Ta Xuyên Thành Vợ Kế Của Tướng Quân Goá

Chương 3: Đôi Giày Nhỏ Đầu Tiên

Bảy ngày trôi qua. Tuyết đã dày trên mái Cố phủ. Ta bắt đầu quen.

Quen mùi cháo gạo sáng bay lên từ nhà bếp phía sân sau, quen tiếng giày vải hạ nhân trượt trên hành lang gỗ mỗi canh dần, quen cả cái lạnh biên ải cắt qua khe cửa, len vào áo bông dày ta đắp cho ba con mỗi đêm.

Cái gì ta chưa quen thì ta giả vờ quen.

Thân này mười tám tuổi, thân này cần ngủ đủ giấc. Hồn ta hai mươi lăm, hồn ta quen thức trắng canh cấp cứu bệnh nhi. Hai bên cãi nhau mỗi sáng. Cuối cùng thân thắng. Ta ngủ được ba canh giờ liền, dậy vẫn thấy đầu ong nhẹ, nhưng đỡ hơn tuần đầu.

Ninh nhi đã khoẻ hẳn.

Con hai tuổi, da vẫn xanh, môi vẫn hơi nhợt, nhưng đêm đêm không còn sốt. Ta pha nước ấm với vài lát gừng mỏng cho con uống trước ngủ. Nha đầu ban đầu lạ, ta giải thích ngắn: “Gừng ấm bụng, con đỡ trớ.” Nha đầu gật, không hỏi thêm.

Sáng nay ta xuống bếp sớm hơn thường. Nồi cháo gạo trên bếp than sủi lăn tăn. Ta nhìn một lượt các rổ rau củ hạ nhân xếp cạnh: cà rốt, khoai môn, một rổ sơn tra nhỏ đỏ chin còn dính lá.

“Cho muội bát sơn tra kia.” Ta nói với bà bếp. “Sáng nay bữa của Nhu nhi và Ninh nhi có sơn tra.”

Bà bếp lạ mặt. “Phu nhân… sơn tra chua, trẻ dễ đau bụng.”

“Chua chua tốt cho khoẻ. Bào lấy nước, pha loãng, cho hai đứa uống mỗi sáng nửa chén nhỏ. Vị dịu lại. Muội đã thấy làm ở nam thành.”

Ta không nói vi-ta-min C. Không nói tăng đề kháng. Ta chỉ nói câu bà ngoại kiếp trước hay bảo mỗi mùa đông: “Ăn chua tí cho con trùng bệnh sợ.” bếp gật, cầm rổ sơn tra vào chảo.

Nửa canh sau, ta bưng chén nước sơn tra ấm sang phòng Nhu. Con năm tuổi, má bánh bao hồng vì mới ngủ dậy. Ngậm một ngụm, con nhăn mặt.

“Chua!”

“Chua thì mới hết bệnh.” Ta cười. “Nhu à. Con nhìn xem, mỗi ngụm chua này vào cơ thể, có bạn bè mới, đánh nhau với con trùng bệnh nhỏ. Uống hai ngụm nữa, nhé?”

Nhu ngậm ngụm nữa. Vẫn nhăn. Nhưng nuốt.

Ta xoa đầu con, đưa miếng đường phèn nhỏ để trấn miệng. Nhu ngậm đường, mắt híp lại vì ngọt.

Nhu năm tuổi ngồi bên phản Ninh vẽ tranh mỗi trưa. Nhu vẽ mèo. Vẽ mãi vẫn ra một cái gối tròn có bốn cái que. Ta ngồi bên, đưa tay cầm bút cùng con, kéo cái đuôi cong lên một chút, thêm hai cái tai nhọn.

“Mẹ vẽ đẹp thế!”

Ta khựng nửa giây. Nhu vừa gọi mẹ. Không phải dì Uyển.

Ta chưa nói gì. Chỉ mím cười, kéo tay Nhu vẽ tiếp cái mũi nhỏ. Có những chuyện không cần đáp ngay, chỉ cần nhớ khoảnh khắc con nói.

Đêm đêm Nhu chạy sang phòng ta nghe kể chuyện. Ta kể chuyện Tấm Cám. Ta đổi tên Tấm thành Nhu, Cám thành con mèo hàng xóm. Nhu nghe say, mắt tròn ngồi bó gối bên phản. Đến đoạn cá bống, Nhu chen vào:

“Cá bống có ăn được sơn tra không mẹ?”

Ta bật cười. Ta hai mươi lăm tuổi kiếp trước cứu ba đứa trẻ trong đêm bằng chuyên môn tám năm học Y. Ta mười tám tuổi kiếp này, kể chuyện cá bống cho Nhu năm tuổi, bó tay ba khắc chưa đáp được câu hỏi.

“Cá bống thích nước, không thích sơn tra. Sơn tra để Nhu ăn.”

Nhu gật, hài lòng.

Ta kể tiếp đến đoạn Tấm được ông Bụt cho quần áo đẹp đi hội. Nhu vỗ tay. Con hỏi:

“Mẹ, ông Bụt là ai? Là thần biên ải à?”

Ta khựng. Ông Bụt phía nam nước Đại Việt kiếp trước, không phải Đại Ung. Ta chỉnh miệng:

“Là một ông lão râu trắng, hay đi trong đêm giúp trẻ ngoan. Chưa đến biên ải, đường xa.”

Nhu chấp nhận. Trẻ năm tuổi tin bất cứ điều gì nếu người kể mím miệng tự tin.

Đêm ấy Nhu ngủ luôn trong tân phòng ta, đầu gối lên đùi ta, một tay vẫn nắm miếng đường phèn. Ta không có tim đánh thức. Ta cứ để con nằm, một tay khẽ vuốt tóc con, một tay đắp chăn cho Ninh trên phản bên.

Trong ba khắc ngắn ấy, đèn dầu leo lét, có hai đứa trẻ thở bên ta, ngoài cửa tuyết rơi đều trên mái. Ta không nghĩ đến kiếp trước. Ta cũng không nghĩ đến chồng lạ ở thư phòng bên. Ta chỉ nghĩ chuyện sáng mai phải dặn Lăng luộc thêm nồi cà rốt, cắt cho Ninh thành thanh nhỏ dễ cầm tay.

Cố Diễn bảy tuổi, im lặng suốt tuần.

Con ăn cơm chung, cầm đũa ngay ngắn. Ăn xong tự đặt bát xuống, chắp tay chào bà nội, chào ta, chào cha rồi lui về phòng. Không nói câu thừa. Không hỏi câu nào.

Chỉ có một hôm, ta bưng chén cháo cà rốt sang phòng Diễn, hỏi hôm nay con học chữ gì. Diễn ngước lên. Đôi mắt hai mí to giống mẹ Ngọc Nhược (ta đã nghe nha đầu tả), đáp một chữ:

“Gia.”

Rồi cúi xuống viết tiếp.

Ta đặt chén cháo lên án. Không thúc con ăn. Không hỏi thêm. Bác sĩ nhi khoa tám năm dạy ta một điều: trẻ trauma sau mất người thân không cần người lớn ép nói. Con cần thấy có người ngồi đó không thúc, không ép. Có khi mấy tháng. Có khi mấy năm.

Ta rót cho con thêm chén nước ấm, đặt cạnh cháo, rồi lui.

Cửa gỗ khép sau lưng ta. Trong phòng, ta nghe tiếng bút mực chấm xuống nghiên. Đều. Đều.

Cố Trường Nguyên vẫn ngủ thư phòng cạnh tân phòng ta. Sáng chàng dậy canh dần, ra sân sau tập kiếm nửa canh, ăn cháo, đi biên đài đông. Tối về, ăn cơm chung, hỏi Nhu ăn ngon không, chạm trán Ninh xem có sốt lại không, gật với ta một cái, rồi lui về thư phòng.

Ba năm goá vợ. Chàng chưa quen ngủ chung phản với người lạ. Ta chưa quen thân mười tám tuổi có chồng lạ. Hai bên đều lấy thư phòng làm biên giới an toàn.

Ta không phiền. Ta còn nhiều thứ phải làm.

Chiều ngày thứ tám, ta xuống kho phủ xem đồ. Nha đầu tên Lăng bưng chìa khoá đi trước, ta theo sau. Kho là gian gỗ ba tầng phía sân sau, có mùi bụi và mùi long não. Ta nhìn qua ba tầng, tìm cái ta cần.

Có. Trong góc tầng hai, một rổ tre nan lớn, phủ vải xám. Ta lật vải.

Bên trong là len đỏ, sợi dày, mềm, đã se thành cuộn. Loại len tốt, không phải len chợ thường.

“Len này của phu nhân cũ,” Lăng khẽ, “phu nhân mua từ nam thành ba năm trước, định đan chăn cho Ninh nhi. Đan chưa xong thì…”

Lăng bỏ dở câu.

Ta cúi xuống, cầm một cuộn lên. Sờ. Mềm, còn thơm nhẹ mùi long não. Ba năm rồi mà chưa mục, chưa mối. Người đàn bà đó đã chọn kỹ. Đã yêu con lắm mới chọn kỹ như vậy.

“Muội mượn về đan,” ta nói. “Không ai dùng, phí.”

Lăng gật.

Ta ôm cả rổ về tân phòng. Đặt bên án, dưới ngọn đèn dầu. Tối hôm ấy, ăn cơm xong, dỗ Ninh ngủ, ta ngồi xuống, lấy hai que kim tre bà ngoại kiếp trước dạy ta cầm từ mười tuổi.

Kim tre trong tay thân này còn lạ. Ngón tay mười tám tuổi mềm hơn, chưa có chai. Ta phải làm quen lại.

Mũi đầu tiên đan xong, ta cười thầm. Bà ngoại kiếp trước hay lẩm bẩm câu “khôn ba năm dại một giờ”, mỗi lần ta đan lỗi bà lại kéo tuột ra bảo đan lại. Bây giờ bà không còn. Ta cũng không còn kiếp đó. Chỉ còn cái nếp tay biết đan.

Đêm thứ tám. Đêm thứ chín.

Ta đan chưa xong.

Nhu chạy sang phòng ta mỗi tối. Con ngồi bên chân ta, xem tay ta đưa kim. Con hỏi:

“Mẹ đan cho ai?”

“Cho Ninh.”

“Sao không cho Nhu?”

“Ninh nhỏ. Ninh trước. Rồi tới Nhu.”

Nhu bĩu môi ba giây, xong lại cười. Con năm tuổi, tính chị đã có. Ta xoa đầu con, đưa cho con một miếng đường phèn nhỏ ta xin từ bà nội trưa nay. Nhu ngậm đường, mắt híp lại vì ngọt (lại lần nữa).

Ninh bò đến bên chân ta. Con hai tuổi, chưa đi vững, nhưng bò được. Con vịn vào chân ghế, ngước lên nhìn cái ta đang đan. Con chỉ tay:

“Ai…”

Ta cười. “Cho con đó, Ninh. Giày ấm.”

Ninh không hiểu chữ giày. Chỉ hiểu chữ con. Con cười, lộ hai cái răng cửa trên.

Chiều ngày thứ chín, đôi giày Ninh xong.

Đỏ. Nhỏ bằng nắm tay ta. Đế ta lót thêm một lớp vải bông cho ấm. Ta đi vào phòng Ninh, cởi giày cỏ cũ của con ra, xỏ đôi giày len mới vào. Vừa. Không rộng, không chật.

Ninh nhìn chân mình. Nhìn ta. Cười. Cười to hơn mọi khi. Con vịn cạnh phản đứng dậy, bước hai bước loạng choạng trong phòng.

“Đi đi con,” ta nói. “Giày mẹ đan cho con đi.”

Nhu chạy vào. Nhu thấy giày Ninh. Nhu mở to mắt.

“Mẹ ơi, Nhu cũng muốn!”

Ta gật. “Nhu ngoan. Mẹ đan cho Nhu tiếp. Ba ngày nữa.”

Nhu vỗ tay chạy đi khoe bà nội.

Diễn đứng ở khung cửa.

Ta không biết con đã đứng đó bao lâu. Con không vào, không xin, không nói. Chỉ nhìn Ninh mang giày mới bước hai bước loạng choạng, rồi rút đầu về phòng mình.

Ta biết. Con muốn. Con không dám xin.

Trẻ bảy tuổi mất mẹ ba năm, con đã học được rằng xin gì cũng có thể là mất thêm gì. Con không dám thử.

Ta không gọi con lại. Ta không hứa.

Ta đứng dậy, sang phòng bên, cầm thêm một rổ len xanh mà chiều nay Lăng giúp ta mua ở chợ biên ải. Len xanh, cho con trai. Ta cũng lấy thêm cuộn đỏ cho Nhu.

Ta bắt đầu đan cả hai đôi. Không cần con xin.

Cuộn len xanh trong tay ta có mùi hơi khác cuộn đỏ, hăng hơn, khô hơn. Chợ biên ải không có len tốt như nam thành, sợi thô, có vụn cỏ khô lẫn vào. Ta nhặt vụn cỏ ra một khắc, rồi mới đan mũi đầu tiên. Đôi giày con trai sẽ hơi thô hơn đôi Ninh, nhưng ấm là được. Bảy tuổi đi rừng đá biên ải, cần bền hơn cần đẹp.

Ta đan mũi cho Diễn. Trong bóng tối tân phòng, giày xanh nằm trên án, một nửa còn là sợi rối. Ta vẫn thấy được hình đôi giày tương lai của con.

Sáng ngày thứ mười, ta cùng Ninh ngồi ngoài hiên đón nắng đầu. Con đi đôi giày mới, chân đá đá xuống sàn gỗ nghe cộp cộp. Con cười khanh khách.

Cố Trường Nguyên đi qua sân giữa, tay cầm mũ giáp. Chàng dừng lại. Nhìn con út đi giày đỏ.

Ta không đứng dậy. Ninh bò lại chân cha, vịn ống chân chàng đứng dậy, chỉ tay xuống đôi giày:

“Ai…”

Cố Trường Nguyên cúi xuống. Chàng chưa quen bồng con, nhưng chàng ngồi xuống ngang tầm con. Chạm đôi giày. Nhìn ta.

“Nàng đan?”

“Muội.”

Chàng gật một cái. Không cảm ơn, không khen. Đứng dậy, đi ra cửa lớn. Áo bào đen phất một cái trong gió tuyết.

Cây hoè trăm tuổi ở sân giữa đứng im. Cành khô, thân đen sần. Ta ngước lên nhìn nó lần thứ ba từ hôm đến. Nó chưa nở hoa, mùa đông không nở. Nhưng nó đứng đó, trăm năm rồi.

Cảm ơn nào không nói ra cũng là cảm ơn. Ba năm nén cảm xúc, chàng chưa quen nói. Ta không đợi.

Trưa hôm ấy bà nội gọi ta sang phòng bà. Bà ngồi trên án gỗ tử đàn, tay lần chuỗi hạt bồ đề. Bệnh của bà đã bớt, sắc mặt hồng dần, chỉ còn ho khẽ mỗi sáng.

“Uyển An à,” bà nói, “Nhu nhi mới khoe bà giày Ninh nhi. Con đan?”

“Vâng ạ.”

“Con biết đan từ khi nào? Thẩm gia mai mối chưa nói bà.”

Ta thoáng nghĩ. Đây là chỗ dễ lộ. Ta cúi đầu, giọng nhỏ, nhẹ:

“Bà ngoại con dạy khi con bé. Bà con mất sớm, con giữ nếp tay không quên.”

Bà nội gật. Không hỏi thêm. Bà cầm một sợi len đỏ ta cầm theo (còn dính vụn ở tay áo ta), sờ.

“Len tốt. Không phải len biên ải.”

“Len phu nhân cũ mua để dành.”

Bà nội im ba khắc. Ta cũng im. Ngoài cửa nghe tiếng tuyết nhẹ rơi trên rèm.

Rồi bà bảo: “Con đan giày cho ba đứa nhé. Ninh nhi có rồi. Đến Nhu nhi. Đến Diễn nhi. Diễn nhi con trai, chân nhanh lớn, con đan cỡ hơi rộng chút để dùng qua xuân.”

Ta gật. “Vâng ạ.”

Bà không nói cảm ơn. Bà chỉ nói câu như đặt việc cho con dâu.

Nhưng khi ta ra khỏi phòng bà, cửa rèm sau lưng khép lại, ta nghe bà nói khẽ với nha đầu Lăng đứng bên: “Đứa này… khác.”

Ta không quay lại. Ta bước qua sân giữa. Cây hoè trăm tuổi vẫn đứng đó.

Đêm ngày thứ mười.

Tuyết vẫn rơi. Ta ngồi bên án đan đôi giày cho Nhu. Còn nửa đế nữa là xong. Đèn dầu thấp. Ninh ngủ trong phản bên ta, ôm con búp bê vải cũ, đầu gối đúng lên tay ta ba lần, ta lại nâng ra đặt xuống, con lại lăn về.

Ngoài phòng có tiếng bước chân nhỏ.

Không phải Ninh. Ninh đang thở đều bên ta. Không phải Nhu. Nhu ngủ ở phòng bà nội mỗi đêm quen. Không phải Cố Trường Nguyên. Chàng đi giày da, bước nặng, không nhẹ như vậy.

Diễn.

Bảy tuổi. Đêm khuya. Sang phòng ta.

Ta không quay đầu ngay. Kim đan trong tay không dừng. Ta để con tự bước vào. Trẻ trauma cần cảm giác chủ động. Nếu ta quay lại, con sẽ đứng chết ở cửa, không dám vào.

Rèm cửa khẽ vén.

Tiếng bước chân nhỏ vào phòng.

Diễn đến bên án. Đứng cách ta ba bước. Ta nhìn nghiêng, thấy con mặc áo lụa xanh nhạt ngủ, cổ áo còn vệt mực nhỏ (chắc chiều nay luyện chữ chưa lau tay).

Con không nói. Trong tay con là một cuốn sổ tay nhỏ bằng gỗ. Bìa da đã tróc góc.

Con đặt sổ lên án ta. Không nói. Chỉ đặt.

Rồi con lùi lại một bước. Đứng.

Ngoài cửa tuyết vẫn rơi. Trong phòng nến sáp nhỏ một giọt xuống đế nến, kêu tí một cái.

Ta hạ kim đan xuống. Nhìn sổ.