Nữ Y Quan Ở Cung Trung

Chương 11: Tấu Chương Năm Năm Trước

Chiếc khóa đồng nằm im trên mặt bàn gỗ, giữa quầng sáng vàng đục của ngọn đèn dầu sắp cạn. Từ Nương Nương không nói gì thêm. Bà đã đẩy nó tới, ánh mắt lướt qua A Nhị một lượt, rồi quay lưng đi về phía cửa sổ, như thể việc vừa làm chẳng đáng để nhớ tới.

A Nhị nhìn chiếc khóa một lúc lâu. Không cảm ơn. Không hỏi vì sao. Nàng biết, trong Thượng Dược cục này, những câu hỏi thừa thường là thứ đầu tiên khiến người ta lộ ra sơ hở. Nàng chỉ cúi đầu, đưa tay áo phủ lên mặt bàn một thoáng, và khi tay áo rút lại, chiếc khóa đã biến mất, nằm gọn trong lớp vải lót bên trong ống tay, cạnh cây trâm bạc quen thuộc.

“Nô tỳ lui.” Giọng nàng nhẹ như hơi thở, không gợn chút cảm xúc nào lộ ra ngoài.

Từ Nương Nương không quay lại. Chỉ có bóng bà in trên vách, dài và tĩnh lặng, như một bức tranh thủy mặc bị bỏ quên giữa đêm.

Bước ra khỏi tẩm phòng của lệnh cô, A Nhị đi dọc hành lang tối, gió đêm lùa qua khe cửa sổ mang theo hơi sương lạnh buốt. Giấy không gói được lửa, cha nàng từng nói câu ấy khi còn sống, lúc dạy nàng cách nhìn một vết bầm giả trên xác chết. Nàng nghĩ, có lẽ Từ Nương Nương cũng hiểu đạo lý ấy chẳng kém gì cha. Bà không nói ra sự thật, nhưng bà đã chọn phe. Một chiếc khóa im lặng đủ nói thay ngàn lời.

Nàng không biết, cũng trong đêm ấy, cách nơi nàng đứng chưa đầy nửa dặm đường cung, một người khác cũng đang lần mò trong bóng tối, tìm một sự thật cũ kỹ chẳng kém gì thứ nàng đang giấu trong hộp gỗ khảm trai.


Nàng không kịp hỏi thêm gì. Trước khi trời sáng, tiếng gõ cửa quen thuộc theo nhịp ba tiếng cách quãng đã vang lên ngoài phòng nàng.

“A Nhị cô nương.” Giọng Bùi công công khẽ như hơi thở qua khe cửa. “Điện hạ mời, gấp.”

Nàng khoác vội tấm áo choàng, theo ông xuyên qua mấy lớp sân còn đẫm sương, bước chân ông nhanh hơn thường lệ, đủ để nàng đoán chuyện không nhỏ. Trên đường đi, Bùi công công chỉ nói vỏn vẹn một câu: “Điện hạ đã lục văn khố cũ sau điện Văn Hoa suốt ba đêm liền. Đêm nay, người tìm ra thứ cần tìm.”

Đến ngự thư phòng, A Nhị thấy Thái tử đứng bên án thư, áo choàng khoác vội xô lệch một bên vai, tóc chưa kịp vấn gọn như thường ngày. Trên mặt án, một xấp giấy ố vàng nằm mở, nếp gấp cũ kỹ, sợi chỉ đỏ bạc màu buộc ngoài đã tháo rời vắt sang một bên. Ngọn đèn dầu cháy gần cạn bấc, ánh sáng run rẩy hắt lên gương mặt vốn đã nhợt của chàng, khiến sắc da càng thêm trắng bệch. Tay chàng đặt hờ trên mép án, các ngón khẽ run, không giống kiểu run của người bệnh cũ tái phát.

“Ngồi.” Giọng chàng khàn hơn thường ngày. “Ngươi cần đọc thứ này trước khi ta nói thêm bất cứ điều gì.”

A Nhị ngồi xuống, cầm xấp giấy lên, mắt lướt nhanh qua hàng chữ đầu tiên, nét chân phương cứng cỏi, đều tăm tắp như người viết chưa từng để cảm xúc chi phối lằn mực.

Thần, Thái y viện phó sứ Khương Bách Xuyên, cẩn tấu…

Ngón tay nàng khẽ siết lại quanh mép giấy. Nàng đọc tiếp, chậm, từng chữ, cố giữ hơi thở đều dù tim đã đập nhanh hơn hẳn.

Tấu chương viết, trong quá trình khám chữa cho một số cung nhân suốt hai năm liền, cha nàng nhận thấy có ba trường hợp suy nhược không rõ nguyên do, đều khởi phát chậm, không sốt, không đau rõ ràng, chỉ dần dần gầy mòn, sắc mặt nhợt, cuối cùng suy kiệt mà chết. Cả ba đều từng dùng qua các loại thuốc bổ có thành phần tơ tằm đen, một vị dược liệu vốn hiếm, chỉ lưu trong kho dược cấm, dùng với liều cực nhỏ để tăng khí huyết. Cha nàng viết, đã thử đối chiếu với y thư cổ, nghi ngờ tơ tằm đen dưới một số điều kiện chế biến nhất định có thể sinh độc tính tích lũy, ngấm dần qua nhiều tháng, không để lại dấu vết rõ ràng nếu không giải phẫu kỹ càng đối chiếu. Ông xin triều đình tạm ngưng lưu hành loại dược liệu này trong cung, chờ ông điều tra thêm.

A Nhị dừng lại ở dòng cuối cùng của chính văn. Bên cạnh, một hàng phê chữ bằng mực đỏ, nét bút sắc gọn, chỉ vỏn vẹn bốn chữ:

“Vô căn cứ. Bác.”

Nàng nhìn hàng chữ đỏ ấy rất lâu, tay run nhẹ không kiềm được. “Ba mạng người chết không rõ nguyên do, cha nô tỳ bỏ công quan sát suốt hai năm… chỉ bốn chữ là gạt phăng đi được.”

“Đó chính là điều ta muốn ngươi thấy tận mắt.” Thái tử đáp, giọng lạnh hẳn. “Không phải vì cha ngươi mưu hại ai. Mà vì ông nhìn ra thứ không nên nhìn ra.”

Chàng lật sang mặt sau tờ giấy, chỉ vào một dòng ghi chú nhỏ bằng mực đen, nét chữ khác hẳn, có vẻ do một viên thư lại cấp thấp thêm vào sau này để tiện tra cứu: “Tấu ngày mười sáu tháng Ba. Trước đó ba ngày, có phi tần cung Vĩnh Ninh dâng lời tấu miệng lên bệ hạ, nội dung không ghi lại.”

A Nhị đọc đi đọc lại ba chữ “cung Vĩnh Ninh”, cảm thấy có một sợi dây lạnh siết ngang sống lưng.

“Vĩnh Ninh cung.” Nàng lặp lại, giọng khẽ đến mức gần như chỉ đủ cho chính mình nghe. “Năm năm trước, Vĩnh Ninh cung là chỗ ở của ai?”

“Đó chính là điều ta chưa dám khẳng định.” Thái tử đáp, ánh mắt không rời trang giấy. “Năm năm trước, cung ấy có thể đã đổi chủ nhiều lần. Nhưng có một việc ta đã xác nhận chắc chắn.”

Chàng lấy từ trong ngăn kéo án thư ra một tờ chiếu chỉ khác, nội dung về việc miễn thuế cho vùng Giang Nam bị lũ lụt, đặt cạnh tấu chương ố vàng dưới ánh đèn.

“Ngươi nhìn kỹ nét chữ hai bên.” Giọng chàng trầm xuống. “Chữ ‘vô’ luôn nghiêng về bên phải một chút. Cách nhấn bút nặng ở cuối mỗi câu, như người viết luôn dừng lại một nhịp trước khi đặt bút xuống.”

A Nhị cúi sát nhìn hai hàng chữ, tay run khẽ khi nhận ra điều Thái tử vừa chỉ ra là thật. Cùng một độ nghiêng, cùng một cách nhấn bút, không lẫn vào đâu được.

“Không còn nghi ngờ gì nữa.” Nàng nói, giọng khô khốc. “Là chính tay phụ hoàng viết.”

“Đúng.” Thái tử gấp tấu chương lại, cẩn thận như đang gấp một lưỡi dao sắc có thể cứa đứt tay bất cứ lúc nào. “Nếu chỉ là tấu chương bình thường, dù có bị bác, cũng thường qua tay Nội các, qua các đại thần góp ý trước. Phụ hoàng chỉ cần chuẩn tấu bằng một chữ ‘y’ đơn giản. Đằng này, người đích thân hạ bút phê bốn chữ dứt khoát, không qua ai, ngay sau khi có một vị phi tần cung Vĩnh Ninh dâng lời tấu miệng ba ngày trước đó.”

“Một lời nói miệng, không giấy tờ, không chứng cứ.” A Nhị khẽ gật, ghép nối từng mảnh trong đầu như cách cha từng dạy. “Đã đủ sức lật ngược cả một bản tấu chương dựa trên hai năm quan sát y lý cẩn trọng.”

“Phụ hoàng không phải người chủ mưu.” Thái tử nói, dứt khoát, như đang tự nhắc mình câu đó lần nữa. “Người chỉ tin vào lời một người phụ nữ nói bên gối, hơn tin vào hai năm quan sát của một vị thái y. Đó không phải tội giết người trực tiếp. Nhưng đó là con dao đưa thẳng vào tay kẻ giết người thật sự.”

A Nhị nhìn hàng chữ đỏ một lần nữa, mực đã khô cứng theo năm tháng nhưng dưới ánh đèn dầu vẫn ánh lên thứ sắc đỏ sẫm gợi nhớ đến máu, thứ máu đã đổ xuống pháp trường năm năm trước mà không một ai, kể cả người cầm bút phê những chữ này, chịu nhận trách nhiệm.

“Vĩnh Ninh cung, năm năm trước…” nàng lẩm bẩm, rồi ngẩng lên nhìn Thái tử. “Điện hạ định dò ra chuyện này bằng cách nào?”

“Từ từ.” Chàng đáp, ánh mắt vẫn không rời tờ giấy. “Dò xét thứ này cần thận trọng gấp bội những gì hai ta đã làm trước nay. Nếu đoán sai một bước, sẽ không còn cơ hội đoán lại lần hai.”

Chàng cất tấu chương vào trong ngực áo, sát bên tim. “Đêm nay việc này, không một ai được biết thêm, kể cả Bùi công công ngoài kia cũng chỉ biết ta tìm được một xấp giấy cũ, không hơn.”

A Nhị gật đầu, nhưng trong lòng, ba chữ “cung Vĩnh Ninh” đã tự khắc vào một góc trí nhớ, cạnh cái tên Tôn Hoài Nhân, cạnh ánh mắt Quý phi nghiêng đầu đêm yến tiệc. Ba mảnh ghép tưởng như rời rạc, giờ bắt đầu xếp lại thành một đường thẳng nàng không dám tin là trùng hợp.

“Nô tỳ hiểu.” Nàng đáp, giọng đã trở lại vẻ điềm tĩnh quen thuộc, dù ngón tay dưới ống tay áo vẫn còn khẽ lạnh. “Nô tỳ sẽ đối chiếu lại toàn bộ triệu chứng của điện hạ với những gì cha nô tỳ ghi trong tấu chương này. Nếu khớp, đó sẽ là bằng chứng thứ hai nối liền mọi việc.”

Thái tử nhìn nàng một lúc, ánh mắt không còn hoàn toàn là dò xét như những lần gặp trước, mà mang một phần tin tưởng đã bắt đầu bén rễ.

“Vậy thì bắt đầu từ đêm nay.” Chàng nói, giọng nhẹ nhưng chắc chắn, không chút do dự. “Càng chậm một ngày, càng thêm một ngày kẻ đứng sau yên tâm rằng bí mật này đã chết cùng cha ngươi.”

Ngoài song cửa, trời vẫn chưa sáng hẳn, chỉ có một vệt xám nhạt bắt đầu len qua lớp mây đêm. A Nhị cúi đầu cáo lui, tay siết chặt ống tay áo nơi giấu chiếc khóa đồng Từ Nương Nương vừa trao, lòng thầm nghĩ, đêm nay, chỉ trong vài canh giờ ngắn ngủi, nàng đã nhận thêm không phải một, mà hai mảnh ghép then chốt cho ván cờ năm năm ròng rã của mình.