Ta Xuyên Thành Vợ Kế Của Tướng Quân Goá

Chương 4: Sổ Tay Vẽ Mẹ

Ta mở sổ tay Diễn để trên án.

Cuốn sổ bìa gỗ mộc, cạnh mòn tròn. Bìa gỗ có một vết cạ nhỏ ở góc trên bên phải, như bị vấp vào cạnh bàn nhiều lần. Ta lật trang đầu.

Trang một: một bức vẽ chì mực. Mực đen chưa phai. Một người phụ nữ, mắt to hai mí, tóc dài vấn kiểu tân nương biên ải, áo lụa xanh cánh sẻ. Nét vẽ vụng của trẻ bốn tuổi, nhưng đủ nhận: đây là Lâm Ngọc Nhược, vợ cả chàng, mẹ ba con.

Trang hai: cũng phụ nữ ấy. Nét đã bớt vụng, có thêm chi tiết áo. Trang ba, trang bốn, trang năm. Cũng nàng.

Ta lật nhanh, tay không dừng.

Đến giữa sổ, khoảng trang bốn trăm, ta thấy nét chì bắt đầu mờ. Không phải mực nhoè. Là nhớ mờ. Đường viền mặt vẫn có, nhưng mắt hai mí đã không rõ. Tóc dài đã cụt. Áo lụa xanh không còn màu, chỉ là đường trắng đen loang lổ.

Ta lật đến trang cuối. Trang thứ chín trăm bảy mươi mấy, ta không đếm rõ.

Trang cuối cùng: chỉ còn đường viền mặt. Không mắt, không mũi, không miệng. Như một quả trứng gà rỗng vẽ bằng chì.

Bên dưới đường viền, có bốn chữ. Nét bút trẻ bảy tuổi. Ngay ngắn hơn hình vẽ.

Con quên mẹ.

Ta đóng sổ. Không nói. Không thở dài.

Ta ngồi im ba khắc.

Diễn đứng bên án. Ta quên mất bảy tuổi vẫn đang chờ ta phản ứng. Con đứng thẳng, hai tay xuôi, không nhìn ta. Nhìn xuống bậc án.

Ta đưa sổ lại. Không cúi để mắt ngang tầm con. Không nắm tay. Không nói “muội hiểu”. Bác sĩ nhi kiếp trước dạy ta bài đầu tiên: an ủi rỗng cho trẻ mang vết đau lâu là dao cùn cắt lại vết cũ.

Ta chỉ hỏi.

“Diễn à. Con nhớ mẹ mắt to hai mí. Tóc dài. Áo lụa xanh. Con còn nhớ gì khác không?”

Diễn hơi ngước. Mắt đen to hai mí, giống mẹ.

Con nghĩ. Ta chờ. Đèn dầu bên án cháy đều. Ngoài rèm cửa nghe sột soạt trên mái ngói, tuyết đêm rơi chậm.

Sau khoảng ba khắc, con nói.

“Mẹ hay ho vào áo tay bên phải.”

Ta gật.

“Mẹ cười thì có lúm bên trái.”

Ta gật.

“Mẹ hát bài Trầm Ca ru con ngủ. Con quên lời rồi. Chỉ nhớ giọng.”

Ta gật lần thứ ba.

“Còn nữa không?”

Diễn nghĩ tiếp. Lâu hơn. Ngón tay con búng nhẹ vào mép sổ tay ta vừa trả. Đó là thói quen bảy tuổi khi lo âu, ta thấy trong các trẻ nhỏ ta khám kiếp trước. Không giải thích được, chỉ nhận ra.

“Mẹ mũi thẳng, không nhọn. Mẹ ngón tay dài. Mẹ đeo trâm bạc có hoa hồng nhỏ ở chóp. Con… con nhớ được chỉ ba năm về trước. Càng ngày càng ít. Sáng nay con vẽ trâm, quên hoa hồng có mấy cánh.”

Ta đứng dậy. Không vội.

“Con ngồi ghế nhỏ này. Muội lấy giấy.”

Ta ra sau án, lấy giấy dâu và hộp bút mực. Bút lông sói, ta chưa quen. Kiếp trước ta chỉ vẽ bằng bút chì và than khi có giờ nghỉ trực. Nhưng vẽ chân dung đường viền, bút lông sói làm được.

Ta ngồi xuống. Trải giấy. Mài mực ba khắc. Mực thoa tròn trên nghiên, đen dần, có mùi khô mộc.

Diễn ngồi ghế nhỏ đối diện. Ta hỏi từng chi tiết. Con đáp. Mắt to hai mí, tóc dài buộc kiểu tân nương biên ải, áo lụa xanh cánh sẻ cổ tròn thấp, mũi thẳng không nhọn, lúm bên trái, trâm bạc có hoa hồng nhỏ ở chóp. Hoa mấy cánh? Diễn nghĩ. “Con… con nhớ năm.” Ta vẽ năm cánh.

Bút lông sói đi chậm hơn bút chì. Ta cắn môi khi đường viền mắt bị lệch, mài lại mực để chấm sửa nét dày. Sáp nến rơi xuống một giọt, cạnh khuỷu tay ta. Nóng chút thôi. Cũng qua nhanh.

Diễn không nói suốt lúc ta vẽ. Chỉ nhìn.

Sau một canh giờ, chân dung thành hình.

Không phải bức đẹp nhất kiếp ta. Ta biết. Ta là bác sĩ nhi, không phải hoạ sĩ. Nhưng đủ. Đủ để một đứa trẻ bảy tuổi nhìn và thấy mẹ mình.

Ta xoay tờ giấy. Đẩy về phía Diễn.

Diễn nhìn tranh. Ba giây im.

Sau đó, không tiếng gì. Chỉ hai giọt nước rơi xuống mép giấy. Lăn theo đường mực chưa khô. Nhoè nhẹ khoé mắt Ngọc Nhược trên tranh, làm mắt bà như đang ướt.

Ta không lau tranh. Không lau mắt Diễn.

Ta chỉ với tay, kéo hộp khăn tay ra khỏi ngăn án. Đặt lên án gần Diễn.

Con cầm khăn. Lau mắt mình. Không lau tranh.

Ba khắc sau, con đứng dậy. Cầm tranh bằng hai tay, sợ nhàu. Cúi đầu chào ta.

“Dì Uyển. Con mang tranh về phòng con. Được không?”

Ta gật.

“Con mang. Muội tiếp tục vẽ chi tiết hơn dần dần. Cần con thêm nhớ, con sang bảo muội.”

Diễn cầm tranh. Ôm sổ tay. Đi ra cửa. Bước rất nhẹ, sợ tuột tay giấy. Rèm cửa vén khẽ, khép lại sau lưng con không tiếng.

Ta ngồi lại bên án. Đèn dầu vẫn cháy. Ninh nhi thở đều trên phản bên cạnh, tay còn nắm con búp bê vải cũ. Ta nhìn con một lúc. Da con hồng lại. Không còn xanh xao như đêm tân hôn.

Ta hạ đầu xuống án. Không khóc. Chỉ để một giọt sáp nến nữa rơi xuống cạnh cùi chỏ ta. Nóng chút thôi.

Đêm ấy, ta không nghe tiếng khóc nào từ phòng bên phải. Không tiếng nghẹn. Không nhịp thở rung. Chỉ có tiếng thở đều của một đứa trẻ bảy tuổi đang ngủ.

Ta để bút xuống. Thổi tắt đèn.

Sáng hôm sau, Trịnh Thúc lang biên ải già đi ngang phòng Diễn, quay lại báo ta trong lúc ta chải tóc:

“Phu nhân. Tiểu công tử đêm qua thắp một nén nhang trên bàn thờ mẹ trong phòng con. Chưa bao giờ tự thắp. Bây giờ trên bàn thờ có tranh nữa.”

Ta gật. Không nói.

Trịnh Thúc chào rồi đi. Ông biết chuyện, không hỏi thêm. Hai mươi năm ông ở phủ Cố, cách của ông là biết mà không nói.

Buổi trưa, ta bồng Ninh ra sân giữa cho con hít nắng. Nắng biên ải mỏng, không ấm như Nam thành. Nhu chạy theo, tay cầm miếng bánh dày bà nội mới cho, mép còn dính bột.

Ta ngước lên cây hoè trăm tuổi giữa sân. Cành khô, không lá. Thân đen sần sùi. Sáng nay có tuyết bám ở chạc ba, chưa tan. Nha đầu bảo ta cây này đầu thu mỗi năm nở hoa vàng nhỏ một tuần, rồi rụng. Chỉ một tuần, cả năm còn lại là khô.

Cố Trường Nguyên đứng ở bậc thềm sân sau. Ta không biết chàng ở đó bao lâu. Chàng nhìn ta bồng Ninh.

Ta cúi chào lễ.

Chàng gật. Không nói. Đi vào thư phòng.

Nhu kéo áo ta.

“Mẹ ơi. Bà nội bảo mẹ vẽ tranh đẹp lắm. Bà nói mẹ vẽ được cả mẹ Nhu. Mẹ có vẽ được không?”

Ta cúi xuống, xoa đầu con.

“Được. Nhưng mẹ vẽ theo con kể. Con kể mẹ Nhu thế nào?”

Nhu ngập ngừng.

“Nhu… Nhu không nhớ nhiều. Nhu hai tuổi mẹ mất. Nhu nhớ mẹ ấm. Nhớ tay mẹ mềm. Nhớ mùi mẹ như hương ướp áo cũ trong tủ bà nội.”

Ta gật.

“Đủ rồi. Mẹ hỏi bà nội thêm. Chiều mẹ vẽ.”

Nhu cười, đưa nốt nửa miếng bánh dày cho ta.

“Mẹ ăn đi. Ngọt.”

Ta cầm. Không ăn ngay. Bánh dày lành lạnh, dẻo. Ta bỏ vào miệng cắn nửa. Ngọt vừa.

Buổi chiều, ta biết chàng đã vào phòng Diễn. Nha đầu quét sân báo: “Tướng quân đứng bên bàn thờ Diễn tiểu công tử một khắc. Không nói gì với tiểu công tử. Ra rồi.”

Ta cầm kim đan. Đôi giày cho Diễn còn nửa. Len xanh, không phải đỏ như hai đôi Ninh và Nhu, vì Diễn là con trai. Trẻ trai biên ải mặc xanh, không phải đỏ.

Ta đan. Kim đan lách chậm.

Bữa cơm tối. Bốn người ăn: ta, Nguyên, Diễn, Nhu. Ninh còn nhỏ ăn cháo phòng bên với nha đầu. Mẹ chồng đang bồi bổ trong phòng bà, một mình bà và nha đầu Cúc Nương.

Nhu bảy tám câu về mèo con vừa đẻ trong bếp phủ. Con kể mèo mẹ tam thể, mèo con hai con vàng một con trắng, con trắng bé nhất, mắt chưa mở. Ta đáp “Nhu à, mèo con còn nhỏ, đừng chạm nhiều, mẹ mèo sẽ sợ.” Diễn im. Nguyên gắp cho Diễn một miếng cá, không nói.

Đến gần cuối bữa, chàng đặt đũa xuống. Quay sang ta.

“Tranh phòng Diễn nhi. Nàng vẽ?”

Ta gật.

“Cảm ơn.”

Ta chỉ cúi đầu.

Không câu tiếp. Chàng ăn nốt bát cơm. Đứng dậy. Đi ra sân sau.

Nhu chạy theo bà nội. Diễn cũng đứng dậy, chào ta “Dì Uyển.” Đi về phòng.

Ta ngồi lại bên mâm. Nha đầu bưng đèn tới. Ta nhìn ánh đèn hắt lên bức mành cửa. Nghe tiếng dế sân sau vọng vào. Đêm biên ải im hơn đêm Nam thành.

Trịnh Thúc sáng hôm sau lại báo ta trong lúc ta đang chọn len đôi ba cho Diễn:

“Phu nhân. Đêm qua tướng quân đứng bên bàn thờ chính của phu nhân cũ ở gian sau. Không thắp nhang. Chỉ đứng. Một canh giờ.”

Ta im ba giây.

“Ông biết chàng làm gì trong bàn thờ ba năm qua không?”

Trịnh Thúc lắc đầu.

“Ba năm qua tướng quân không vào bàn thờ. Ông ấy giao cho tôi và mẹ ông ấy thắp nhang. Đêm qua là lần đầu.”

Ta gật.

Trịnh Thúc chào rồi đi.

Ta ngồi bên án. Cầm kim đan lên.

Ta đan. Kim đan lách chậm. Không nhanh như tuần trước. Có lẽ vì đêm qua ta thức khuya vẽ tranh, mắt hơi mỏi.

Có lẽ vì hôm nay ta thấy chàng đứng bàn thờ vợ cũ một canh giờ, và ta cần thời gian tự hỏi mình có phải là kẻ chen ngang không.

Ta ngày cưới ở Nam thành, ngồi trong kiệu tám ngày đường lên biên ải, không nghĩ đến cảnh chồng mình có vợ đã mất đứng ở bàn thờ. Ta chỉ nghĩ đến gánh tân nương làm dâu ba năm mới quen phủ mới. Không nghĩ đến gánh vợ kế thay thế một người đã đi.

Nhưng ta lắc đầu. Ta không chen ngang. Ta không thay. Chân dung Ngọc Nhược đang trên bàn thờ Diễn, không phải xoá đi. Là thêm vào.

Ta gật một lần cho chính mình. Tiếp tục đan.

Ngày thứ mười bốn từ tân hôn, có khách đến phủ.

Cố Trường Kinh, em trai Nguyên, hai mươi tám tuổi, phó tướng biên ải cửa quan phía tây. Cưỡi ngựa một mình, giáp da nâu, tóc buộc gọn, dáng cao gần bằng anh nhưng nhẹ hơn. Mặt Kinh có nếp cười ở khoé mắt, không có ba sợi bạc thái dương như anh.

Kinh đến sân trước, xuống ngựa, cười lớn khi thấy ta ra đón.

“Chị dâu! Anh nói chị dâu là đích nữ Thẩm gia Nam thành, ta tưởng thấy hoa mẫu đơn. Không ngờ thấy hoa mai.”

Ta cúi chào.

“Chú Kinh. Muội chỉ là mai nhỏ biên ải.”

Kinh cười to.

“Được! Chị dâu nói chuyện có duyên. Anh đâu?”

“Tướng quân trong thư phòng.”

Kinh đi vào. Ta theo sau. Chàng cùng anh nói chuyện quân sự khoảng nửa canh giờ, ta ngồi bên rót trà. Không hiểu hết, nhưng nghe được: Bắc Địch phía đông cửa quan gần đây tràn nhiều lần. Có thể trong tháng phải điều thêm quân.

Kinh gắp một miếng bánh dày ta bưng ra. Ăn nhanh, không giữ lễ như anh mình.

“Bánh chị dâu tự làm?”

“Muội chỉ hấp lại. Bà nội đưa bột từ Nam thành.”

Kinh gật gù. Rồi bỗng đặt bánh xuống, sắc mặt nghiêm hơn.

“Chị dâu. Có việc ta muốn nói với chị và anh cùng lúc. Dì Vân Kỳ tuần sau đến. Bà nói với mẹ ta bà muốn đến chúc mừng tân hôn muộn. Anh biết chưa?”

Nguyên đặt chén trà xuống. Sắc mặt lạnh một khắc.

“Ta biết. Bà muốn cưới Vũ nhi vào phủ ta làm thứ thiếp. Ta đã từ chối ba lần.”

Kinh gật.

“Ba đến nay là bốn. Bà không bỏ. Chị dâu, chị nên biết. Dì không phải ác. Chỉ tham. Bà lo tài sản Cố gia rơi vào tay ngoài dòng nếu anh không có kế thất trong dòng. Bà đã tính năm năm nay rồi. Từ khi cha ta mất.”

Ta gật. Không đáp.

Nguyên: “Kinh. Nàng ấy nghe rồi. Đủ.”

Kinh chào cả hai, đi ra. Nguyên tiễn em ra sân trước.

Ta ngồi lại thư phòng. Nhấp một ngụm trà đã nguội. Nghĩ về dì.

Không phải ác, chỉ tham. Ta có thể xử tham. Tham thì có lý, có chỗ, có giới hạn. Ác mới khó, ác không lý, không chỗ, không giới hạn.

Nhưng tham hạ thấp một tân nương lạ nhà cho con gái mình vào, cũng đủ khó chịu.

Ta chờ.

Ta chờ đến canh tuất. Diễn đã ngủ. Nhu đã ngủ ở phòng bà nội. Ninh đã ngủ bên phản ta, tay còn nắm con búp bê vải cũ. Ta ngồi bên án, cầm kim đan tiếp giày Diễn. Đôi thứ ba, gần xong ngón cái.

Có tiếng bước chân ngoài hành lang. Nặng. Không nhanh, không chậm.

Rèm cửa vén nhẹ. Cố Trường Nguyên đứng ở khung cửa phòng ta.

Lần đầu chàng đứng ở cửa phòng ta ban đêm sau đêm tân hôn.

Chàng không vào. Chỉ dừng bên khung.

Áo bào đen. Tay không, không cầm gì. Mắt hẹp, sắc, nhưng khoé mắt phải mềm hơn một khắc so với ngày trước.

Giọng chàng thấp, không lạnh:

“Uyển An. Dì ta đến, nàng cẩn thận. Bà không dễ. Nàng không cần đối đầu. Có ta.”

Ta hạ kim đan xuống. Cúi đầu.

“Vâng.”

Chàng đứng thêm ba giây. Rồi quay đi.

Rèm cửa rung nhẹ.

Bước chân xa dần về phía thư phòng cạnh. Nghe tiếng cửa gỗ khép nhẹ, không đóng mạnh.

Ta ngồi im. Kim đan trong tay, chưa cầm lại.

Ngoài rèm cửa, tuyết vẫn rơi. Sột soạt trên mái ngói, đều, chậm. Đèn dầu bên án ta cháy leo lét, sắp cạn dầu.

Ta cầm kim lên. Tiếp tục.

Xong đôi này, ba con có ba đôi. Ninh đỏ. Nhu đỏ. Diễn xanh.

Sau đó ta đan gì?

Đôi thứ tư cho ai?