Nữ Y Quan Ở Cung Trung

Chương 12: Chuỗi Mắt Xích

Đêm ấy, A Nhị nhận tin nhắn qua Bùi công công ngay sau canh hai: Thái tử hẹn gặp ở hoa viên sau Đông cung, mang theo mọi manh mối nàng đã gom được về cái chết của Tiểu Lục. Nàng không hỏi thêm vì sao lại gấp đến vậy, chỉ khoác áo choàng mỏng, đi xuyên qua mấy lớp sân đêm vắng người.

Hoa viên phía sau Đông cung nhỏ, khuất sau một dãy trúc thưa, quanh năm ít người qua lại vào giờ này, chỉ có lính tuần đi ngang mỗi nửa canh giờ. Sương đêm bắt đầu xuống, bám mỏng lên phiến đá cạnh hòn giả sơn, ánh trăng khuyết hắt qua kẽ lá thành những vệt sáng loang lổ trên mặt nước đen của hồ cá nhỏ gần đó.

A Nhị đứng lặng, tay giấu trong tay áo, dáng người thẳng như một nét bút chưa hạ mực. Nàng đến sớm hơn giờ hẹn, đứng đủ lâu để hơi lạnh của sương ngấm qua lớp áo cung nữ mỏng, nhưng không hề đổi tư thế, như thể cái lạnh ấy chẳng đáng để bận tâm so với thứ nàng đang mang trong tay áo.

Ngón tay cái nàng khẽ miết lên chân cây trâm bạc giắt trong búi tóc, thói quen có từ nhiều năm nay, mỗi khi trong lòng có việc chưa yên. Hai chữ “Bách Xuyên” khắc nơi chân trâm, dưới đầu ngón tay, nàng không cần nhìn cũng biết rõ từng nét khắc nông sâu ra sao, như một lời nhắc thầm lặng rằng con đường nàng đang đi không phải vì hiếu kỳ, mà vì một món nợ chưa trả xong. Đêm nay, món nợ ấy có lẽ sắp gần thêm một bước.

Thấy Thái tử tới, nàng chỉ khẽ cúi đầu, không hành lễ rườm rà, đó là quy ước ngầm hai người đã có từ những lần gặp trước.

“Điện hạ tra được gì?”

Không hỏi thăm sức khỏe, không dạo đầu bằng một câu khách sáo nào. A Nhị luôn đi thẳng vào việc, giống hệt cách nàng cầm trâm bạc nhúng vào chén thuốc, không một động tác thừa, không một giây lãng phí.

Cơ Vấn Chinh lấy bản sao tấu chương ra, đặt lên phiến đá phẳng cạnh giả sơn, ra hiệu cho Bùi công công lui ra xa canh chừng, rồi dùng thân đèn lồng nhỏ mang theo để soi cho rõ nét mực.

“Tấu chương của Khương đại nhân dâng lên năm năm trước, xin cấm tơ tằm đen lưu hành trong cung, vì nghi ngờ độc tính tích lũy. Phụ hoàng phê hai chữ, vô căn cứ. Bên dưới có ghi thêm, đã có phi tần tấu trình miệng trước đó.”

A Nhị cúi xuống nhìn, ánh mắt dừng lại rất lâu ở dòng chữ nhỏ, gần như đang đọc đi đọc lại từng nét mực để khắc nó vào trí nhớ. Ngọn đèn hắt bóng nàng đổ dài trên nền đá, không nhúc nhích, chỉ có ngón tay khẽ siết lại trong ống tay áo.

“Vậy là không phải bệ hạ tự ý bác bỏ vô cớ.” Giọng nàng phẳng, không có chút hả hê nào của kẻ vừa tìm được đồng minh gỡ tội cho cha mình, chỉ có sự lạnh lẽo của người đang xếp một mảnh bằng chứng vào đúng vị trí trên bàn cờ. “Có người đã đến trước, gieo nghi ngờ trước, để khi tấu chương thật sự được đọc lên, nó đã bị coi là lời của kẻ gàn dở. Cha thần chưa kịp trình bày đã bị dập tắt từ gốc rễ.”

“Đúng.” Cơ Vấn Chinh nhìn nàng, ánh nến run nhẹ trong mắt chàng. “Năm đó ta mười bảy, cũng đã nghi ngờ điều tương tự, nhưng không có bằng chứng trong tay, tuổi tác cũng chưa đủ để tiếng nói có trọng lượng trước triều đình. Ta để chuyện trôi qua trong im lặng.” Chàng dừng một nhịp, giọng trầm hẳn xuống. “Ta nợ cha ngươi một lời xin lỗi, đến tận bây giờ vẫn chưa nói được với ai, kể cả với chính mình.”

A Nhị không đáp ngay. Nàng nhìn ngọn đèn, không nhìn chàng, như thể nhìn thẳng vào chàng lúc này sẽ khiến thứ cảm xúc nàng vẫn cố dồn lại xử lý sau cùng bung ra không đúng lúc.

“Điện hạ không nợ. Kẻ gieo độc mới là người nợ.” Nàng nói, giọng vẫn khô như mọi khi, nhưng có một khoảng lặng rất nhỏ trước câu sau, đủ để người tinh ý như Thái tử nhận ra. “Nô tỳ đến đây không phải để nghe điện hạ tạ lỗi thay cho kẻ khác.”

Cơ Vấn Chinh khẽ gật đầu, không ép thêm. Đó cũng là một dạng ăn ý đã hình thành giữa hai người qua nhiều đêm gặp gỡ bí mật như thế này, biết khi nào nên dừng lại, không đào sâu vào vết thương chưa kịp liền da.

“Vậy nói tiếp phần của ngươi. Ta nghe.”

A Nhị rút từ trong tay áo ra một tấm lụa nhỏ gấp làm tư, mở ra trên phiến đá, bên trong là vài dòng ghi chép bằng nét chữ nhỏ như hạt gạo, ký hiệu tốc ký cha nàng từng dạy từ thuở còn nhỏ, thứ chữ viết tắt chỉ hai cha con hiểu được.

“Tiểu Lục chết vì Tàm Ti Độc liều thấp, không phải bệnh tim đột phát như kết luận sơ bộ. Móng tay cô ta có sắc xanh nhạt, đúng mô tả trong y án của cha thần để lại, một dấu hiệu mà thái y đương trực không đủ kiến thức để nhận ra.” Nàng chỉ vào một dòng khác, ngón tay không run. “Mảnh giấy gói dược tìm được trong tay áo Tiểu Lục, thử bằng trâm bạc, trâm chuyển màu đen nhạt, đúng phản ứng cha thần từng ghi lại với độc liều thấp. Cô ta không chết bệnh, mà bị diệt khẩu vì biết điều gì đó về nguồn gốc thuốc bổ hằng ngày của điện hạ.”

“Kho dược cấm.” Cơ Vấn Chinh tiếp lời, như đã thuộc lòng những gì nàng từng kể qua vài lần gặp trước đó.

“Đúng. Sổ xuất nhập tơ tằm đen ghi số lượng đều đặn mỗi tháng, không khớp với bất kỳ đơn thuốc chính thức nào của Thượng Dược cục. Người giữ chìa khóa duy nhất là Tôn Hoài Nhân.” A Nhị gập tấm lụa lại một nửa, để lộ dòng cuối cùng. “Đêm nô tỳ trốn trong kho, nghe được giọng một nữ nhân lạ thì thầm với hắn, nội dung không rõ hết, chỉ nghe được vài chữ về liều lượng.”

“Ba mối đều dẫn về hắn.” Cơ Vấn Chinh nói, mắt vẫn không rời tấm lụa.

“Không chỉ về hắn.” A Nhị lắc đầu nhẹ, chậm rãi như đang cân nhắc từng chữ trước khi nói ra. “Tôn Hoài Nhân đa nghi, thận trọng đến mức bất thường, ngay cả cách hắn bốc thuốc cũng khác người, luôn đếm đi đếm lại. Nhưng đa nghi không phải bản lĩnh của kẻ chủ mưu. Kẻ chủ mưu thật sự phải là người đủ gan lì để đứng trước bệ hạ nói một câu khiến cả một tấu chương cứu mạng bị vứt bỏ, đủ kiên nhẫn để chờ năm năm không lộ dấu vết. Tôn Hoài Nhân không có thứ đó.” Nàng nhìn thẳng vào chàng, lần đầu trong buổi tối này ánh mắt có chút sắc lạnh dồn tụ lại, như lưỡi dao vừa được mài xong. “Hắn chỉ là tay pha thuốc, là con dao. Cái chết của Tiểu Lục, vụ án của cha thần năm năm trước, độc đang ngấm trong người điện hạ hiện tại. Ba việc tưởng cách nhau năm năm, tưởng là ba kẻ gây ra khác nhau.”

Nàng ngừng lời, dùng ngón tay vẽ một đường thẳng tưởng tượng trên mặt đá phủ sương, từ trái sang phải, như đang nối các điểm rời rạc trên một tấm bản đồ chỉ mình nàng nhìn thấy.

“Nhưng nếu xâu lại, là một chuỗi. Một sợi dây duy nhất, chỉ khác đầu mối bị lộ ra ở mỗi thời điểm.”

“Là một chuỗi mắt xích.” Chàng tiếp lời nàng, giọng trầm xuống thêm một bậc, như đang tự nói với chính mình nhiều hơn là nói với nàng. “Tôn Hoài Nhân giết người diệt khẩu vì sợ lộ nguồn tơ tằm đen hắn đang âm thầm rút ra khỏi kho cấm. Cha ngươi bị hại năm năm trước vì ông là người duy nhất trong cả Đại Ung hiểu rõ thứ độc ấy, có thể vạch trần toàn bộ kế hoạch ngay từ khi nó mới chớm hình thành. Còn ta…” Chàng cười nhạt, một tiếng cười không có chút vui vẻ nào, giống tiếng nứt của băng mỏng trên mặt nước đen. “Ta là mục tiêu cuối cùng của cả chuỗi, kẻ cần bị dọn đường khỏi ngôi vị, từng chút một, chậm rãi đến mức không ai nghi ngờ nổi đó là một âm mưu, chỉ nghĩ đơn giản là số mệnh yếu đuối bẩm sinh.”

“Đúng.” A Nhị gật đầu, dứt khoát như đóng một cây kim châm vào đúng huyệt vị đã định sẵn từ trước. “Tôn Hoài Nhân chỉ là con dao trong tay người khác. Người cầm dao mới là kẻ nô tỳ và điện hạ cần tìm ra.” Nàng dừng lại, hạ giọng thêm một mức. “Có công mài sắt có ngày nên kim. Năm năm nô tỳ chờ đợi không phải vô ích. Đêm nay, có lẽ chuỗi mắt xích cuối cùng cũng sắp lộ diện.”

Cơ Vấn Chinh im lặng một lúc, ngón tay gõ nhẹ lên phiến đá lạnh, nhịp gõ chậm rãi như đang tự cân đo lại toàn bộ chuỗi suy luận trước khi tin hẳn vào nó.

“Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta e vẫn chưa đủ.” Chàng nói. “Tôn Hoài Nhân đa nghi đến mức lạ thường, ngay từ buổi khám định kỳ ngươi từng kể, hắn né tránh một câu hỏi chuyên môn đơn giản, tay run khi bốc thuốc. Kẻ như vậy không phải hạng gan lớn tự mình bày mưu tính kế trong suốt năm năm mà không để lộ một sơ hở nào. Sổ xuất nhập kho dược cấm hắn giữ, nếu có người khác đứng sau sai khiến, tất phải có cách nào đó hắn báo cáo định kỳ, nhận lệnh định kỳ. Đêm ngươi trốn trong kho, nghe được tiếng thì thầm ấy, chính là bằng chứng cho việc đó.”

“Điện hạ nói đúng.” A Nhị gật nhẹ, ánh mắt thoáng qua một tia tán thưởng hiếm hoi. “Sau đêm đó, Từ Nương Nương phát hiện có người từng lẻn vào kho, thẩm vấn nô tỳ một phen, nhưng bà không hề tố cáo với Tôn Hoài Nhân, ngược lại còn lặng lẽ đưa cho nô tỳ một chiếc khóa dự phòng, không nói một lời. Nô tỳ nghĩ, có lẽ bà cũng đã ngờ vực điều gì đó từ rất lâu, chỉ là chưa đủ can đảm hoặc chưa đủ chỗ dựa để lật lại.”

“Vậy trong Thượng Dược cục, không chỉ có ngươi một mình nhận ra bất thường.” Cơ Vấn Chinh trầm ngâm. “Chỉ là không ai dám nói ra trước.”

Gió đêm lùa qua khóm trúc sau lưng hai người, kéo theo tiếng lá cọ khô khốc, giống tiếng giấy cũ bị lật từng trang trong một căn phòng phủ đầy tro hương đã tàn. A Nhị khẽ siết tay trong ống tay áo, nơi đó có một vật cứng đang chờ được đưa ra ánh sáng, thứ nàng đã giữ kín suốt mấy ngày qua, không dám nói với ai, kể cả với Từ Nương Nương.

“Nô tỳ còn một thứ nữa.” Nàng nói, giọng chậm hẳn lại, như người thợ rèn dừng tay trước nhát búa cuối cùng lên lưỡi dao vừa tôi xong. “Điện hạ còn nhớ mảnh giấy gói dược tìm được trong tay áo Tiểu Lục không? Trên đó có nửa con dấu lạ, khi áp vào ánh nến mới hiện ra hình dáng một đóa hoa nhỏ.”

“Nửa con dấu hình hoa ngọc lan.” Cơ Vấn Chinh đáp ngay, không cần nàng nhắc lại chi tiết. Từ buổi báo cáo trước, hình ảnh ấy đã khắc sâu trong đầu chàng như một vết dao trên mặt gỗ, không phai được.

“Đúng.” A Nhị mở bàn tay từ trong tay áo ra, một vật nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay nàng, ánh đèn lồng hắt lên bề mặt láng bóng lạnh như đá. Đó là một con dấu ngọc nhỏ, khắc trọn vẹn hình một đóa hoa năm cánh, nét chạm tinh xảo đến từng gân lá, rõ ràng không phải đồ vật của kẻ tầm thường trong cung, phải là thứ được đặt riêng bởi thợ khắc bậc thầy. “Đêm trốn trong kho dược cấm, nô tỳ tìm thấy con dấu trọn vẹn này giắt sâu trong một khe tường, có lẽ do vô tình rơi ra và bị bỏ quên. Ghép lại với nửa hình in trên mảnh giấy gói dược của Tiểu Lục, hai bên khớp nhau tuyệt đối, không sai một đường nét.”

Nàng đặt con dấu xuống phiến đá, ngay cạnh bản sao tấu chương, hai vật chứng của hai vụ án cách nhau năm năm giờ nằm sát bên nhau dưới cùng một ngọn đèn.

“Đây là hoa ngọc lan.”

Cơ Vấn Chinh nhìn con dấu, sống lưng khẽ lạnh, như vừa có một giọt sương rơi trúng gáy. Trong cung, hoa cỏ được chọn làm biểu trưng riêng cho mỗi cung điện đều theo quy củ nghiêm ngặt, không phải ai muốn dùng cũng được, càng không phải thứ hoa nào cũng đủ tư cách được khắc thành dấu riêng để người trong cung mang theo bên mình như một loại tín vật.

“Ngươi nghi ai?”

Bùi công công đứng canh xa xa nơi đầu lối trúc bỗng khẽ đằng hắng một tiếng, ám hiệu báo an toàn, không có ai qua lại. Tiếng đằng hắng tan vào màn sương như một giọt mực rơi xuống mặt nước đen, loang ra rồi biến mất, để lại hoa viên chìm trong tĩnh lặng tuyệt đối.

A Nhị không trả lời ngay. Nàng lại thò tay vào trong ngực áo, lần này lấy ra một tờ giấy gấp nhỏ hơn, cũ hơn, các nét mực có chỗ đậm chỗ nhạt như được viết thêm dần theo nhiều đêm khác nhau, dưới ánh đèn dầu leo lét trong căn phòng trọ nhỏ của nàng. Nàng mở tờ giấy ra, đặt song song với con dấu ngọc lan.

Trên đó là một danh sách tên người, viết theo hàng dọc, mỗi tên kèm vài chữ chú thích nhỏ bên cạnh, có chỗ ghi rõ ngày tháng nàng đã dò hỏi được. Ánh đèn không đủ sáng để đọc rõ toàn bộ, nhưng Cơ Vấn Chinh nhận ra ngay đó là tên các phi tần trong hậu cung, xếp theo thứ bậc từ cao xuống thấp.

“Từ hôm tìm ra nửa con dấu trên mảnh giấy gói dược của Tiểu Lục, nô tỳ đã âm thầm dò hỏi các cung nữ già trong Thượng Dược cục, những người từng hầu hạ lâu năm ở nhiều cung khác nhau, biết rõ sở thích riêng của từng vị nương nương hơn ai hết.” A Nhị chỉ vào đầu danh sách, giọng vẫn giữ nguyên tiết tấu chậm, đều, không chút vội vàng dù nàng thừa hiểu điều sắp nói ra nặng nề đến đâu. “Nô tỳ chỉ hỏi một chuyện duy nhất, không hỏi thêm gì khác để tránh gây chú ý. Ai trong hậu cung yêu hoa ngọc lan nhất, đến mức cho trồng khắp cung điện của mình, thêu hình hoa lên khăn áo, khắc lên đồ dùng riêng, xem nó như biểu tượng của bản thân.”

Ngón tay nàng lần theo hàng chữ, từng cái tên một bị gạch bỏ, để lại vệt mực đậm như một đường rãnh cắt ngang tờ giấy, dứt khoát không chút do dự. Đây không phải nét gạch run rẩy của một cung nữ trẻ sợ hãi chuyện thị phi, mà là nét gạch của người đã tự tay xác nhận từng manh mối một cách tỉ mỉ, đúng như thói quen quan sát đến mức ám ảnh của nàng.

Chỉ còn một cái tên cuối cùng, chưa bị gạch, nằm cô độc giữa khoảng giấy trống.

Cơ Vấn Chinh nhìn danh sách, im lặng hồi lâu. Chàng biết rõ mỗi cái tên bị gạch bỏ kia đều từng là một khả năng chàng phải cân nhắc trong đầu không biết bao nhiêu lần suốt những đêm mất ngủ vì nghi hoặc, và giờ chỉ còn một cái tên trụ lại, như tấm lưới đã siết chặt đến mắt cuối cùng, không còn khe hở nào để nghi ngờ trượt qua.

“Ngươi chắc chắn không phải trùng hợp?” Chàng hỏi, không phải vì nghi ngờ cách làm việc của nàng, mà vì tự bản thân chàng cần một lần nữa xác nhận trước khi chấp nhận sự thật quá lớn.

“Trùng hợp một lần còn có thể tin, ba lần trùng khớp liên tiếp thì không còn gọi là trùng hợp nữa, mà là quy luật.” A Nhị đáp, giọng không chút dao động. “Nơi ở của người này trồng hoa ngọc lan nhiều đến mức cung nữ quét sân từng than phiền vì phấn hoa rụng đầy lối đi mỗi độ cuối xuân. Khăn tay, bình phong, cả áo choàng ngày thường đều thêu hình hoa năm cánh. Và nô tỳ còn nhớ, buổi khám định kỳ lần trước, chính miệng Tôn Hoài Nhân từng nhắc khéo một câu, rằng thuốc bổ hằng ngày của điện hạ, thi thoảng có thêm phần do một vị nương nương gửi sang bồi bổ, xem như tấm lòng bậc mẫu nghi kính trọng điện hạ. Khi đó nô tỳ chỉ nghĩ là lời khách sáo. Giờ nghĩ lại, e rằng đó chính là đường dẫn thuốc độc ngấm vào người điện hạ mỗi tháng.”

Cơ Vấn Chinh siết chặt tay, đốt ngón tay trắng bệch dưới ánh đèn lồng, quai hàm nghiến lại một nhịp như đang cố ghép nối điều gì đó trong trí nhớ. “Những lần dùng thiện xong, ta vẫn thấy người mệt mỏi bất thường.” Giọng chàng trầm xuống, như đang tự vấn chính mình hơn là nói với nàng. “Có những thang thuốc bổ vị hơi khác lạ, ta từng nghĩ đơn giản là ngự y đổi phương thuốc, không để tâm thêm.”

A Nhị đặt con dấu ngọc lan sát ngay bên cạnh cái tên đó, để nó nằm đúng vị trí như một dấu triện đóng lên một bản án chưa kịp tuyên.

“Cha thần từng nói với nô tỳ một câu, lúc còn nhỏ, khi dạy nô tỳ xem mạch.” A Nhị nói, giọng khẽ đến mức gần như lẫn vào tiếng gió qua khóm trúc. “Bệnh không tự dưng mà có, độc không tự dưng mà ngấm. Mọi thứ đều có căn nguyên, chỉ cần đủ kiên nhẫn lần theo, sớm muộn cũng lộ ra gốc rễ.” Nàng ngẩng lên nhìn chàng, ánh mắt không còn chút mềm mỏng nào, chỉ còn sự lạnh lẽo tuyệt đối của kẻ vừa hoàn tất một ca chẩn bệnh khó nhất đời mình, biết chắc mình đúng nhưng chưa dám mừng. “Cây kim giấu trong bọc lâu ngày cũng có lúc lòi ra. Đêm nay, gốc rễ đã lộ ra rồi, điện hạ.”

Cơ Vấn Chinh nhìn hai chữ trên giấy thật lâu, không nói gì. Ngọn nến trong đèn lồng đã cháy gần hết bấc, ánh sáng chao chao như muốn tắt bất cứ lúc nào, hắt lên gương mặt chàng những vệt tối sáng bất định. A Nhị nhìn vẻ mặt ấy, tự mình hiểu rõ sức nặng của cái tên vừa lộ ra: nếu quả thật là vậy, mọi chuyện sẽ không còn dừng ở một Thái y lệnh tham lam hay một cung nữ bị diệt khẩu nữa, mà chạm đến tận gốc rễ hoàng thất, đến mẹ đẻ của một vị hoàng tử đang được triều thần kỳ vọng, đến cả sự an nguy của chính ngôi vị Thái tử sẽ kế thừa.

“Có bằng chứng này trong tay, chưa đủ để đưa ra trước mặt phụ hoàng.” Chàng nói, giọng đã lấy lại vẻ điềm tĩnh thường thấy, nhưng ẩn dưới đó là một sự cẩn trọng chưa từng có trong những lần bàn bạc trước. “Con dấu có thể chối là bị đánh mất, danh sách có thể bị coi là suy đoán của một cung nữ. Chúng ta cần thêm một thứ, thứ không thể chối cãi.”

“Nô tỳ biết.” A Nhị khẽ gật, ánh mắt lại trở về vẻ điềm tĩnh quen thuộc, như một lưỡi dao vừa rút ra đã kịp tra lại vỏ, chỉ chờ đúng thời khắc để xuất kiếm lần nữa. “Nhưng ít nhất, từ đêm nay, chúng ta không còn dò dẫm trong sương mù nữa. Chúng ta đã biết mình đang tìm ai.”

Trong ánh đèn lồng chao nhẹ theo cơn gió cuối cùng lùa qua hoa viên, hai chữ trên tờ giấy hiện rõ mồn một, lạnh như một nhát dao vừa được rút thẳng khỏi vỏ, không còn đường lùi cho bất kỳ ai trong hai người.

“Điền Uyển Dung.”