Ta Xuyên Thành Vợ Kế Của Tướng Quân Goá
Chương 5: Chàng Đi Biên Ải
Ngày mười lăm sau tân hôn, dì Cố Vân Kỳ đến.
Ta đang ngồi trong sân giữa, dưới gốc hoè trăm tuổi, dạy Nhu vẽ hoa. Bút lông trong tay Nhu nghiêng ba mươi độ, mực đen chấm lên giấy dâu thành một cánh hoa vuông vắn không giống hoa. Ta cười. Không sửa.
“Nhu à. Cánh hoa mỏng lắm. Con nhẹ tay hơn nữa.”
Nhu năm tuổi gật. Cầm bút lại. Lần này cánh hoa gần tròn hơn một chút.
Ngoài cổng phủ có tiếng người báo. Nha đầu chạy vào, quỳ nửa: “Phu nhân. Dì Cố Vân Kỳ đến.”
Ta ngước lên. Cây hoè trên đầu ta cành khô, đen, không lá. Tuyết đã tan bớt hai ngày nay. Nhưng gió còn buốt.
Ta đứng dậy. Phủ áo bông lại cho Nhu. Dắt tay con vào sảnh.
Cố Vân Kỳ bước vào từ cửa chính. Bốn mươi bốn tuổi, dáng cao gầy, mặc lụa xanh dày, cổ áo có thêu chỉ vàng. Tóc bà bới cao, cài trâm bạc. Sắc mặt phấn dày, mắt sắc, môi mỏng. Sau lưng bà hai nha đầu bưng hộp lễ và kiệu nhỏ đã đặt ở sân trước.
Bà chào mẹ chồng ta bằng câu thân thiết như em ruột chào chị:
“Chị dâu. Em nghe nói cháu Trường Nguyên cưới lại rồi. Em không đến sớm được vì đường nam Lâm huyện tuyết dày. Nay đến muộn, chị đừng trách.”
Mẹ chồng đáp lễ nhẹ. Bà năm mươi lăm tuổi, vẫn còn yếu sau đợt bệnh nửa tháng, nhưng ngồi trên ghế chính. Ta đứng bên bà.
“Vân Kỳ. Ngồi đi. Đường xa mệt.”
Dì Vân Kỳ ngồi. Rồi ngước lên nhìn ta. Ánh mắt chậm. Không giấu.
“Đây là Uyển An à. Con nam thành Thẩm gia.”
Ta cúi đầu chào lễ: “Muội chào dì.”
Dì cười. Cái cười khoé môi kéo dài, mắt không cười theo.
“Uyển An à. Ta là dì Vân Kỳ. Cố Trường Nguyên là cháu ruột ta, ta lo cho cháu từ hồi cháu bảy tuổi. Con mới đến, chưa quen phong tục biên ải. Có gì ta chỉ.”
Ta nghe rồi. Bà không đến chào. Bà đến giám sát.
Ta lễ độ đáp: “Cảm ơn dì. Muội mới đến. Còn học nhiều.”
Không đối đầu. Chưa cần.
…
Ba ngày dì Vân Kỳ ở phủ.
Ngày thứ nhất, dì đến phòng Ninh khi ta đang cho con ăn cháo trưa. Cháo cà rốt ninh xương gà, ta cắt cà rốt nhỏ như hạt gạo cho Ninh dễ nuốt. Dì đứng ngoài cửa, nhìn một khắc, rồi nói vọng vào:
“Uyển An à. Trẻ hai tuổi ăn cháo cà rốt là hư dạ. Phải cho ăn cháo thịt lợn ninh mềm. Cà rốt lạnh bụng, con biên ải không hợp.”
Ta đang bón thìa cháo vào miệng Ninh. Ninh nuốt. Nhìn ta. Miệng còn dính chút cà rốt vàng.
Ta không cãi. Cãi một dì cả tuổi mẹ chồng trong nhà chồng, mất một điểm. Ta chỉ đáp:
“Vâng, dì. Muội sẽ đổi bữa tối.”
Bữa tối ta vẫn cho Ninh cháo xương gà cà rốt. Dì Vân Kỳ ăn với mẹ chồng ở sảnh chính, không sang phòng Ninh.
Ngày thứ hai, dì đến khi ta đang dạy Nhu vẽ. Nhu năm tuổi mê vẽ, ba ngày nay vẽ đã ra hình. Dì đứng nhìn năm khắc, rồi lắc đầu:
“Cô gái năm tuổi học vẽ tranh là lãng phí. Phải học thêu. Sau này gả chồng còn phải may áo cho phu quân.”
Nhu bé nhỏ. Má bánh bao. Nghe không hiểu hết, ngước lên nhìn ta.
Ta xoa đầu Nhu. Đáp dì bằng giọng bình:
“Vâng, dì. Nhu còn nhỏ. Học vẽ trước, học thêu sau. Không muộn.”
Dì Vân Kỳ nhìn ta ba giây. Không nói thêm. Đi.
Buổi chiều dì ngồi với mẹ chồng ở sảnh. Ta đi ngang, nghe được nửa câu:
“Chị dâu. Vũ nhi con em đã hai mươi tuổi, chưa gả. Chị dâu biết Vũ ngoan ngoãn từ nhỏ. Nếu cháu Trường Nguyên cưới Vũ làm thứ thiếp, gia sản Cố gia không rơi vào tay người…”
Mẹ chồng cắt:
“Vân Kỳ. Ta chọn Uyển An là chọn chính thất. Không có chỗ cho thứ thiếp. Trường Nguyên đã từ chối ba lần, ngươi còn nói.”
Dì im. Ta đi tiếp. Không dừng.
Bà đến để ép. Không phải để chào.
…
Đêm ngày thứ hai, tướng quân nhận thư biên ải.
Ta đang chải tóc trong tân phòng. Đèn dầu leo lét trên án. Bên phản nhỏ, Ninh đã ngủ, tay ôm con búp bê vải cũ mẹ nó tự may. Ngoài rèm có tiếng bước chân nặng.
Cửa mở. Cố Trường Nguyên bước vào. Áo giáp đen còn hơi tuyết chưa gỡ. Sắc mặt lạnh hơn ngày thường.
Ta đứng dậy. Chàng chỉ tay bảo ngồi.
“Uyển An. Ta có việc.”
Ta ngồi. Chàng đặt trên án một cuộn giấy sáp niêm phong bằng ấn đỏ. Chàng không mở. Chỉ nói:
“Bắc Địch tràn qua cửa quan phía đông ba đêm nay. Ta phải đi biên đài đông ngay sáng mai. Ba tháng.”
Ba tháng.
Ta nghe. Không đáp ngay. Đầu ta chạy nhanh: mẹ chồng còn yếu, ba con nhỏ, dì Vân Kỳ chưa đi, ta mười tám tuổi kiếp này, hai mươi lăm tuổi kiếp trước. Ba tháng biên ải mùa đông không có tướng quân trong phủ.
Ta chỉ hỏi một câu, giọng đều:
“Ba tháng chàng có về thăm không?”
Nguyên lắc đầu: “Không. Đi là đi. Về là hết chiến.”
Ta gật. Vậy ba tháng ta lo.
Chàng đứng bên án. Không ngồi. Nhưng cũng không đi. Ba năm chàng không vào tân phòng ban đêm. Đêm nay là lần đầu.
Chàng lấy trong tay áo ra một hộp gỗ nhỏ. Gỗ đàn, đen bóng, khắc hoa mai chìm bốn cánh trên nắp. Đặt lên án.
“Uyển An. Cái này. Nàng mở khi ta đi. Không mở bây giờ.”
Ta nhìn hộp. Không cầm.
“Vâng, tướng quân.”
Chàng nhìn ta thêm ba giây. Khoé miệng chàng động một cái, như định nói gì. Không nói. Chỉ dặn cuối:
“Nàng lo nhà. Dì có ở phủ, không đuổi được, bà là em cha ta. Nếu bà làm gì quá đáng, nàng cứ nhờ mẹ ta ra mặt. Mẹ đã khoẻ hơn. Ta về.”
Chàng quay lưng. Bước ra. Rèm cửa rung một cái, im.
Ta ngồi bên án. Nhìn hộp gỗ. Chưa mở.
Trên phản nhỏ, Ninh nhi trở mình. Miệng con bập bập bập, gọi trong mơ: “Ma…”
Ta đứng dậy. Kéo chăn đắp lại cho con. Da con ấm bình thường. Không sốt.
Ta ngồi lại bên án. Tay đặt lên hộp gỗ. Chưa mở.
…
Sáng sớm canh mão ngày mười tám, cả nhà tiễn tướng quân.
Trời còn tối. Tuyết trên mái đã đóng cứng. Sân trước Cố phủ có hai mươi lính vệ chờ. Ngựa chiến của Nguyên đen tuyền, cao lớn, thở phì phò khói trắng.
Mẹ chồng đứng đầu. Ta đứng sau nửa bước. Nhu và Diễn đứng bên ta. Ninh ta bồng trên tay, cuốn chăn dày.
Nguyên khoác áo choàng đen, đeo kiếm dài bên hông. Chàng đến trước mặt mẹ chồng, quỳ nửa:
“Mẹ. Con đi.”
Mẹ chồng gật. “Đi thận trọng.”
Chàng đứng dậy. Đến trước Nhu. Xoa đầu con: “Ngoan.”
Nhu ôm chân chàng ba giây. “Cha về sớm nghe cha.”
Đến trước Diễn. Diễn bảy tuổi. Không ôm cha. Chỉ cúi đầu. Nguyên cũng chỉ đặt tay lên vai con một cái, không nói.
Đến trước Ninh trong tay ta. Chàng đưa tay chạm má con. Ninh mở mắt, nhìn cha, chưa hiểu, lại nhắm.
Cuối cùng, đến trước ta.
Ba giây. Chàng nhìn ta. Ta nhìn chàng. Không dì Vân Kỳ đâu, bà đang ngủ trong phòng khách chưa dậy.
Chàng gật đầu một cái. Không nói. Quay đi.
Lên ngựa. Vụt đi. Hai mươi lính vệ theo sau. Tuyết dưới vó ngựa văng lên trắng.
Ta đứng ở cổng phủ, bồng Ninh trong tay. Nhìn theo cho đến khi đoàn ngựa mất trong sương biên ải.
Nhu kéo áo ta: “Mẹ ơi, lạnh.”
Ta gật. Bồng Ninh, dắt Nhu, đưa Diễn vào phủ.
…
Đêm ngày mười tám, ta mở hộp gỗ.
Ta ngồi bên án. Đèn dầu vặn cao hơn thường ngày. Ngoài cửa tuyết lại rơi, sột soạt trên mái ngói. Ninh ngủ trên phản nhỏ. Ta thả rèm phòng.
Nắp hộp mở. Bên trong lót lụa đỏ nhung.
Trên lớp lụa, một vòng cổ nhỏ.
Ngọc trắng nguyên khối, không tì vết, khắc chìm sáu cánh hoa mai. Dây tơ đen bện chặt, đầu buộc bằng nút mã não đỏ. Bên cạnh vòng cổ có một tấm thẻ gỗ nhỏ. Trên thẻ chàng khắc ba chữ bằng dao nhọn: Cố gia truyền.
Ta biết vật này.
Ba năm nay ở phủ, ta nghe mẹ chồng nhắc một lần: ngọc bội hoa mai sáu cánh là gia truyền dòng Cố, truyền cho chính thất mỗi đời. Bà nội chàng đeo lúc trẻ. Mẹ chàng đeo suốt bốn mươi năm. Vợ cả chàng, Lâm Ngọc Nhược, đeo ba năm rồi chết. Sau đó vòng cổ cất trong hộp gỗ đàn, không ai đeo.
Bây giờ chàng để trên án ta.
Ngọc bội thắt lưng hán phục · phong cách cổ điển
237.826đ
Xem chi tiết →Ta cầm vòng cổ. Ngọc mát trên đầu ngón tay. Sáu cánh hoa mai chìm không lộ đường viền, phải nghiêng ánh đèn mới thấy.
Chàng không nói. Chỉ để đây.
Chàng không tuyên bố tình cảm. Chỉ đặt vòng cổ trên án. Nhưng ngọc bội gia truyền không phải đồ trang sức. Là danh phận. Là câu chàng không nói thành lời: nàng là chính thất Cố gia. Không phải kế thất tạm.
Ta cầm vòng cổ ba khắc. Không đeo.
Đêm nay chưa đeo. Ta không rõ vì sao. Có lẽ vì đây là danh phận chàng gửi, ta muốn xứng đáng trước khi mang. Có lẽ vì ta còn nhớ Lâm Ngọc Nhược đã đeo ba năm.
Ta đặt vòng cổ lại vào hộp. Cất lụa. Đóng nắp. Đặt hộp lên án, không giấu.
Đêm khuya biên ải, tuyết rơi đều. Ta thổi tắt đèn dầu, sang phản, nằm bên Ninh nhỏ.
…
Hai ngày nữa, dì Vân Kỳ chưa đi.
Mẹ chồng đã ép dì ở lại: “Cháu vắng nhà. Có dì làm bạn với dâu mới. Vân Kỳ ở thêm mấy hôm.”
Dì Vân Kỳ nhận. Cười. Nhưng ta biết bà không ở vì tình chị em. Bà ở để đợi cơ hội.
Ngày mười chín, ta thấy bà đến phòng Ninh hai lần trong buổi trưa. Lần thứ nhất, bà vào cầm bát cháo đang ăn dở của Ninh lên, nếm một thìa nhỏ, rồi đặt xuống, khen: “Nha đầu bếp Cố phủ nấu cháo khéo.”
Ta thấy. Không nói gì. Chỉ ghi trong đầu: bà nếm cháo trẻ.
Lần thứ hai, bà mang một bát cháo mới do chính bà bảo nha đầu của bà nấu, đặt bên phản Ninh, nói: “Uyển An à. Dì làm chút cháo Cố gia truyền. Trẻ hai tuổi ăn ngon. Con thử.”
Ta gật. Đợi bà đi.
Ta cầm bát cháo. Nhìn màu. Trắng đục bình thường. Ngửi. Mùi gạo và mùi tương nhạt. Không có gì lạ.
Không có gì lạ. Hay ta nghi quá?
Ta múc một thìa cho Ninh. Ninh ăn. Nuốt.
Ninh ăn được nửa chén. Đặt thìa xuống, quay mặt đi. Con không ăn nữa. Tay ôm bụng nhẹ.
Ta chạm trán Ninh. Không sốt.
Nhưng con đau bụng.
Trẻ hai tuổi đau bụng không nói được. Chỉ biết ôm.
Ta lo. Nhưng chưa nghi cháo. Con biên ải mùa đông, bụng dạ yếu, ăn trưa lạnh có thể đau bụng thường.
Ta bế Ninh dậy, day bụng con nhẹ theo vòng thuận. Ninh không khóc. Chỉ nằm im trong tay ta.
…
Ngày hai mươi.
Ta ngồi trong phòng Ninh, đan giày cho Diễn. Đôi thứ ba, gần xong. Len xanh cỡ chân con trai bảy tuổi, đường đan ta đã thạo. Kim đan lách cách nhẹ trong tay.
Nhu ngồi bên chân ta, học vẽ hoa hoè trên giấy dâu. Vẽ đến cành thứ tư thì Nhu ngước lên, hỏi:
“Mẹ ơi, mai bà nội cho Nhu ăn bánh dày nhân đường phèn không?”
“Nhu ăn cháo hết, bà nội cho.”
“Vâng.”
Ninh nằm trên phản, hôm nay ăn cháo dì Vân Kỳ tự tay bưng đến. Dì đứng bên phản, cười với Ninh: “Ninh nhi cưng nhất của dì. Ăn ngoan.”
Ta liếc bà một cái, không nói.
Ninh ăn được nửa chén. Bỏ thìa. Ôm bụng lần nữa. Khóc quấy nhẹ.
Ta chạm trán con. Không sốt.
Nhưng đau bụng.
Hai lần trong hai ngày. Cùng một triệu chứng. Sau cùng một bát cháo.
Đầu ta gõ nhẹ. Bác sĩ nhi kiếp trước, tám năm kinh nghiệm phòng cấp cứu: trẻ dưới ba tuổi đau bụng sau ăn hai lần liên tiếp, cùng nguồn, không có triệu chứng khác… phải nghi thức ăn.
Ta không nhìn dì. Ta nhìn chén cháo.
Còn nửa chén, cháo trắng đục, không có gì bất thường trên bề mặt.
Ta cầm thìa. Múc một muỗng nhỏ. Đưa lên miệng.
Trong đầu ta không có sợ. Chỉ có phản xạ nghề.
Đầu lưỡi ta chạm cháo.
Hai giây.
Ta biết.
Không phải vị cháo gạo tương thường. Có một vị chìm bên dưới, đắng, không phải mật cá, không phải rau đắng. Đắng lạ. Đắng của thảo dược.
Ta để cháo trên đầu lưỡi thêm ba giây. Không nuốt. Ta rà nhanh qua các vị đắng thảo dược từng biết: hoàng liên đắng gắt lên miệng ngay. Khổ sâm hoa đắng chậm, lan xuống họng sau ba giây, có hậu hơi ngọt. Bồ công anh đắng thanh, không lan.
Vị này lan chậm. Có hậu ngọt.
Khổ sâm hoa.
Ta nhổ cháo xuống chén hoa văng bên án. Súc miệng bằng chén nước ấm.
Ninh vẫn ôm bụng trên phản. Khóc quấy nhẹ.
Ta bế con dậy. Không nhìn dì Vân Kỳ. Giọng ta bình:
“Ninh nhi đau bụng. Muội đưa con đi giặt tay.”
Ta bước ra khỏi phòng. Dắt Nhu theo.
Ra đến sân sau, ta gọi quản gia phu nhân họ Lang, vợ của Trịnh Thúc, người quản phòng bếp phủ Cố. Bà năm mươi tư, hiền. Ta đưa Ninh cho bà:
“Bà theo dõi Ninh nhi hai canh giờ. Cho uống nước ấm nhiều. Không cho ăn gì thêm cho đến khi muội quay lại. Nếu con đi cầu nhiều lần, bà báo muội ngay.”
Bà Lang gật, không hỏi. Bế Ninh vào phòng bà.
Ta đứng ở sân sau. Tuyết lại bắt đầu rơi lất phất. Trên vai áo ta có ba hạt tuyết nhỏ.
Khổ sâm hoa liều nhỏ. Cho người lớn chỉ khó chịu bụng. Cho trẻ hai tuổi mới hồi sốt cao mười ngày trước…
Ta không dám nghĩ tiếp.
Ta quay lưng, bước về phòng Ninh. Dì Vân Kỳ vẫn ở đó. Ta phải đối mặt.
Nhưng trước khi ta bước vào cửa, có tiếng bước chân nhỏ sau lưng ta. Ta quay lại.
Diễn bảy tuổi. Đứng cách ta ba bước. Trong tay cầm một tờ giấy dâu gấp tư. Con nhìn ta. Mắt con đen, không chớp.
“Dì Uyển.”
Con hạ thấp giọng, như sợ dì Vân Kỳ trong phòng nghe:
“Con thấy dì bỏ bột vào chén cháo Ninh. Sáng nay. Sau khi bà đi ra khỏi bếp.”
Ta đứng yên. Đầu lưỡi ta còn vị đắng chưa tan.