỉ con. Cha nữa.”

Ta cầm bút. Đầu bút gõ nhẹ vào nghiên. Một chấm đỏ nhỏ nhoè ra mép giấy. Ta không cần chép. Ta cần nhớ. Nhớ như nhớ vị trí một vết dao trên xác. Không được sai một phân.

Vương thị lang, hơi thở nặng, dài, đứt quãng:

“Giao… giao hàng gì?”

Ba nhịp im.

Vương Kiêu:

“Diêm thổ. Ba tháng nay.”

“Cái gì?!”

Lão gần như gào lên, nhưng kìm lại kịp. Còn nhớ đây là Đại lý tự. Còn nhớ Đại lý tự có tai vách. Còn nhớ mình đang quỳ trong nơi từng đưa không ít quan lại lên đoạn đầu đài.

“Cha bình tĩnh. Trên đầu con có người lớn hơn. Con chỉ vận chuyển. Không lo.”

“Ai lớn hơn? Kiêu tử, nói.”

Vương Kiêu im. Nói khẽ, khẽ đến nỗi ta phải nín thở mới rõ:

“Cha đừng hỏi. Cha biết thì cha cũng chết. Con biết thì con cũng nửa chân xuống mộ. Bây giờ con chỉ có một mắt xích. Trên còn hai mắt xích nữa. Đằng sau ba mắt xích là một người. Người đó, con không nói.”

Vương thị lang im rất lâu.

Trong tiếng im đó, ta nghe được cả tiếng thở dài của một lão quan Lễ bộ. Tiếng thở của kẻ vừa nhận ra con mình đã đứng bên bờ vực ba tháng nay mà mình không hay. Tiếng thở của kẻ suốt đời tự phụ “sạch trắng đen” bỗng thấy áo mình đã lấm bùn không giặt kịp.

Có câu nói xưa: gieo gió gặt bão. Nhà họ Vương gieo gió ba tháng. Bão đến hôm nay.

Vương Kiêu tiếp:

“Cha xin thiếu khanh cho con hoãn một tuần. Con sẽ nhờ người lớn hơn can thiệp. Chuyện này ém đi được.”

“Ém…” giọng Vương thị lang chua chát, “thiếu khanh Lục Vô Ngạn, ngươi tưởng ém được?”

“Người trên hắn ém được.”

Ta đặt bút xuống. Tay hơi lạnh, không phải vì gió.

Người trên Lục Vô Ngạn. Trên Đại lý tự thiếu khanh chỉ còn Đại lý tự khanh, và các thượng thư sáu bộ, và Trung thư môn hạ tỉnh. Nếu Vương Kiêu chắc chắn “người lớn hơn ém được” cho một vụ án giết người kèm buôn diêm thổ, thì “người lớn hơn” đó phải ở tầm thượng thư. Không thấp hơn.

Ta trọng sinh về Đại Tống chưa lâu, chưa quen mặt trăm quan. Nhưng có thể loại trừ. Kẻ ém được vụ án cho con quan Lễ bộ, không thể là Ngự sử đài, không thể là Công bộ, khó là Hộ bộ. Phải là kẻ có quyền động vào lễ chế, hoặc động vào Đại lý tự trực tiếp. Nghĩa là chính trong sáu bộ, hoặc Trung thư môn hạ. Phạm vi hẹp dần.

Ta khép sổ. Nhét vào tay áo. Không viết nữa. Từ khoảnh khắc này, mọi lời nghe được chỉ dành cho tai của Lục thiếu khanh, không dành cho giấy.

Kiếp trước, ta học rằng có những nguyên nhân tử vong nằm ngoài phạm vi cắt. Không phải mọi vết đâm đều nằm trong khoang bụng. Có vết ở trên đầu, có vết ở lưng, có vết ở nơi mà kẻ khám không được phép động dao vào. Bây giờ cũng vậy. Kẻ giết nô tì là Vương Kiêu, ta khám ra. Kẻ đứng trên hắn, ta chưa được khám.

Nhưng cha ta chết bất minh hai năm trước. Trên bia mộ khắc: “Tận trung phá án, chết oan không rõ.” Cha ta là ngỗ tác. Ngỗ tác chỉ chết oan khi bằng chứng cha lượm được chạm phải thứ gì đó lớn hơn ngỗ tác.

Ta hít một hơi rất khẽ.

Cánh cửa phòng thẩm tra bên kia mở ra. Vương thị lang đi ra. Ta không nhìn qua khe cửa, nhưng ta nghe rõ tiếng chân. Bước chân của lão nặng, chậm, như người vừa đi từ dưới nước lên. Đi qua hành lang, không nhìn hai bên, không thấy thị vệ chào, không thấy gì.

Ta đợi thêm ba nhịp. Ra khỏi phòng tang. Vào lại phòng thẩm tra.

Vương Kiêu vẫn ngồi trên ghế, nhưng miệng đã bớt cười. Đôi mắt hắn không còn đo ta như đầu buổi. Bây giờ hắn nhìn xuống dây trói ở cổ tay mình, nhíu mày.

Lục Vô Ngạn đứng bên bàn, tay trái đeo hộ oản gỗ đen, ngón tay khẽ gõ vào mặt bàn. Nghe tiếng chân ta, chàng ngước lên.

Ta cúi đầu, giọng bình thường:

“Đại nhân. Hạ quan có báo cáo tạm về sợi vải và bụi vàng. Xin đại nhân qua phòng tang xem qua.”

Lục Vô Ngạn hiểu. Chàng gật, bảo thị vệ:

“Trông chừng. Không cho ai vào phòng này, kể cả người ngoài phủ Vương.”

Hai người sang phòng tang chứng. Chàng khép cửa. Đóng chốt.

Ta không đợi chàng hỏi. Ta không có thời gian để đợi.

“Vương Kiêu thú nhận với cha. Ba tháng nay hắn buôn diêm thổ. Có người lớn hơn hắn bảo kê. Trên còn hai mắt xích nữa. Đằng sau ba mắt xích là một người, hắn không nói. Nhưng hắn khẳng định, người đó ém được vụ án qua tay đại nhân.”

Ta ngưng.

“Nghĩa là kẻ đó ở tầm thượng thư, hoặc cao hơn.”

Lục Vô Ngạn không đáp ngay. Chàng nhìn ta. Mắt như dao khắc, hai hôm nay ta đã nhận ra mắt đó không phải đang nhìn ta, mà đang tính toán một thứ khác trong đầu.

Chàng hỏi, giọng khẽ:

“Ngươi nghe qua vách?”

“Vâng.”

“Có ghi lại không?”

Ta rút sổ trong tay áo, đưa. Trong sổ ta đã ghi từng câu, từng chữ, không thêm bớt. Nghề pháp y kiếp trước dạy ta: mọi chi tiết đều là bằng chứng, không được ước lượng, không được lược thuật.

Lục Vô Ngạn đọc rất nhanh. Đọc xong khép sổ. Đặt lên bàn.

Rồi chàng làm điều ta không đoán được.

Chàng rút trong tay áo ra một túi vải nhỏ, to chừng lòng bàn tay. Đặt trước mặt ta.

“Ngươi mở ra xem.”

Ta mở. Bên trong là thứ bột màu vàng nhạt. Có mùi hơi nồng, hơi tanh khoáng chất. Ta rắc một ít lên đầu ngón tay, đưa gần mũi. Rồi lấy lược tre cạo nhẹ. Bột không rơi thành hạt tròn. Rơi thành mảnh sắc như tinh thể vỡ.

Ta biết mùi này. Ta đã ngửi mùi này khi khám gấu áo Vương Kiêu ban nãy.

“Diêm thổ.” Ta nói.

Lục Vô Ngạn gật.

“Diêm thổ Đại Tống dùng để chế thuốc súng cho quân đội. Triều đình cấm dân buôn. Ai buôn lậu bị khép tội đại nghịch, chém không cần xét lại. Ta đang điều tra một mạng lưới buôn lậu diêm thổ đã kéo dài ba năm. Vương phủ là một mắt xích ngoài rìa. Ta đợi Vương Kiêu ra tay hớ để bắt hắn từ hai tháng nay.”

Ta nghe, không hỏi. Chàng nói tiếp, giọng vẫn phẳng như đá lát nhưng ta nghe được sức nặng đằng sau:

“Ngươi tưởng hôm nay ta bắt hắn vì vụ nô tì? Không. Ta bắt hắn vì diêm thổ. Vụ nô tì là cái cớ danh chính ngôn thuận. Không có nô tì chết, ta không có lý do vào Vương phủ, không có lý do lục soát kho hầm, không có lý do đưa Vương Kiêu về đây.”

Ta chậm rãi khép miệng túi. Đặt lại lên bàn.

Ta hiểu vì sao đêm qua khi lục soát phủ Vương, Lục thiếu khanh không mấy chú ý tới phòng nô tì. Chàng đi thẳng xuống hầm kho. Ta hiểu vì sao mắt chàng lúc nãy không sáng lên khi ta báo Vương Kiêu thú nhận. Chàng đã biết trước.

Ta cũng hiểu vì sao chàng chọn nhận ta vào Đại lý tự với bổng lộc gấp đôi. Không phải chỉ vì “mắt ngươi không sợ tử thi”. Chàng cần một ngỗ tác đọc được xác đủ kỹ để phá cái cớ danh chính ngôn thuận, và câm miệng đủ chặt để không lộ mục tiêu thật.

Chàng nhìn ta, đợi ta hỏi.

Ta hỏi câu đầu tiên:

“Đại nhân. Vậy còn ‘người lớn hơn’ mà Vương Kiêu nhắc, đại nhân biết là ai không?”

Lục Vô Ngạn im lâu. Rất lâu.

Ta đợi. Tay ta khép lại trong tay áo, bấm nhẹ vào lòng bàn tay, lấy cái đau nhỏ đó giữ mình tỉnh. Trong đầu ta, kiếp trước hiện lên một hình ảnh cũ: một thi thể mở khoang bụng, dao mổ dừng ở gan, gan có khối u nhưng nguyên nhân tử vong không ở gan, mà ở não. Nguyên nhân nằm ngoài phạm vi cắt.

Kẻ ém vụ, kẻ bảo kê, kẻ đứng trên Vương Kiêu ba mắt xích. Hắn nằm ngoài phạm vi Đại lý tự.

Cuối cùng Lục Vô Ngạn nói. Không nhìn ta. Nhìn túi diêm thổ:

“Ta có một cái tên. Nhưng chưa dám nói ra. Ngươi mới vào Đại lý tự nửa tháng. Nghe xong cái tên đó, ngươi sẽ không ngủ được đêm nay.”

Ta đáp, giọng phẳng:

“Hạ quan đã lâu không ngủ trọn giấc.”

Chàng ngước lên. Nhìn ta.

Ánh mắt như dao khắc kia có một khắc lặng đi, phẳng ra. Không phải dịu. Là ngưng. Như con dao đã giơ lên nhưng chưa hạ xuống, giữ lơ lửng giữa không khí.

Chàng không đáp trực tiếp. Chỉ nói:

“Vụ nô tì, ngươi tiếp tục điều tra. Đưa Vương Kiêu về tội giết người. Xử đúng luật. Đó là bổn phận của ngươi. Vụ diêm thổ, để ta.”

Ta định gật.

Nhưng ta chợt nghĩ đến cha. Nghĩ đến chữ khắc mờ trên quạt lụa cha để lại: “chờ ta”. Nghĩ đến bia mộ ngoài nghĩa trang cửa Nam. Nghĩ đến đêm hôm trước khi trọng sinh, trong tay có dao mổ, sau lưng có dao nhọn của thân nhân nạn nhân. Kiếp trước ta chết vì không nhìn sau lưng. Kiếp này ta không được phép chết vì không nhìn sau lưng cha ta.

Ta ngẩng đầu.

“Đại nhân. Hạ quan có một điều xin thưa.”

Chàng gật.

“Cha hạ quan, Thẩm Cát, chết bất minh hai năm trước, khi đang giữ chức ngỗ tác ngoài phủ Khai Phong. Ngày cha mất, cha đang tra một vụ án nào đó, hạ quan không biết cụ thể. Nhưng cha để lại một câu, khắc mờ trong di vật: ‘chờ ta’. Cha không dặn ai chờ. Nhưng hạ quan nghĩ, cha đang chờ chính hạ quan. Chờ hạ quan lớn lên, tra ra kẻ giết cha. Nếu vụ diêm thổ này có bất kỳ dính dáng nào tới cái chết của cha hạ quan, xin đại nhân… cho hạ quan biết.”

Ta cúi thấp một chút.

“Không phải xin can thiệp. Xin biết.”

Lục Vô Ngạn nhìn ta rất lâu.

Ta thấy mắt chàng lay động một khoảnh khắc. Lần đầu tiên từ khi ta gặp chàng, mắt dao khắc kia có một tia gì đó khó gọi tên. Không phải thương hại. Không phải đồng cảm khách sáo. Là cái nhìn của kẻ vừa nhìn thấy một mảnh gương nứt của chính mình phản chiếu trên mặt người khác.

Chàng không đáp trực tiếp câu ta hỏi. Chàng đưa tay khẽ chạm vào hộ oản gỗ đen trên cổ tay trái. Chạm rất ngắn, gần như không ai để ý. Sau đó chàng nói:

“Thẩm ngỗ tác. Từ hôm nay, mọi điều ngươi nghe được trong Đại lý tự, mọi điều ngươi khám ra từ xác, chỉ nói với ta. Không giấy trong sổ chung. Không lời ngoài phòng này. Trực tiếp với ta. Ngươi hiểu chưa?”

“Hạ quan hiểu.”

“Còn về cha ngươi…” chàng ngưng nửa nhịp, “Đại lý tự có sổ án cũ. Vụ nào cha ngươi tra dở, ta sẽ tìm lại cho ngươi. Chỉ ta và ngươi đọc. Không ai khác.”

Ta cúi rất thấp:

“Đa tạ đại nhân.”

Chàng khẽ gật, không nói thêm. Nhặt túi diêm thổ, giấu lại vào tay áo. Nhặt sổ ghi của ta, cũng giấu.

Ra khỏi phòng tang, chàng đi trước, ta theo sau. Trước khi mở cửa, chàng quay lại một cái, giọng khẽ đến mức chỉ hai người nghe:

“Ngươi cẩn thận. Đại lý tự có mắt, có tai. Có kẻ mua tai vách. Có kẻ mua bút mực đỏ trong tay ngỗ tác. Từ hôm nay ngươi ra khỏi cửa nào cũng nhìn hai bên trước.”

Ta gật.

Cửa mở. Ánh sáng thu chiếu vào hành lang gỗ.

Buổi thẩm tra tiếp tục nửa canh giờ nữa. Vương Kiêu, dưới sức ép của số đo dấu bầm, bụi vàng trên gấu áo, sợi vải xanh trong móng nạn nhân, cuối cùng cũng thú nhận tội giết người. Về diêm thổ, hắn không nhắc một chữ. Lục Vô Ngạn cũng không hỏi. Vụ nô tì đóng lại về mặt danh chính. Vụ diêm thổ vẫn nằm im dưới lớp da, chờ dao mổ.

Hoàng hôn Biện Kinh xuống nhanh vào cuối đông. Ta rời Đại lý tự khi tiếng trống canh Dậu vừa nổi. Trên đường về phường Nam, ta cầm túi thuốc mẹ nuôi trong tay áo, chân bước đều.

Gió lạnh khô. Trên phố mấy quán bán quầy đêm bắt đầu thắp đèn dầu. Đèn dầu Biện Kinh không sáng bằng đèn điện Sài Gòn kiếp trước, nhưng nó có một điều mà đèn điện không có: nó nhấp nháy. Nhấp nháy như đang nói với ai đó rằng đêm nay không phẳng lặng.

Ta đi qua tiệm ngân trang Diệp Nương. Đèn tiệm đã tắt. Ngày mai ta sẽ ghé, gửi lại một tin.

Trong đầu ta, cái tên “thượng thư” hiện ra rõ như mực đỏ chấm lên giấy trắng. Không tên riêng. Chỉ chức. Nhưng chức đó đã đủ để làm cha ta chết oan hai năm trước, và có thể đủ để làm ta cũng chết oan bất cứ đêm nào.

Ta thầm nói với gió:

“Ta trọng sinh về Đại Tống, tưởng chỉ cần biết pháp y hơn nghìn năm là đủ. Té ra không đủ. Ta còn phải học lại triều đình.”

Rồi ta khẽ mỉm cười, một cái mỉm cười lạnh khô mà kiếp trước ta hay dùng khi đứng trước bàn giải phẫu:

“Được. Từ hôm nay, ta học. Trắng đen phải rõ.”

Gió cuốn tà áo ta lên một chút. Bên trong lớp áo ngoài, dây vải giấu ngực siết chặt vào xương sườn, còn đau âm ỉ ở chỗ hôm trước bị vướng cạnh giếng. Ta không nhớ. Ta chỉ nhớ, ở đâu đó trong Biện Kinh này, có một vị thượng thư đang ngồi ăn tối cùng gia đình, không biết rằng đêm nay có một đứa “tiểu ngỗ tác” mười tám tuổi vừa bắt đầu đếm ngày cho hắn.

Ta rẽ vào ngõ nhà. Đèn phòng mẹ nuôi còn sáng.

Ta đẩy cửa.