Nữ Y Quan Ở Cung Trung
Chương 26: Nước Cờ Cuối Của Quý Phi
Đại điện đông nghịt bá quan, ánh nắng sớm xuyên qua khung cửa cao hắt xuống nền gạch những vệt sáng dài. A Nhị đứng lẫn trong hàng cung nữ hầu cận, mắt không rời khỏi dáng người đang quỳ giữa điện: Tôn Hoài Nhân, áo triều phục đã ướt đẫm mồ hôi dù trời còn se lạnh.
“Tôn Hoài Nhân,” Hoàng đế cất tiếng, giọng lạnh như đá, “năm năm trước, ngươi khai chứng cho vụ án Khương Bách Xuyên. Nay trước mặt bá quan, ngươi nói lại một lần nữa, lời khai khi đó là thật hay giả?”
Tôn Hoài Nhân run rẩy, trán rịn từng giọt mồ hôi lớn, chảy dài xuống thái dương, thấm ướt cả cổ áo. “Bẩm… bẩm Hoàng thượng… khi ấy thần…”
“Nói.” Cơ Vấn Chinh đứng gần ngự tọa, giọng cắt ngang, không chút nhân nhượng.
“Khi ấy thần bị ép.” Tôn Hoài Nhân cúi gập người, giọng vỡ ra thành tiếng nấc. “Có người… có người đứng sau ép thần khai gian, dọa hại cả nhà thần nếu không tuân theo.”
Tiếng xì xào nổi lên khắp đại điện, hàng trăm ánh mắt bá quan đổ dồn về phía ông ta, không ai dám thở mạnh.
“Người đó là ai?” Hoàng đế hỏi, từng chữ nặng như đá tảng.
Tôn Hoài Nhân ngẩng đầu lên, môi run run, ánh mắt liếc nhanh về phía hàng phi tần đứng bên trái đại điện, nơi Điền Uyển Dung đang đứng bất động, rồi lại cúi gằm xuống, cả người run lên như tàu lá.
“Người đó là…”
Chưa kịp dứt câu, một tiếng vút sắc lẻm xé qua không khí.
Mũi tên còn rung nhẹ nơi cổ Tôn Hoài Nhân khi thân người ông ta đổ sập xuống nền gạch, kéo theo một vệt máu đen sẫm loang dài như mực đổ.
Không đỏ tươi. Đen.
A Nhị đứng lặng giữa cơn hỗn loạn, mắt dán chặt vào vệt máu ấy, phần bản năng nghề nghiệp trong người nàng phản ứng còn nhanh hơn cả nỗi sợ. Máu đen sẫm, đặc quánh, không loãng ra như máu thường, là dấu của một loại độc cấp, phát huy trong tích tắc, khác hẳn thứ độc ngấm chậm nhiều tháng nàng vẫn dày công truy tìm bấy lâu nay. Kẻ bắn mũi tên này không cần độc giết từ từ. Hắn cần một cái chết tức khắc, câm lặng, dứt điểm ngay tại chỗ, trước khi cái miệng kia kịp thốt ra một chữ.
Đại điện náo loạn như tổ ong vỡ.
Thị vệ hò hét, đao kiếm tuốt trần, người xô người, có kẻ nhào tới cửa sổ nơi mũi tên bay ra, có kẻ áp sát che chắn trước ngự tọa. Tiếng quát của Hoàng đế vang lên giữa đám hỗn độn, trầm mà rít, như tiếng đá va vào nhau trong đêm lạnh.
“Phong tỏa đại điện. Không một ai được rời khỏi chỗ đứng!”
Không ai dám cựa quậy thêm nửa bước. Cả gian điện chìm vào một thứ im lặng đông cứng, chỉ còn tiếng thở dồn dập của hàng chục người cùng lúc nín hơi.
A Nhị cúi thấp đầu theo phản xạ, nhưng ánh mắt nàng vẫn không rời khỏi thi thể Tôn Hoài Nhân. Đó là thói quen nàng mang theo từ những đêm dài đối chiếu y án của cha, thói quen nhìn vào cái chết như nhìn vào một trang giấy còn chưa viết hết chữ. Bàn tay ông ta co quắp, móng tay chuyển sang màu tím sẫm chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, đôi mắt trợn trừng, đồng tử giãn to hết cỡ. Không phải Tàm Ti Độc. Thứ độc này ra tay nhanh, thô bạo, kiểu độc dùng để bịt miệng chứ không phải để giết người trong âm thầm kéo dài.
Kẻ đứng sau đã không còn cần Tôn Hoài Nhân sống nữa.
Ý nghĩ ấy khiến sống lưng A Nhị lạnh buốt hơn cả gió đêm lùa qua khung cửa sổ vỡ.
Thị vệ lục soát khắp mái hiên, hành lang, sân sau, không tìm được bóng dáng nào của kẻ bắn tên. Cửa sổ nơi mũi tên bay vào nằm khá cao, hướng thẳng từ một góc hành lang vắng người, hành lang ấy vốn chỉ dành cho kẻ có phận vị mới được phép qua lại giờ này. Không phải ai cũng biết đường, càng không phải ai cũng đủ gan dạ bắn một mũi tên tẩm độc thẳng vào giữa một buổi ngự thẩm có Hoàng đế đích thân ngồi trên.
Đó là việc làm của kẻ trong cung, không phải kẻ ngoài thành.
Hoàng đế ngồi lặng trên ngự tọa, sắc mặt tối sầm, ánh mắt quét một vòng qua từng người đứng trong điện, chậm rãi, không bỏ sót ai. Cái nhìn ấy dừng lâu nhất ở phía các đại thần đứng gần khu vực phe Nhị hoàng tử, rồi lại lướt sang phía Thái tử, cuối cùng ngừng hẳn nơi khoảng trống nơi Tôn Hoài Nhân vừa gục xuống.
“Người này,” Hoàng đế cất tiếng, giọng trầm và lạnh như đá đáy giếng, “sắp khai ra một cái tên. Trẫm muốn biết, ai không muốn cái tên ấy được nói ra.”
Không ai dám đáp.
Bùi công công vội bước tới, ghé sát bên Thái tử, giọng hạ thấp hết mức, “Điện hạ, để nô tài đưa người rời khỏi đây trước, để phòng bất trắc.” Cơ Vấn Chinh khẽ lắc đầu, ánh mắt liếc nhanh về phía A Nhị đang đứng nép trong hàng cung nữ hầu cận, chỉ một thoáng rồi thu lại ngay, không để lộ ra ngoài.
“Không cần,” chàng nói, giọng đủ nghe, “ta muốn ở lại xem, ai sốt ruột hơn ai.”
Câu nói ấy nhẹ như gió thoảng, nhưng đủ khiến vài đại thần đứng gần đó khẽ cúi đầu, tránh ánh mắt.
Chưa đầy nửa khắc sau, tiếng bước chân dồn dập vang lên ngoài cửa điện. Điền Uyển Dung xuất hiện, tóc tai hơi rối, áo khoác ngoài choàng vội, dáng vẻ như vừa bị đánh thức giữa đêm, chạy một mạch từ Vĩnh Ninh cung tới đây không kịp chỉnh trang. Bà ta bước vào, liếc thấy thi thể Tôn Hoài Nhân nằm giữa nền gạch, liền khuỵu xuống, hai tay ôm mặt, tiếng khóc bật ra nghẹn ngào.
“Tôn thái y… sao lại ra nông nỗi này…”
Tiếng khóc của bà ta vang khắp gian điện, thảm thiết đến mức vài cung nữ đứng gần cũng phải cúi đầu mủi lòng. Nhưng A Nhị đứng trong góc, quan sát kỹ từng cử động nhỏ nhất, lại nhận ra một điều lạ. Nước mắt Điền Uyển Dung rơi nhanh, nhưng vai bà ta không hề run, hơi thở không hề loạn nhịp. Người thật sự đau lòng, hơi thở sẽ đứt quãng, vai sẽ rung theo từng cơn nấc. Đây chỉ là một màn kịch được luyện tập kỹ càng, luyện đến độ hoàn hảo như một bức tranh vẽ sẵn, chỉ chờ đúng lúc treo lên tường.
Trong lòng bà ta lúc này, A Nhị đoán được, chắc chắn không phải thương tiếc. Là tính toán.
Tôn Hoài Nhân chết, đầu mối trực tiếp coi như đứt. Nhưng đứt một đầu mối chưa đủ. Kẻ nham hiểm như Điền Uyển Dung thừa hiểu, chỉ cần còn một người khác nắm giữ manh mối, ngọn lửa vẫn có thể cháy trở lại bất cứ lúc nào. Người đó, ngồi ngay trong đại điện này, đang cúi đầu đứng lẫn giữa hàng cung nữ hầu cận.
A Nhị cảm nhận được ánh mắt Điền Uyển Dung lướt qua mình, chỉ một tia rất ngắn, nhưng đủ lạnh để đóng thành băng.
Điền Uyển Dung đứng dậy, lau nước mắt, quay sang phía Hoàng đế, giọng vẫn còn nghẹn nhưng đã lấy lại phần nào bình tĩnh.
“Bệ hạ,” bà ta nói, “thần thiếp nghe tin dữ, lòng đau như cắt. Tôn thái y theo hầu trong cung đã hơn năm năm, tận tụy hết mực, nay lại chết oan ngay trước điện, khiến người ngoài không khỏi đồn đoán, cho rằng Thượng Dược cục có kẻ trong nhà gây họa, thuốc thang dâng lên không còn đáng tin.”
Bà ta dừng lại một nhịp, mắt hơi liếc sang phía đám cung nữ hầu dược, rồi tiếp lời, giọng chuyển sang cứng cỏi hơn, như một người quyết tâm gánh vác trách nhiệm.
“Lời đồn ấy nếu để lan ra, e rằng lòng người trong cung sẽ hoang mang, ngay cả thuốc thang dâng lên cho điện hạ và bệ hạ mỗi ngày cũng bị nghi kỵ. Thần thiếp xin bệ hạ cho phép, ngay tại đây, chứng minh Thượng Dược cục trong sạch, để dẹp yên lời đồn thất thiệt.”
Hoàng đế nhíu mày, không nói gì, chỉ khẽ gật đầu, ra hiệu cho bà ta tiếp tục. Đó chính là điều Điền Uyển Dung cần, một cái gật đầu từ người có quyền lực cao nhất, biến toan tính riêng của bà ta thành một nghĩa cử công khai không ai dám phản đối.
“Đem chén thuốc trấn kinh vẫn thường dùng cho các cung nữ hầu dược khi gặp cảnh biến động tới đây,” Điền Uyển Dung ra lệnh, giọng đanh gọn.
Một cung nữ Vĩnh Ninh cung, hẳn đã chờ sẵn ngoài cửa, bưng một chén sứ nhỏ bước vào, đặt lên khay, dâng tới trước điện. Nước thuốc trong chén sóng sánh màu nâu sẫm, hơi bốc lên phảng phất mùi cam thảo lẫn một chút mùi lạ mà A Nhị không tài nào định danh ngay được, dù khứu giác nàng đã luyện qua trăm loại dược liệu.
“Trong đám cung nữ Thượng Dược cục có mặt hôm nay,” Điền Uyển Dung quét mắt một vòng, cuối cùng dừng hẳn nơi A Nhị, “ta nhớ có một người, trước nay vẫn hay lui tới gần gũi việc thuốc thang của Tôn thái y, lại có tật quen dùng trâm bạc thử độc mỗi khi uống thứ gì lạ. Ta nghĩ, không ai thích hợp hơn người này để chứng minh sự trong sạch của cả Thượng Dược cục.”
Cả điện đổ dồn ánh mắt về phía A Nhị.
Tim nàng đập một nhịp nặng, rồi lập tức chậm lại, ép mình trở về trạng thái tĩnh lặng quen thuộc. Nàng bước ra khỏi hàng, quỳ xuống giữa nền gạch lạnh, cúi đầu.
“Nô tỳ xin tuân lệnh.”
“Khoan đã,” Điền Uyển Dung ngăn lại, giọng nhẹ như gió thoảng nhưng sắc như dao cứa, “ta nghe nói ngươi có thói quen dùng trâm bạc nhúng thử trước khi uống bất cứ thứ gì. Hôm nay, trước mặt bệ hạ và bách quan, ta muốn ngươi uống thẳng, không cần thử trước. Nếu Thượng Dược cục thật sự trong sạch, một chén thuốc trấn kinh bình thường, có gì phải sợ mà cần thử độc?”
Một câu nói, chặn đứng luôn con đường lui duy nhất.
A Nhị hiểu ngay lập tức. Đây không phải phép thử sự trong sạch của Thượng Dược cục. Đây là một cái bẫy giăng sẵn, tinh vi đến mức không thể vạch trần giữa thanh thiên bạch nhật trước mặt Hoàng đế. Nếu nàng rút trâm ra thử như thường lệ, chẳng khác nào công khai thừa nhận nghi ngờ chén thuốc do chính Quý phi ban, một tội danh đủ để chết ngay tại chỗ vì khi quân phạm thượng. Nếu nàng từ chối uống, tội danh còn nặng hơn. Chỉ còn một đường duy nhất, cúi đầu bưng chén lên, uống thẳng không do dự.
Và nếu trong chén thuốc kia thật sự có gì đó, chỉ cần một ngụm, nàng sẽ theo chân Tôn Hoài Nhân xuống dưới suối vàng, mang theo toàn bộ những gì nàng đã dò ra được suốt năm năm ròng rã.
Trong cái rủi vẫn còn le lói một tia sáng, A Nhị thầm nghĩ, chỉ là tia sáng ấy mỏng đến mức chính nàng cũng không dám chắc có kịp nắm lấy hay không.
Nàng đưa hai tay đón lấy chén thuốc từ khay, không để lộ một chút run rẩy nào trên đầu ngón tay, dù bên trong lồng ngực, từng nhịp tim đang gõ dồn như trống trận. Hơi nóng từ thành chén truyền qua lòng bàn tay, ấm áp một cách trớ trêu, chẳng khớp chút nào với cảm giác lạnh buốt đang lan khắp người nàng.
A Nhị nâng chén lên ngang môi.
Ánh mắt Điền Uyển Dung dán chặt vào động tác ấy, khóe môi khẽ nhếch lên một đường rất mảnh, gần như không ai nhận ra, ngoại trừ người đang chăm chú quan sát bà ta suốt từ đầu.
Cơ Vấn Chinh.
Chàng đứng cách đó không xa, dáng người vốn mảnh khảnh vì bệnh tật lâu năm, nhưng ngay khoảnh khắc ấy lại bật dậy nhanh đến mức không ai kịp phản ứng, sải một bước dài xuyên qua khoảng cách giữa hai người, bàn tay siết chặt lấy cổ tay A Nhị.
Chén thuốc trong tay nàng bị giật phăng đi.
Không một tiếng do dự, Cơ Vấn Chinh xoay cổ tay, hất mạnh. Dòng nước thuốc màu nâu sẫm bay thành một vệt cong giữa không trung, đổ ập xuống nền gạch ngay trước ngự tọa của Hoàng đế, giữa ánh mắt sững sờ của toàn bộ bách quan đang có mặt trong đại điện.
Chén sứ rơi theo sau, vỡ tan thành từng mảnh nhỏ trên nền đá lạnh, âm thanh sắc lẻm vang vọng khắp gian điện đang chết lặng.