Nữ Y Quan Ở Cung Trung
Chương 3: Ngự Thư Phòng Nửa Đêm
Từ Nương Nương giữ A Nhị lại đúng một khắc, không nói thêm lời nào, chỉ ra hiệu cho một cung nữ khác dẫn nàng sang phòng chờ nhỏ cạnh sảnh chính Thượng Dược cục. Ánh mắt bà lúc quay đi vẫn còn dừng lại trên gáy A Nhị một nhịp, thứ ánh mắt vừa hoài nghi vừa như đang cân nhắc điều gì đó chưa quyết. A Nhị ngồi xuống chiếc ghế gỗ cứng, lưng thẳng, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, tự nhắc mình: chưa qua được cửa này, đừng nghĩ đến cửa sau.
Đêm ấy nàng ngồi chờ đến khi nến trong phòng cháy gần hết bấc, tàn hương trên đĩa đồng cong lại thành một vệt tro xám mảnh, chỉ chực vỡ vụn nếu có ai chạm khẽ. Ngoài sân gió bắt đầu trở lạnh, hơi sương len qua khe cửa sổ đọng thành giọt trên khung gỗ ẩm. Không ai vào hỏi thêm câu nào. Không ai mang trà nước. Nàng hiểu, đây là kiểu chờ để dằn mặt, để cho kẻ bị giữ tự dưng sinh nghi hoặc, tự dưng để lộ sơ hở trong đầu óc mệt mỏi. Nàng không sinh nghi hoặc. Năm năm qua, nàng đã quen với việc ngồi chờ trong bóng tối, chờ tin tức, chờ phán quyết, chờ một cánh cửa mở ra báo một tin xấu hơn tin xấu nhất mình từng nghĩ tới. So với những đêm ấy, một khắc chờ đợi này chẳng là gì.
Nàng nhớ có lần cha từng dặn, hồi nàng còn nhỏ, còn được gọi bằng cái tên thật chưa phải giấu giếm với ai: “Cẩn tắc vô ưu, con ạ. Nghề thầy thuốc, một khắc lơ là là một mạng người.” Khi ấy nàng chỉ nghĩ đó là lời dạy về cách bốc thuốc, cân liều. Giờ ngồi trong bóng tối chờ triệu kiến giữa đêm, nàng mới hiểu câu ấy còn ứng vào cả cách sống, cách giữ mồm giữ miệng, cách không để một sơ hở nhỏ nào lộ ra trước những kẻ đang rình chờ một cái cớ.
Canh ba, trống điểm ba tiếng, tiếng vang chưa dứt thì cửa phòng đã bị gõ.
Không phải gõ mạnh. Là gõ nhẹ đúng ba cái, cách quãng đều nhau, kiểu người quen việc, không muốn kinh động ai. A Nhị vừa chợp mắt được nửa canh giờ, lập tức tỉnh hẳn, không cần ai lay gọi. Nàng không hỏi người tới là ai. Đêm nay hỏi cũng vô ích, người ta muốn cho biết thì tự khắc nói, không muốn thì có hỏi cũng chỉ nhận về một câu cộc lốc.
Quả nhiên là vậy.
Người đến là một thái giám trẻ, mặt còn non, tay cầm đèn lồng che nửa ánh sáng, nói đúng sáu chữ: “Điện hạ triệu, đi theo.”
A Nhị đứng dậy, phủi qua tà áo cung nữ đã nhàu vì ngồi lâu, cây trâm bạc vẫn cài nguyên chỗ cũ trong búi tóc. Nàng khẽ đưa tay chạm vào chân trâm, như thói quen kiểm tra vũ khí trước khi ra trận. Đây không phải ví von cho vui. Nàng sắp đi vào Đông cung lúc nửa đêm, một thân cung nữ vô danh, không hộ vệ, không thẻ bài, chỉ có một cây trâm cũ và một cái đầu còn tỉnh táo. Coi như cả gia tài phòng thân.
Đường từ Thượng Dược cục sang Đông cung không xa, nhưng đêm nay đi mãi như không hết. Sương xuống dày, giăng trắng khắp các lối hành lang, đèn lồng trong tay thái giám nhỏ trở thành một đốm vàng lay lắt giữa biển sương ấy. Mỗi bước chân nàng đặt xuống đều như dẫm lên mặt nước đục, không biết đáy nông sâu, chỉ biết không thể lùi lại.
Nàng nghĩ tới câu nói cuối cùng của Thái tử trước khi ngất lịm giữa đại yến hai đêm trước. “Ngươi biết đó là độc gì.” Không phải câu hỏi. Là câu khẳng định. Một người bệnh nặng đến mức sắp bất tỉnh mà vẫn còn đủ tỉnh táo để buông ra một câu khẳng định như vậy, không phải cầu xin, không phải nghi hoặc, đó không phải phản ứng của kẻ chỉ biết nằm chờ chết phó mặc số phận.
A Nhị thầm nhắc mình, hai chữ duy nhất: cẩn thận. Người này không đơn giản như đồn thổi ngoài triều vẫn rỉ tai nhau, rằng Đông cung yếu nhược, sớm muộn cũng nhường ngôi cho phe Nhị hoàng tử.
Nàng đi mà trong đầu vẫn tự hỏi, mình đang bước vào một cái bẫy, hay một cơ hội. Có lẽ cả hai. Đời nàng năm năm qua vốn chẳng còn phân biệt rạch ròi được đâu là bẫy đâu là cơ hội nữa, mọi ngã rẽ đều có thể dẫn tới cả hai thứ cùng lúc. Nàng chỉ có thể bước tới, như người cầm đèn dầu đi trong đêm không trăng, ánh sáng nhỏ nhoi trong tay chỉ đủ soi một bước chân, không đủ soi cả con đường phía trước.
Ngự thư phòng Đông cung nhỏ hơn nàng tưởng, ánh nến vàng nhạt hắt lên vách, mùi thuốc bắc còn phảng phất chưa tan hết trong không khí, lẫn với mùi mực tàu để lâu ngày trên án thư. Thái tử ngồi sau án, khoác một chiếc áo bào mỏng màu lam thẫm, sắc mặt vẫn còn tái, môi nhạt hơn người thường, nhưng đôi mắt thì sáng, sáng đến mức không giống một người vừa thoát khỏi cửa tử chỉ hai hôm trước. Ánh mắt ấy như dao đã mài, không lộ ra sắc bén, nhưng ai từng đối diện đều biết rõ độ bén của nó.
Thái giám dẫn đường lui ra, khép cửa, để lại đúng hai người trong căn phòng, chỉ còn tiếng nến cháy lép bép và tiếng gió luồn qua khe cửa sổ.
“Quỳ xuống,” Thái tử nói, giọng không cao không thấp, không phải ra lệnh gắt gỏng, hơn giống một câu thử phản ứng.
A Nhị quỳ, đầu cúi, giọng đều: “Nô tỳ A Nhị, bái kiến điện hạ.”
“Ngẩng đầu lên.”
Nàng ngẩng lên, ánh mắt gặp ánh mắt, không né tránh cũng không nhìn chằm chằm, dừng lại đúng khoảng cách một cung nữ được phép nhìn bậc trên. Thái tử quan sát nàng một lúc lâu, đủ lâu để A Nhị cảm thấy mồ hôi lưng bắt đầu thấm áo, dù đêm tháng này trời đã trở lạnh, hơi thở phả ra cũng thành khói mỏng.
“Ngươi dùng cây trâm gì để thử chén rượu đêm ấy,” hắn hỏi, đi thẳng vào việc, không màng dạo đầu.
“Trâm bạc, thưa điện hạ. Vật gia truyền.”
“Bạc gặp thạch tín sẽ đổi màu, chuyện ai cũng biết. Nhưng thứ độc trong chén rượu đêm ấy không phải thạch tín.” Hắn ngừng một nhịp, mắt không rời khỏi nàng. “Ta hỏi lại lần nữa. Ngươi dùng cây trâm ấy thử ra được cái gì.”
A Nhị im lặng một nhịp thở. Đây chính là câu hỏi nàng lo sợ nhất kể từ lúc bước chân qua cổng Đông cung. Trả lời đúng, tức là thừa nhận mình biết nhiều hơn một cung nữ giã thuốc quét sân nên biết. Trả lời sai, hoặc trả lời lấp lửng, trước một người đầu óc tỉnh táo thế này, chỉ càng thêm khả nghi. Nàng chọn nói một phần thật, giấu một phần, như người pha thuốc chỉ đưa liều vừa đủ, không thừa không thiếu.
“Trâm bạc không đổi màu rõ rệt như với thạch tín,” nàng đáp, chọn từng chữ như người đi trên đá trơn ven ao, “nhưng ngả sang xám nhạt, viền hơi ánh xanh. Nô tỳ từng thấy phản ứng này một lần, trong một cuốn sách thuốc cũ cha để lại trước khi qua đời. Sách ghi đó là dấu hiệu của một loại độc ngấm qua đường uống trong thời gian dài, không phải độc phát tác ngay tức khắc như thạch tín hay ô đầu.”
“Cha ngươi làm nghề gì?”
“Bốc thuốc dạo ở quê, thưa điện hạ.” Nàng nói dối trơn tru, không chớp mắt. Đây không phải lần đầu nàng nói câu này, đã luyện trong đầu cả trăm lần suốt năm năm qua, luyện đến mức thành phản xạ, không còn cảm giác gì khi nói ra, giống lưỡi dao mài lâu ngày, chính người cầm dao cũng quên mất nó từng có lúc sắc đến chảy máu tay.
Thái tử không tin. A Nhị nhìn rõ điều đó trong ánh mắt hắn, một tia gì đó lóe lên rồi tắt ngay, như tia lửa đá đánh trong đêm tối, chỉ đủ soi sáng một khắc rồi lại chìm vào bóng.
“Một kẻ bốc thuốc dạo ngoài quê,” hắn nói chậm rãi, từng chữ như đóng đinh, “dạy con gái mình phân biệt thạch tín với độc tích lũy chỉ bằng màu trâm bạc. Ngươi biết ép thổ đúng huyệt, đúng lực, không làm gãy xương sườn ta dù ta đã bất tỉnh hoàn toàn. Ngươi biết châm huyệt nhân trung đánh thức người trúng độc nặng mà không cần đợi thái y đương trực tới nơi. Ngươi nói cho ta nghe, cung nữ quét sân ở đâu ra học được từng ấy thứ.”
A Nhị cúi đầu sâu hơn một chút, tranh thủ khoảng lặng ấy để sắp lại từng câu trả lời trong đầu. Từng câu hỏi của hắn như từng nhát dao mổ của người pháp y lành nghề, mỗi nhát đều cắt đúng chỗ hiểm, không thừa một đường lạc. Người này không hỏi bâng quơ. Người này đã chuẩn bị sẵn cả một chuỗi câu hỏi, xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, kiểu thẩm vấn của kẻ từng qua rèn luyện, hoặc bẩm sinh đã mang sẵn cái đầu ấy.
“Nô tỳ theo cha học lỏm từ nhỏ,” nàng đáp, giọng vẫn bình thản, “trẻ con nhà nghèo, không có gì để chơi, chỉ quanh quẩn sau lưng cha xem ông bốc thuốc, giã thuốc, đôi khi ông dạy vài câu cho đỡ buồn tay. Học lỏm thì không có hệ thống, nhưng gặp đúng lúc đúng việc thì cũng dùng tạm được. Đêm ấy nô tỳ chỉ làm theo phản xạ, không kịp nghĩ nhiều, sợ chậm một khắc là mất mạng người.”
“Phản xạ,” Thái tử lặp lại hai chữ ấy, khóe môi hơi nhếch lên, không hẳn là cười. “Ngươi gọi một chuỗi phản ứng chính xác đến từng huyệt đạo, từng liều lượng lực đạo, là phản xạ bẩm sinh của một cung nữ giã thuốc.”
“Điện hạ không tin, nô tỳ cũng không có cách nào khác để chứng minh,” A Nhị ngẩng lên, lần này nhìn thẳng vào mắt hắn, giọng thản nhiên đến mức gần như trơ. “Nô tỳ chỉ có thể nói nô tỳ biết những gì mình biết, và nô tỳ đã cứu điện hạ một mạng. Nếu vì chuyện đó mà bị nghi ngờ, nô tỳ xin nhận, dù sao cái mạng nô tỳ giữ lại được đêm đó cũng đáng một phen bị hỏi tội.”
Câu nói có chút sắc, gần chạm ranh giới phạm thượng. A Nhị biết mình đang liều, nhưng nàng cũng biết một điều khác: trước một người đầu óc sắc bén thế này, càng khép nép giả tạo càng dễ lộ sơ hở, chẳng khác nào lấy mực nhạt che vết mực đậm, càng che càng lộ. Chi bằng để lộ ra đúng một phần tính cách thật, đủ khiến hắn tin nàng không phải loại người quen nói dối trơn tru chuyên nghiệp.
Thái tử nhìn nàng thêm một lúc, rồi bật cười khẽ, tiếng cười ngắn, có phần mệt mỏi nhưng không giả tạo.
“Gan không nhỏ,” hắn nói, “biết châm biếm cả người sắp định tội mình. Ngươi không sợ ta nổi giận sao.”
“Điện hạ nếu định nổi giận, đã không hỏi nhiều đến vậy,” A Nhị đáp, trong bụng thầm nghĩ, một liều ba bảy cũng liều, đã trót nói đến đây thì không còn đường lùi, “người muốn trị tội thường ra tay trước, hỏi sau. Điện hạ hỏi trước, ra tay sau, vậy nghĩa là điện hạ còn muốn nghe.”
Hắn im lặng nhìn nàng, ánh mắt lần này đổi khác, không còn hoàn toàn là dò xét, mà pha thêm một phần đánh giá thật sự, kiểu người mua ngựa nhìn kỹ vó chân trước khi trả giá. “Ngươi không giống một cung nữ Thượng Dược cục bình thường ở điểm này,” hắn nói, “biết đọc người, biết đọc cả tình thế, không chỉ đọc thuốc.”
Hắn không dừng ở đó. Bước vòng ra trước án thư, đứng đối diện nàng gần hơn một chút, giọng hạ thấp như đang dò từng bước trên băng mỏng. “Vậy ta hỏi thêm một câu. Nếu một người trong cung, ngày ngày vẫn ăn uống bình thường, không triệu chứng trúng độc cấp tính, chỉ là gầy dần, mệt dần, năm này qua năm khác, thái y vẫn chẩn là hư nhược bẩm sinh. Ngươi dựa vào đâu để nghi ngờ đó không phải bệnh, mà là người ta cố tình giấu bệnh trong lớp vỏ tự nhiên.”
“Dựa vào tốc độ,” A Nhị đáp, không cần nghĩ lâu, câu trả lời đã có sẵn trong đầu từ rất lâu trước khi nàng bước chân vào cung, “hư nhược bẩm sinh suy giảm chậm, đều, và có ngưỡng dừng, đến một mức nào đó cơ thể sẽ tự cân bằng lại, không tệ thêm mãi. Nhưng nếu suy giảm cứ tiếp diễn không ngừng, mỗi năm một nấc, không có điểm dừng tự nhiên, đó không còn là quy luật của bẩm sinh nữa, mà là quy luật của một thứ gì đó vẫn đang liên tục đưa vào cơ thể.”
Câu trả lời rơi vào im lặng. Ngọn nến trên án thư khẽ lay, một giọt sáp chảy xuống đọng lại thành vệt trắng đục, giống hệt vết máu khô để lâu ngày đổi màu. Thái tử nhìn nàng rất lâu, lâu đến mức A Nhị bắt đầu nghe rõ cả tiếng tim mình đập trong lồng ngực.
“Nô tỳ không dám nhận mình biết đọc người,” nàng cúi đầu, “chỉ là ở Thượng Dược cục lâu ngày, quen quan sát sắc mặt kẻ bốc thuốc để đoán bệnh nặng nhẹ. Thói quen nghề nghiệp, không có gì đặc biệt.”
“Nói thật lòng mà vẫn giấu ta phân nửa,” hắn đáp, ánh mắt lại lạnh trở lại như đá dưới đáy giếng, “ngươi tưởng ta không nhận ra sao.”
A Nhị im lặng. Đây chính là điều nàng sợ nhất, và giờ nó đã đến. Nàng không đáp, vì đáp gì cũng sai. Phủ nhận thì lộ ra đang chống chế. Thừa nhận thì mất hết những gì nàng đã giấu kỹ suốt năm năm. Nàng chọn cách im lặng, cúi đầu, để mặc cho khoảng lặng ấy tự nó trở thành câu trả lời, dù biết câu trả lời ấy nói lên nhiều hơn bất cứ lời biện bạch nào.
Thái tử cũng không ép thêm. Hắn đứng dậy khỏi án thư, bước chậm đến bên cửa sổ, tay chắp sau lưng, nhìn ra khoảng sân tối om ngoài kia, nơi sương vẫn còn giăng kín như một tấm màn trắng phủ lên cả cung thành, nến trong phòng khẽ lay theo gió lùa qua khe cửa.
“Ta hỏi ngươi một câu khác,” hắn nói, không quay đầu lại, “nếu một người trúng độc không phải một lần, mà là rất nhiều lần, mỗi lần một liều rất nhỏ, kéo dài suốt nhiều năm, đến mức thân thể quen dần với việc yếu ớt, quen đến mức cả người trong cuộc cũng tưởng mình sinh ra đã bệnh tật. Ngươi nói, có cách nào phân biệt được đó là bệnh bẩm sinh, hay là độc tích lũy.”
A Nhị khẽ nhíu mày, đây không còn là câu hỏi để thử nàng nữa, giọng hắn đã đổi, chậm hơn, nặng hơn, như người kéo một tảng đá giấu dưới đáy ao lên khỏi mặt nước đen, biết rõ khi kéo lên rồi sẽ không còn cách nào nhấn nó chìm trở lại.
“Bệnh bẩm sinh thường có quy luật, phát nặng theo mùa, theo thời tiết, thuyên giảm khi điều dưỡng đúng cách,” nàng đáp chậm, cẩn trọng chọn từng câu, “nhưng độc tích lũy thì khác, nó không theo quy luật mùa, chỉ theo quy luật liều lượng. Có những đợt dùng thuốc bổ đều đặn, người bệnh đáng ra phải khá hơn, nhưng lại yếu đi bất thường sau một khoảng thời gian cố định. Đó là dấu hiệu đáng ngờ nhất. Ngoài ra, sắc móng tay, sắc lưỡi, và mùi mồ hôi cũng có những biến đổi rất nhỏ, người thường không để ý, nhưng người quen quan sát y lý thì nhận ra được.”
Nàng vừa dứt lời liền nhận ra mình đã nói quá nhiều, quá sâu, xa hơn hẳn những gì một cung nữ giã thuốc nên biết. Nhưng đã lỡ buông ra, không thể thu lại. Nàng chỉ có thể im lặng chờ phản ứng.
Thái tử quay người lại, nhìn thẳng vào nàng, ánh mắt lúc này không còn dò xét nữa, mà mang một thứ gì đó gần như mệt mỏi thật sự, thứ mệt mỏi của người đã mang một gánh nặng quá lâu, giờ chợt thấy có khả năng đặt bớt xuống, dù chỉ một phần rất nhỏ.
“Ngươi vừa mô tả đúng những gì ta cảm nhận được trên chính thân thể mình suốt hơn mười năm qua,” hắn nói, giọng trầm hẳn xuống. “Mỗi lần uống xong thang thuốc bổ định kỳ, ta đều thấy người nặng hơn một chút, dù ngự y nào cũng bảo đó là dấu hiệu thuốc đang ngấm, cần kiên trì. Ta kiên trì mười mấy năm. Ta cũng nghi ngờ mười mấy năm.”
A Nhị ngẩng đầu, lần này thật sự bất ngờ, dù nàng đã cố giữ mặt không đổi sắc. Câu hỏi này vượt xa những gì nàng chuẩn bị tinh thần để đối phó. Đây không còn là thẩm vấn nữa. Đây là một người, lần đầu tiên sau rất nhiều năm, thử nói ra nghi ngờ giấu kín trong lòng mình, với một kẻ xa lạ chỉ mới gặp mặt trực diện hai lần.
“Điện hạ nghi mình bị đầu độc,” nàng nói, không phải câu hỏi, mà là một lời xác nhận điềm tĩnh.
“Nghi từ nhiều năm trước,” hắn đáp, “nhưng không có bằng chứng, không có một ai đủ am hiểu y lý để cùng ta lần ra manh mối. Thái y viện là người của phụ hoàng bổ nhiệm, ai dám nói ngược lời chẩn của họ. Cho đến đêm yến tiệc, ta thấy một cung nữ vô danh dùng cây trâm bạc thử độc nhanh và chuẩn hơn cả đám thái y đương trực gộp lại, ta biết mình vừa gặp được một người có thể không giống những kẻ còn lại.”
Hắn nhìn ra ngoài song cửa một lúc lâu, ánh mắt như đang xuyên qua lớp sương dày để tìm về một khoảng thời gian nào đó đã cũ. “Nhiều năm nay ta vẫn tự hỏi, nếu khi ấy ta đủ can đảm nói to hơn, đủ chứng cứ hơn, liệu có nhiều chuyện đã khác đi rồi hay không. Nhưng khi ấy ta còn nhỏ, tiếng nói một đứa trẻ trong triều đình nặng chưa bằng một tờ giấy lộn. Nói ra, người ta cũng chỉ cười, bảo là trẻ con nghĩ vẩn vơ.” Giọng hắn thoáng chút gì đó gần như tự trách, nhưng bị nén xuống rất nhanh, như người quen giấu vết thương cũ dưới lớp áo dày.
A Nhị không hỏi thêm khi ấy là khi nào, chuyện gì. Bản năng mách bảo nàng, hỏi lúc này là hỏng việc, một con thú bị thương chỉ khép miệng vết thương lại nhanh hơn nếu có ai chạm vào đúng chỗ đau. Nàng chỉ lặng im, để hắn tự quyết định nói tiếp hay dừng lại.
Hắn dừng lại, bước tới án thư, kéo một ngăn kéo nhỏ dưới đáy, thao tác chậm và quen thuộc như đã mở ra đóng vào không biết bao nhiêu lần trong đêm vắng. Từ trong đó, hắn lấy ra một xấp giấy đã ố vàng, buộc bằng sợi dây gai cũ kỹ, gần như mủn ở vài chỗ do cầm nắm quá nhiều lần. Hắn đặt xấp giấy ấy lên mặt án, đẩy nhẹ về phía A Nhị, ánh nến hắt bóng dài lên bìa ngoài.
“Ta giữ thứ này đã năm năm,” hắn nói, giọng khẽ đến mức gần như thì thầm, “chưa từng đưa cho ai xem, vì chưa tìm được người xứng đáng để xem nó cùng ta.”
Ánh nến hắt lên bìa ngoài, bốn chữ viết bằng mực đã phai màu theo năm tháng, như thứ mực đỏ dùng phê án ngày xưa nay đã ngả sang nâu sẫm, nhưng vẫn còn đọc rõ từng nét. Mùi giấy cũ, mùi ẩm mốc của một thứ bị cất giấu quá lâu trong ngăn kéo kín, thoảng lên lẫn vào mùi nến cháy, mùi tro hương tàn trên đĩa đồng, tất cả quyện thành một thứ mùi A Nhị sẽ nhớ mãi suốt phần đời còn lại của mình:
“Khương Bách Xuyên án.”
A Nhị cảm thấy cả căn phòng như đột nhiên chìm sâu xuống, tiếng nến cháy tí tách bỗng vang lên rõ mồn một trong tai nàng, mọi âm thanh khác đều biến mất, kể cả tiếng gió ngoài song cửa. Bàn tay nàng đặt trên đầu gối siết chặt lại, đến mức móng tay ấn cả vào da thịt qua lớp vải áo, nhưng gương mặt nàng, nhờ năm năm rèn luyện đến mức lạnh như đá dưới sương sớm, vẫn không lộ ra một dấu vết nào rõ ràng. Trong đầu nàng chỉ có một câu hỏi duy nhất xoáy đi xoáy lại: hắn giữ hồ sơ này để làm gì, biết được bao nhiêu, và quan trọng hơn cả, hắn có biết người đang quỳ trước mặt mình chính là con gái của cái tên in trên bìa giấy kia hay không.
Chỉ có ánh mắt, trong một khắc ngắn ngủi, là không kịp giấu hết.
Và Thái tử, người vừa đặt xấp hồ sơ ấy xuống, đang nhìn thẳng vào đúng khắc ngắn ngủi đó, như thể hắn đã chờ đợi chính khoảnh khắc này từ rất lâu, còn lâu hơn cả năm năm chờ đợi một câu trả lời mà cả triều đình không ai dám nói ra.