Trọng Sinh Trước Ngày Ta Bị Phanh Thây
Chương 2: Còn Mười Một Canh Giờ
Ta pha xong bình nước hoa Xuân Đào Túy trước giờ ngọ như đã hứa, đưa tận tay Tiểu Nga ngoài bếp Tây cung, dặn thêm một câu bâng quơ, “Cẩn thận, đừng để vỡ, mang thẳng ra Chiêu Dương điện.” Tiểu Nga dạ vâng, ôm bình sứ áp vào ngực, cúi đầu lui ra, dáng đi vẫn nhẹ nhàng ngoan ngoãn như mọi ngày.
Ta đứng nhìn theo bóng nó khuất sau góc tường, tay siết nhẹ vạt áo. Nó chưa ra tay. Còn quá sớm. Ta còn thời gian.
Rời bếp Tây cung, ta không quay về nữ y sở, mà rẽ sang lối vườn Ngự Hoa, hướng thẳng Ngự y viện. Nắng đã lên cao hơn, nhuộm vàng những khóm mẫu đơn còn ướt sương đêm. Tiếng gà gáy canh mão đã dứt từ lâu, nhường chỗ cho tiếng chim khách kêu ríu rít trên những tán ngô đồng.
Trong tay áo ta, một mảnh giấy nhỏ gấp tư, nét chữ chính ta viết vội lúc còn ngồi trước gương đồng. Ba chữ. Hỏa Xa Mộc.
Ta cần biểu ca xác nhận. Không phải vì ta không tin trí nhớ của mình, mà vì một khi đã nói ra ba chữ ấy trước mặt người khác, nó không còn là một cơn ác mộng mơ hồ nữa. Nó trở thành một sự thật có thể bị vặn hỏi, có thể bị lật lại, có thể bị dùng làm bằng chứng.
Ngự y viện nằm sau một dãy hành lang dài, mái ngói lưu ly xanh sẫm, khác hẳn Tây cung. Ta bước qua cổng, gật đầu chào một tiểu đồng quen mặt đang quét sân, rồi đi thẳng về phòng dược phía đông, nơi biểu ca vẫn thường ngồi mỗi sớm.
Cửa phòng dược mở hờ. Bên trong, Phó Trạm Thanh đang đứng trước dãy tủ gỗ cao, tay thoăn thoắt xếp từng gói thảo dược vào một chiếc rương gỗ lim lớn, mỗi gói buộc dây gai, dán nhãn giấy ghi tên vị thuốc bằng nét chữ chân phương, ngay ngắn. Trên bàn, một cuốn sổ mở sẵn, liệt kê danh mục dài dằng dặc, có lẽ là thuốc mang theo cho chuyến đi biên trấn.
Ta đứng lặng một lúc ở ngưỡng cửa, nhìn dáng lưng cao gầy quen thuộc ấy. Kiếp trước, dáng lưng này đã ở cách ta hàng ngàn dặm vào cái ngày ta cần nó nhất.
“Biểu ca.”
Chàng ngoảnh lại. Đôi mắt sáng lạnh thường ngày khẽ giãn ra khi nhận ra ta, không hẳn là cười, nhưng có phần dịu lại.
“Bích Ngọc.” Chàng đặt gói thuốc trong tay xuống bàn, phủi tay vào vạt áo. “Sao sáng nay muội đến đây? Nữ y sở Tây cung hôm nay không bận sao, tiệc sinh thần công chúa chiều nay đấy.”
“Muội xong việc sớm.” Ta bước vào, khép cửa lại sau lưng, không hẳn để giấu giếm, chỉ là không muốn có ai nghe được câu chuyện sắp tới. “Biểu ca đang chuẩn bị cho chuyến đi biên trấn?”
“Còn ba ngày nữa.” Chàng đáp, mắt lại quay về rương thuốc, tay tiếp tục xếp. “Tướng quân trấn thủ phương Bắc dạo này trở bệnh phong hàn, Hoàng thượng sai ta lên đường sớm.”
Ba ngày. Kiếp trước, chàng cũng đi vào đúng dịp này, chỉ có điều lúc ấy ta không hề để tâm, không hỏi han, không tiễn đưa, vì còn mải lo chuẩn bị nước hoa cho tiệc sinh thần. Đến khi ta cần chàng nhất, chàng đã cách xa cả ngàn dặm, tin tức không kịp truyền về.
Ta lấy mảnh giấy trong tay áo, đặt lên bàn, đẩy nhẹ về phía chàng.
“Biểu ca xem giúp muội cái này.”
Chàng nhíu mày, cầm mảnh giấy lên, mở ra đọc. Chỉ ba chữ, nhưng ta thấy rõ sắc mặt chàng thoáng đổi, đôi mắt sáng lạnh ấy chợt trầm xuống, nhìn ta chăm chú hơn.
“Hỏa Xa Mộc.” Chàng lặp lại, giọng thấp. “Muội biết vị này ở đâu ra?”
“Muội chỉ muốn hỏi. Đây là thứ độc gì?”
Chàng đặt mảnh giấy xuống bàn, hai tay chống lên mép bàn, người hơi cúi về phía ta, như đang cân nhắc nên nói bao nhiêu.
“Độc thảo cổ, ghi trong y thư đời trước, đã thất truyền gần trăm năm, hiếm ai còn nhớ tên. Cực chậm. Người trúng độc phải sau ba canh giờ mới bắt đầu phát tác, lúc đầu chỉ hơi mệt mỏi, chóng mặt, giống như cảm gió bình thường, không ai để ý. Đến khi phát tác thật sự thì đã muộn, tạng phủ suy kiệt trong chớp mắt, không cách nào cứu kịp.”
Chàng dừng lại, ngón tay gõ nhẹ lên mảnh giấy.
“Ngân châm thông thường không dò ra được, vì độc tính ẩn quá sâu trong huyết mạch, phải dùng loại châm luyện riêng, tẩm bạc ròng, cắm đúng huyệt mới hiện màu. Toàn thiên hạ, có lẽ chỉ còn vài ngự y già ở phương Nam từng nghe qua tên nó. Muội hỏi làm gì?”
Ta nhìn thẳng vào mắt chàng, không né tránh. “Biểu ca. Muội có chuyện quan trọng cần nói với chàng. Chàng có tin muội không?”
Câu hỏi vừa dứt, cả gian phòng dược như lặng đi một nhịp. Chàng không trả lời ngay. Chàng nhìn ta, rất lâu, đôi mắt sáng lạnh ấy dán chặt vào mặt ta như đang tìm kiếm điều gì đó khác thường.
Ta biết chàng đang thấy gì. Ánh mắt của ta bây giờ không còn là ánh mắt của một cô em họ hiền lành vẫn hay ghé Ngự y viện hỏi han vài câu vô thưởng vô phạt rồi về. Mười lăm năm chàng biết ta, từ lúc còn là hai đứa trẻ cùng quỳ trước án thuốc của ngoại tổ phụ học thuộc lòng dược tính, chàng thuộc từng biểu cảm nhỏ nhất trên gương mặt ta.
“Ánh mắt muội hôm nay khác.” Chàng nói, chậm rãi, gần như tự nói với chính mình. “Không phải Bích Ngọc mọi khi.”
Ta không phủ nhận. Không thể phủ nhận.
“Muội nói đi.” Chàng thẳng người lên, giọng trầm hẳn xuống, nghiêm túc. “Ta nghe.”
Ta hít một hơi, cố giữ giọng mình đều đặn, không để run.
Ta không nói với chàng hai chữ trọng sinh. Nói ra, chàng sẽ nghĩ ta điên, hoặc tệ hơn, sẽ tin, rồi hoảng loạn không biết xử trí ra sao trước một chuyện vượt quá sức tưởng tượng của người thường. Ta chọn một cách khác, gần với sự thật hơn bất cứ ai có thể ngờ tới, mà vẫn đủ để chàng nghe lọt tai.
“Đêm qua muội nằm mộng. Một giấc mộng rất dài, rất rõ, không giống những giấc mộng thường ngày.” Ta nhìn chàng, từng chữ một, chậm rãi. “Muội mộng thấy chiều nay, tại tiệc sinh thần, công chúa Vĩnh Ninh uống một chén rượu quả nhi có tẩm độc, người co giật, ngã gục ngay giữa Chiêu Dương điện. Muội mộng thấy đến đêm khuya, Chiêu Nghi đứng trước mặt Hoàng hậu, chỉ thẳng vào muội, nói rằng chính muội đã tẩm độc vào nước hoa Xuân Đào Túy muội pha sáng nay. Muội mộng thấy sáng hôm sau, muội bị trói ra Ngoại Ngọ Môn, chịu tội phanh thây, trước mặt cả kinh thành, không một ai đứng ra minh oan.”
Ta dừng lại, nhìn phản ứng của chàng. Tay chàng đang cầm một mũi kim châm bạc, không biết từ lúc nào đã rút ra khỏi tay áo, siết chặt trong lòng bàn tay đến mức đốt ngón tay trắng bệch.
“Giấc mộng ấy rõ đến từng chi tiết nhỏ nhất.” Ta tiếp tục, giọng càng lúc càng chậm, càng nặng. “Rõ đến mức muội tỉnh dậy, tay chân vẫn còn run, vẫn còn cảm giác lưỡi đao lạnh buốt kề sát gáy. Biểu ca, muội chưa từng có một giấc mộng nào như thế.”
Phó Trạm Thanh im lặng rất lâu. Ánh nắng qua song cửa rọi một vệt dài trên mặt bàn gỗ, chiếu lên mảnh giấy ba chữ Hỏa Xa Mộc, khiến nét mực càng thêm sẫm.
“Mộng của muội.” Chàng lên tiếng, giọng trầm, chậm rãi từng chữ. “Quá chi tiết.”
Ta không nói gì thêm, để chàng tự suy nghĩ. Ta biết chàng không phải người dễ tin vào điềm báo, mộng mị. Chàng là ngự y, cả đời tin vào mạch tượng, vào dược tính, vào những gì tận mắt nhìn thấy dưới mũi kim châm. Nhưng chính vì thế, chàng càng hiểu rõ hơn ai hết, có những điều khoa học không giải thích được, không có nghĩa là nó không tồn tại.
“Ba chữ Hỏa Xa Mộc này.” Chàng cầm mảnh giấy lên lần nữa, giọng khẽ run. “Muội mộng thấy luôn cả tên độc sao?”
Ta gật đầu. Đây là chỗ khó nói dối nhất, và ta không định nói dối thêm nữa, chỉ vòng vo đúng mức cần thiết.
“Trong mộng, có người nhắc đến ba chữ này khi bàn chuyện hạ độc. Muội nhớ rất rõ, tỉnh dậy vẫn còn nhớ, nên mới chép lại ngay, mang đến hỏi biểu ca.”
Chàng nhìn ta thêm một lúc nữa, rồi cất mũi kim châm bạc trở lại tay áo, động tác dứt khoát như đã đưa ra một quyết định.
“Ta không hỏi thêm muội đã mộng thấy gì khác.” Chàng nói. “Ta tin muội không phải người hay dựng chuyện, càng không phải người sẽ đùa cợt với chuyện tính mạng của công chúa và của chính muội. Nếu muội nói có chuyện, thì ắt là có chuyện.”
Ta thở phào nhẹ trong lòng, dù bên ngoài vẫn cố giữ vẻ bình thản.
Chàng quay người, mở một ngăn kéo nhỏ dưới bàn thuốc, lấy ra một túi lụa xanh, bên trong có tiếng va chạm khe khẽ của kim loại. Chàng đưa túi lụa cho ta, hai tay.
“Đây là ba chiếc ngân châm ta tự tay rèn riêng, luyện bằng bạc ròng pha thêm chu sa, cắm vào bất cứ thức ăn nước uống nào có Hỏa Xa Mộc, trong vòng một canh giờ đầu kim sẽ chuyển đen. Ngân châm thường không dò ra được độc này, nhưng loại ta rèn thì được. Muội mang theo bên mình.”
Ta nhận lấy túi lụa, cảm nhận trọng lượng nhẹ tênh của ba chiếc kim châm qua lớp vải, mà lòng nặng trĩu hẳn xuống. Đây không chỉ là ba mũi kim. Đây là thứ duy nhất có thể vạch trần một loại độc mà cả Ngự y viện phần lớn còn chưa từng nghe tên.
“Cảm ơn biểu ca.”
“Đừng cảm ơn vội.” Chàng nhìn ta, ánh mắt sáng lạnh giờ đã ấm lại phần nào, nhưng vẫn còn nét lo lắng không giấu được. “Nếu chuyện muội mộng thấy là thật, dù chỉ một phần, thì kẻ đứng sau chuyện này không phải hạng tầm thường. Hỏa Xa Mộc không phải thứ độc một nữ tì quèn tự mình tìm ra được. Phải có người am hiểu y thư cổ, lại có đường dây lấy được thứ thảo dược thất truyền cả trăm năm.”
Ta khựng lại. Chàng nói đúng điều ta cũng đang nghĩ tới, chỉ là chưa kịp nói thành lời.
“Muội sẽ cẩn thận.” Ta đáp.
“Không phải chỉ cẩn thận.” Chàng bước tới gần hơn, giọng hạ thấp, gần như chỉ đủ hai người nghe. “Nếu cần người giúp, đừng một mình gánh lấy. Ta còn ba ngày ở kinh thành. Ba ngày, đủ để làm được nhiều việc.”
Ta nhìn chàng, trong lòng dâng lên một cảm giác lạ lẫm, ấm áp mà cũng chua xót. Kiếp trước, ta chưa từng nói với chàng một lời nào về nỗi sợ hãi của mình, chưa từng để chàng biết ta cần một người đứng cùng. Kiếp này, chỉ một câu hỏi, một mảnh giấy, chàng đã sẵn lòng đứng về phía ta, không cần hỏi thêm lý do.
“Muội sẽ tìm biểu ca, nếu cần.” Ta nói, giọng khẽ nghẹn lại một chút.
Chàng gật đầu, không nói thêm gì nữa, quay người trở lại rương thuốc, nhưng tay xếp đồ giờ đã chậm hẳn, thỉnh thoảng lại liếc nhìn ta một cái, như còn muốn hỏi thêm điều gì mà chưa tiện mở lời.
Ta cất túi lụa ba chiếc ngân châm vào trong tay áo, cạnh mảnh giấy ba chữ Hỏa Xa Mộc, cáo từ chàng, bước ra khỏi phòng dược.
Ra đến ngoài hành lang Ngự y viện, ta dừng lại, ngoái đầu nhìn lại. Phó Trạm Thanh đã ra đứng bên khung cửa, dáng người cao gầy tựa vào cột gỗ, ánh mắt vẫn dõi theo ta, không hề rời đi làm việc khác như thường lệ.
Chàng không tin câu chuyện mộng mị của ta. Chàng tin muội có chuyện thật.
Ta siết chặt túi ngân châm trong tay áo, quay lưng bước đi, không ngoái lại thêm lần nào nữa, sợ nếu nhìn thêm, ta sẽ không kìm được mà quay vào kể hết mọi chuyện, kể cả hai chữ trọng sinh.
Mười một canh giờ.
Ta bước qua vườn Ngự Hoa lần nữa, nắng giờ đã lên cao, chiếu thẳng xuống những khóm mẫu đơn, làm những giọt sương còn sót lại sáng lấp lánh như hạt châu vỡ. Trong đầu ta, từng mảnh sự việc bắt đầu ghép lại thành một hình dạng rõ ràng hơn.
Hỏa Xa Mộc không phải thứ ai cũng biết đến, huống hồ tìm ra để dùng. Kẻ đứng sau phải có quyền lực, có kiến thức, có đường dây riêng, hoàn toàn không giống một kẻ tầm thường trong cung.
Nhưng kẻ ra tay trực tiếp, kẻ có thể tiếp cận được chén rượu quả nhi ngay tại Tây cung, lại phải là người quen mặt, không gây nghi ngờ khi lai vãng quanh khu bếp.
Ai bỏ Hỏa Xa Mộc vào chén rượu, không thể ở xa. Phải là người có lối vào bếp Tây cung, người mà ngay cả bếp trưởng cũng không đề phòng.
Tiểu Nga. Nữ tì mới đến hai tháng.
Ta dừng bước giữa lối vườn, nhìn về hướng Tây cung xa xa, nơi Tiểu Nga có lẽ vẫn đang bận rộn trong bếp, chuẩn bị cho tiệc sinh thần chiều nay, gương mặt vẫn ngoan ngoãn hiền lành như chưa từng làm gì sai trái.
Kiếp trước, ta tin nó đến phút cuối cùng.
Kiếp này, ta sẽ đích thân đứng nhìn nó ra tay.