Ta Là Nữ Sát Thủ Được Vương Gia Mua Về Làm Vợ
Chương 6: Cánh Ghép, Kế Đột Kích
Bốn ngày chuẩn bị. Ta không ngủ.
Đêm ngày mười lăm ta thức đến canh năm. Trên bàn án tân phòng, hai cánh kẹp bướm ngọc trắng ghép lại. Không kẽ. Ngọc tuyết trắng nguyên khối, hoa mai chìm sáu cánh chạm sâu vào lòng ngọc, dấu ngự tứ hoàng gia Đại Nam. Cánh trái chàng đưa ta đêm rằm tháng ba. Cánh phải ta giấu trong đế giày mười lăm năm. Bây giờ nằm cạnh nhau.
Ta chưa cài. Chỉ nhìn.
Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang
41.000đ
Xem chi tiết →Sáng canh mão ngày mười sáu, ta cầm cánh lên. Đặt vào búi tóc. Ba lần cài, ba lần rơi. Ám Các dạy giấu vật trong tóc, không dạy đội đồ ngọc. Lần thứ tư ta giữ được bằng cách quấn thêm một sợi tơ đen thô, ràng cánh vào búi. Không đẹp. Chàng thấy sẽ khựng.
Ta ra khỏi tân phòng, đi thẳng đến kiếm phòng chàng.
Chàng đứng đợi cùng Lang Cao. Trên bàn án trải một tờ giấy lụa lớn, vẽ tay bằng mực đen. Bản đồ sào huyệt Ám Nam. Chàng ngước lên khi ta bước vào. Không nói về cánh ngọc trong tóc ta. Chỉ liếc thoáng một cái. Cái nhìn đó ta không đọc được.
Ta bước đến bàn.
“Ba lối vào,” ta nói. “Cửa chính hướng nam, canh hai mươi sát thủ. Cửa phụ đông, canh sáu. Cửa ngầm phía tây, sau thác nước lớn, canh ba. Chỉ có ba người trong Ám Các biết cửa ngầm. Chưởng môn. Ám Nhất. Ta.”
Lang Cao ngước lên. Y là hộ vệ, không phải sát thủ, không quen bản đồ ngầm. Y hỏi khẽ: “Ám Nhất là ai?”
“Bốn mươi tuổi, cấp năm. Ba tháng trước bị thương chân trái, đi khập khiễng. Không rời sào huyệt.”
Chàng gật một cái. Không hỏi ta biết bằng cách nào. Sát thủ ở Ám Các mười lăm năm, câu hỏi đó không cần đáp.
Ta cầm bút lông chàng chuẩn bị sẵn. Vẽ ba vòng nhỏ trên bản đồ.
“Nhóm Lang Cao đánh nghi binh cửa chính. Năm hộ vệ, ba lính vương phủ. Không cần thắng. Chỉ cần dụ sát thủ ra ngoài.” Đầu bút chấm cửa đông. “Nhóm phụ đánh cửa đông, ba người, giữ ba khắc rồi rút.” Đầu bút chấm cửa tây, sau thác. “Ta với vương gia và ba hộ vệ vào đường ngầm. Đi thẳng phòng Chưởng môn.”
Chàng nhìn ba vòng vẽ. Đứng lâu. Ngón trỏ chàng chạm vào cửa ngầm.
“Đường ngầm hẹp. Nếu bị chặn giữa đường, không lui được.”
“Không ai biết đường ngầm ngoài ba người ta vừa nhắc. Ám Nhất chân bị thương. Chưởng môn sẽ đợi trong phòng, không ra ngoài.”
“Ngươi chắc.”
Ta ngước lên. “Ta chắc.”
Lang Cao ho một tiếng nhẹ. Y lùi một bước, ra khỏi mép bàn. Y đã ở bên chàng sáu năm điều tra, biết khi nào cần im.
Chàng gật. Rồi cuộn tờ giấy lụa lại, buộc dây đỏ, đưa Lang Cao. “Xuống nhà kho, phát vũ khí.”
Sau bàn kế, ta đi qua sảnh lớn. Bức tranh cũ Ngô vương phi và em bé ba tuổi vẫn treo. Ta không dừng lâu. Chỉ liếc một cái. Cánh ngọc trong búi tóc ta nặng hơn ta tưởng. Nặng không phải vì trọng lượng.
Tám hộ vệ tin cẩn nhất phủ đang chờ ở sân tập. Chàng chỉ cần đưa mắt, họ hiểu. Không cần lời. Sáu năm chàng chọn từng người một, họ biết cách im. Ta đi qua hàng người, không chào. Họ không chào ta. Sát thủ và hộ vệ vương phủ, không có tục lệ chào nhau. Chỉ có tục lệ đứng cùng phía khi trận đánh mở.
Ngày mười sáu qua. Ta rửa vũ khí đến canh ba mới nằm. Ba con dao ngắn, một kiếm mảnh, sáu kim găm cứu mạng. Mài lưỡi, tra dầu, gói vải. Xong ta ngồi bên án nhìn cánh bướm ngọc trong hộp gỗ đàn. Không cầm. Chỉ nhìn đến khi đèn dầu chảy sáp giọt cuối.
Ngày mười bảy, kiếm phòng.
Ba canh giờ. Chàng và ta tập song luyện.
Lần đầu ta không giấu. Mười lăm năm huấn Ám Các, ta luôn giấu ba phần võ. Quy tắc sát thủ: không lộ hết cho ai, kể cả đồng môn. Hôm nay ta không giấu.
Kiếm phong ta nhanh. Nhắm huyệt. Không hoa mỹ. Cấp bốn Ám Các, đủ chém một cấp năm nếu bất ngờ, đủ hoà nếu đối mặt.
Chàng kiếm cấp năm. Không giấu chút nào. Lần đầu ta thấy chàng cầm kiếm thật, không phải kiếm gỗ tập, không phải kiếm gấm trang trí. Kiếm sắt biên cương, đen tuyền. Mỗi động tác là chết. Bốn năm chàng ở biên cương chống Nam Man, chàng học kiếm từ máu.
Ta đâm huyệt Đản Trung. Chàng lệch một tấc, đâm hông. Ta lăn, đâm khoeo. Chàng gạt, đâm vai ta. Ta cúi, đâm bụng. Chàng lui một bước, kiếm dựng đứng chặn. Ta đảo, đâm hạ bàn. Chàng đá ngang chân ta, ta nhảy. Kiếm chàng chém đường ngang cổ, ta ngửa người, cánh ngọc trong tóc ta lỏng ra một chút, ta nghiêng đầu giữ.
Ba canh giờ. Không ai đâm trúng ai. Có một lần đầu kiếm chàng chạm đầu tóc mai ta, cắt đứt ba sợi. Chàng ngừng nửa nhịp. Ta không ngừng. Ta đâm nhanh vào huyệt Trung Quản chàng, chàng lệch bằng chuôi kiếm.
Sau nửa nhịp đó, chàng không nương tay nữa. Ta cũng không.
Cuối cùng ta buông kiếm trước. Mồ hôi chảy xuống cằm. Ta ngồi xuống sàn kiếm phòng. Chàng ngồi cách một bước, tay áo đen ướt vai. Hơi thở chàng chỉ hơi gấp.
Chàng nói: “Vô Nghi.”
Ta nhìn.
“Sau đêm Ám Các, nếu ngươi muốn rời Nam Kinh, ta không giữ. Ám Các tan, Trịnh Ứng Nguyên bị bắt, ngươi không còn bị săn. Ngươi tự do.”
Ta không đáp ngay. Trong tay áo ta là khăn tay tẩm hương trầm mẹ giữ. Ta rút khăn ra. Đặt lên đùi. Mùi trầm ngọt sâu bay ra nhẹ. Không nồng bằng đêm hôm qua ta mở khăn lần đầu. Mùi mười lăm năm chỉ còn nhạt.
“Ta sẽ không rời.”
Chàng ngước lên.
“Đêm Ám Các xong, ta ở đây. Không phải tân phòng thiếp. Ta muốn danh chính thất.”
Ba nhịp thở. Chàng không đáp ngay. Ta biết chàng đang tính. Chính thất là Từ Nguyệt, cưới bốn năm, con thế gia Nam Kinh. Xuống thiếp không phải chuyện dễ. Hôn nhân chính trị. Từ gia đang giữ nửa binh Đông đạo.
“Nếu vương gia không đồng ý,” ta nói tiếp, “ta xuống thiếp danh giữ cửa. Nhưng ta ở đây.”
Chàng: “Chính thất.”
Không do dự. Không giọng cân nhắc. Chỉ hai chữ.
Ta khựng nửa nhịp. Phản xạ nghề bật ra trước: một bước cách, huyệt Nhân Nghinh bên trái cổ chàng, kim trong tay áo, nửa nhịp là xong. Rồi tay ta không nhích. Không có ý nhích.
Cái cảm giác đó lạ.
Ta chưa từng ngồi bên ai mà tay không có kim.
Chiều ngày mười bảy, chàng tự đi đến sân phía tây phủ. Sân Từ Nguyệt.
Ta không đi cùng. Ta đợi ở kiếm phòng, mài lại lưỡi kiếm ngắn dấu tay áo.
Nửa canh giờ sau chàng về. Không kể chi tiết. Chỉ nói: “Nàng ta đồng ý xuống thiếp. Không phản đối chính thất mới.”
Ta hỏi: “Vì sao?”
Chàng ngồi bên án. Rót chén trà. Uống hớp lâu. Trà đã nguội từ trưa, không bốc hơi.
“Nàng ta không yêu ta. Hôn nhân chính trị bốn năm, ta không tới sân nàng, nàng không tới sân ta. Chỉ tôn trọng danh. Bây giờ có biểu muội thật quay về, gia thất Diệp phủ được tiếp nối bằng huyết Diệp gia. Nàng không cản. Chỉ xin giữ một sân nhỏ, không tham quản. Ba mươi phần đất phụ nữ. Ta cấp.”
Ta ngước lên. “Nàng không giận.”
“Không.”
Ta không tin ngay. Nhưng Từ Nguyệt bốn năm qua ta chưa thấy mặt trực tiếp lâu, chỉ nghe giọng qua rèm ngày đầu ta vào phủ. Nếu chàng nói vậy, có lẽ vậy. Nếu Từ Nguyệt có toan tính khác, thời gian sẽ lộ. Bây giờ ta cần Ám Các trước. Chuyện phủ để sau đêm rằm tháng tư.
Ngày mười tám. Ta rửa kim găm.
Kim này của ta. Đêm rằm tháng ba ta đâm chàng bằng nó. Chàng rút vặn ngược khỏi vai, máu chảy trên đầu kim ba giọt. Sau đó chàng đưa lại cho ta trên tường phía đông đêm ngày mười, đã ngâm thuốc mê mới. “Nếu ngươi muốn giết ta, hãy dùng cái này. Nếu ngươi tin ta, giữ lại.” Ta cầm. Không đâm. Cất vào tay áo mười ngày.
Bây giờ ta đặt kim lên khay đồng. Rửa nước sôi ba lần, gạt sạch thuốc mê cũ đã ngâm đêm ngày mười. Lau khô bằng vải trắng. Đầu kim dài năm tấc, mảnh như kim thêu nhưng chuôi có ngạnh nhỏ để không rớt khi cắm.
Chàng đưa ta một chén nhỏ. Trong chén nước sền sệt đen thẫm.
“Thuốc mê Diệp gia. Không phải thuốc mê Ám Các dùng. Mạnh hơn ba lần. Cấp năm cũng chỉ chịu được ba khắc trước khi tê. Sau ba khắc tim ngừng.”
Ta nhìn chén. Ngón trỏ chạm mép chén, cảm giác lành lạnh. Không mùi. Không giống thuốc Ám Các, thuốc Ám Các bao giờ cũng có mùi đắng nhẹ của lá đằng, sát thủ cấp cao đánh hơi được từ ba bước.
“Không mùi. Chưởng môn không đánh hơi được.”
Chàng gật. “Ba đời Diệp gia luyện. Cha ta dạy ta trước khi mất.”
Ta ngâm đầu kim vào chén. Ba nhịp thở. Rút ra. Đầu kim đen thẫm, giọt đầu tiên đọng lại một khoảnh rồi khô, không chảy. Thuốc đặc, không loãng.
Ta cất kim vào bao gấm nhỏ trong tay áo. Bao này Xuân Lan may cho ta hôm qua. Nha đầu không biết trong bao là gì, chỉ nghĩ ta cần chỗ để đồ trang sức nhỏ. Ta không nói khác. Gấm xanh mộc, thêu một cánh mai bên góc. Ta nhìn cánh mai, không nói cảm ơn. Sát thủ không nói cảm ơn, không biết cách. Xuân Lan hôm sau vẫn mang bữa sáng vào tân phòng ta như thường.
Ngày mười chín, canh mão. Xuất phát.
Ba ngày ngựa Nam Kinh đến chân núi Ám Nam. Ta cưỡi ngựa cấp trung, không phải ngựa quý phủ. Ám Các dạy: đường xa dùng ngựa quen, không dùng ngựa mới. Chàng cũng thế. Chàng cưỡi con ngựa đen chàng dùng bốn năm ở biên cương, không phải bạch mã vương gia. Bạch mã đẹp nhưng lộ.
Tám hộ vệ theo sau. Lang Cao dẫn nhóm nghi binh xuất phát trước ta nửa ngày, đi đường khác, hẹn gặp ở chân núi trước ta một canh giờ.
Đi ngày. Ngủ đêm ở lữ điếm nhỏ ven đường quan. Chàng không nói nhiều. Ta cũng không. Bên ngoài chỉ có tiếng vó ngựa và gió núi. Đôi lúc chàng ngoái lại nhìn ta, ta thấy nhưng không quay. Đôi lúc ta nhìn lưng chàng, chàng không quay. Có một chiều ngựa đi qua một cánh đồng lúa đầu tháng, gió thổi hạt lúa non chưa nặng bông. Ta không biết tên loại lúa này. Ám Các dạy giết, không dạy trồng. Chàng chỉ cây bên đường: “Lúa Cửu Lũng, gieo tháng hai, gặt tháng bảy. Cha ta trồng ba mẫu ở trang trại phía bắc Nam Kinh.” Ta gật. Không hỏi thêm. Nhưng ta nhớ. Cửu Lũng.
Đêm thứ hai, lữ điếm ven đường. Ta không ngủ được. Ra sân sau. Chàng đã đứng ở đó, tựa vào giếng đá cũ, không đèn. Chàng đưa ta một chén nước.
“Vô Nghi. Nếu ta không quay ra được, ngươi tự về Nam Kinh. Lang Cao sẽ đón ở chân núi. Đừng đợi ta.”
Ta cầm chén. Không uống. “Vương gia định chết trong sào huyệt?”
“Ta không định. Nhưng cấp năm không nói trước được.”
“Ta cấp bốn. Ta cũng không nói trước được.” Ta hớp một ngụm nước. Nước giếng lạnh, có mùi bùn thoảng. “Nếu ta không quay ra được, vương gia đừng chôn ta gần mẹ ta. Chôn ở đâu cũng được. Ta mười lăm năm không có mộ, quen rồi.”
Chàng nhìn ta lâu.
“Không được. Ngươi có mẹ. Chôn cạnh mẹ.”
Ta không cãi. Cãi làm gì với chàng đêm nay. Tiếng dế núi ran từ bụi cỏ chân giếng. Đâu đó xa xa một con chim đêm kêu ba tiếng, tắt. Ta trả chén cho chàng, quay vào lữ điếm.
Đêm đó ta mơ. Mẹ đứng dưới thác. Bà không nói gì. Ta tỉnh dậy canh tư, mồ hôi ướt tóc mai. Cánh ngọc trong búi tóc vẫn ràng bằng sợi tơ đen. Không rơi.
Ngày hai mươi, chiều muộn. Đến chân núi Ám Nam.
Sào huyệt nằm giữa núi, cửa ngầm sau thác nước lớn hướng tây bắc. Đêm rằm tháng tư, đúng một tháng sau đêm ta ra tay lần đầu và thất bại.
Ta ngồi trên tảng đá cạnh thác. Nước thác đập xuống hồ đá bên dưới, tiếng ầm không dứt. Bọt trắng bắn lên tận nơi ta ngồi, làm ướt đầu cánh ngọc trong tóc ta. Ngọc trắng lấp lánh dưới ánh chiều còn sót, giống một giọt sương chưa rơi.
Chàng ngồi bên. Sau lưng ta, tám hộ vệ chuẩn bị vũ khí im lặng. Không nói. Không hút gió. Sáu năm chàng chọn từng người một, họ biết cách im. Một hộ vệ trẻ nhất, chừng hai mươi, tay hơi run khi cột đai kiếm. Không ai nhìn y. Không ai chê. Ám Các dạy: trẻ tay run bình thường. Trẻ không run mới đáng lo, vì chưa biết mình sắp chết. Biết mình sắp chết mới sống lâu.
Ta liếc chàng. Tay chàng đặt trên đầu gối, không run. Chàng đã ba lần đối mặt cái chết ở biên cương, không kể ba năm điều tra ngầm. Không run nữa.
Tay ta không run mười lăm năm rồi.
Trăng chưa lên hết. Trăng rằm tháng tư sáng, nhưng bây giờ còn khuất sau đỉnh núi phía đông. Một khắc nữa. Trăng lên khỏi đỉnh, ta vào.
Ta rút kim găm chàng đưa ta đêm ngày mười. Ngâm đầu kim vào chén thuốc mê Diệp gia chàng vừa pha trong bình da đeo bên hông. Ba nhịp thở. Rút ra.
Đầu kim đen thẫm.
Ta cất vào bao gấm trong tay áo. Đứng dậy.
Chàng đứng dậy theo.
Trăng rằm tháng tư trồi lên khỏi đỉnh núi phía đông, sáng qua tán cây. Bọt thác trắng ngời dưới ánh trăng, giống lụa vỡ. Sau ba khắc nữa, một trong hai người trong sào huyệt Ám Nam sẽ chết.
Ta không cho phép mình là người ấy.