Ta Xuyên Thành Vợ Kế Của Tướng Quân Goá

Chương 6: Bột Đắng Trong Cháo

Đầu lưỡi ta còn vị đắng.

Không phải rau đắng. Không phải mật cá.

Ta ngồi trong phòng Ninh, chén cháo trong tay còn nửa. Ninh nằm trên phản ôm bụng. Con không khóc to. Chỉ rên. Nhu năm tuổi ngồi bên chân ta, tay còn cầm cây bút vẽ hoa hoè, mắt tròn nhìn em.

Dì Cố Vân Kỳ đứng cách phản Ninh ba bước. Áo lụa xanh, tay áo dài. Nét mặt bình thản như người vừa bưng chén cháo lành đến cho cháu.

Hai giây trên đầu lưỡi. Ta biết.

hoàng liên. Hoặc khổ sâm. Vị đắng đầu lưỡi rồi kéo về cuống họng, không tan ngay. Bột thảo dược, không phải rau. Y sư dùng chống trùng bụng người lớn. Liều nhỏ cho trẻ hai tuổi vừa hồi sốt cao… không giết ngay. Nhưng đủ khiến con tiêu chảy. Đủ khiến con mất nước. Con Ninh đang yếu.

Sáu canh giờ. Có thể sốc. Có thể chết.

Ta đặt thìa xuống chén. Từ từ. Không tiếng.

Trong lòng ta không dâng lên cơn giận nào lớn. Chỉ có một cái gì đó lạnh dần từ ngực xuống bụng. Bác sĩ nhi kiếp trước đã đứng bên phản cấp cứu nhiều đêm. Một phản xạ cũ trồi lên: đầu lạnh trước, tay nhanh sau.

Ta bồng Ninh dậy. Con mềm oặt. Ta chạm trán con. Không sốt. Nhưng môi con khô, tay con nắm chặt vạt áo ta.

“Ninh nhi đau bụng nhẹ. Muội đưa con đi giặt tay chút.” Ta nói với dì. Giọng đều. Không cao, không thấp.

Dì Vân Kỳ gật: “Con nhỏ ăn nhanh, dễ đau. Uyển An chăm cẩn thận.”

Ta gật đáp lễ. Bồng Ninh ra khỏi phòng. Nhu chạy theo, tay còn cầm bút.

“Nhu à, con ở đây với dì Vân Kỳ.” Ta dừng lại. Cúi xuống Nhu. Giọng ta mềm hẳn: “Con vẽ tiếp hoa hoè cho mẹ xem. Mẹ đưa em một lát rồi về.”

Nhu gật. Ngoan. Chạy vào lại phòng.

Ta bồng Ninh ra sân sau. Đến bếp. Quản gia phu nhân họ Lang, vợ Trịnh Thúc, đang ninh xương gà. Ta đưa Ninh cho bà.

“Bà Lang. Ninh nhi đau bụng nhẹ. Nghe muội.” Ta nói nhỏ, gần tai bà. “Bà theo dõi con hai canh. Cho uống nước ấm liên tục, mỗi khắc nửa chén. Có chút muối, không nhiều. Không cho ăn gì thêm. Nếu con đi ngoài, đếm số lần cho muội. Nếu con hôn mê hoặc mắt lờ đờ, kêu muội ngay.”

Bà Lang là người biên ải lâu năm, không hỏi. Chỉ gật: “Vâng phu nhân. Con bồng bé về phòng con giữ.”

Ta gật. Nhìn Ninh lần nữa. Con nhắm mắt.

Ta quay đi. Về phòng Ninh.

Trên đường, ta bước qua sân giữa. Cây hoè trăm tuổi đứng im, cành khô đen. Không hoa. Không lá. Chỉ thân sần sùi ngước lên trời mùa đông. Ta đi qua. Không dừng.

Vào lại phòng. Dì Vân Kỳ vẫn ngồi bên án của Ninh. Nhu ngồi dưới đất, vẽ hoa. Chén cháo còn trên án.

Ta ngồi xuống ghế bên án. Cầm chén cháo. Nhìn dì.

“Dì à.” Giọng ta vẫn nhẹ. Không đối đầu. “Chén cháo này. Cách nấu… không giống muội thấy trước.”

Dì Vân Kỳ ngẩng đầu. Mắt hơi nheo: “Nam thành khác biên ải. Ta nấu theo cách Cố gia truyền. Bà Ngọc Nhược lúc còn sống cũng nấu vậy cho Ninh nhi khi con ba tháng.”

Ta cầm chén, đưa lên mũi. Ngửi. Không có mùi đặc trưng lạ, chỉ mùi gạo và thịt lợn ninh. Đắng nhẹ, không nồng.

“Muội hiểu.” Ta đặt chén xuống. “Nhưng vị đắng đặc biệt. Như có bột hoàng liên. Hoặc khổ sâm. Hai loại này y sư dùng chống trùng bụng người lớn. Liều nhỏ cho trẻ hai tuổi cần cẩn thận.”

Dì Vân Kỳ khựng nửa giây. Chỉ nửa. Sau đó cười nhẹ: “Uyển An biết thảo dược cơ à? Nam thành có dạy tân nương chuyện này?”

“Không dì. Nhà muội có sách y cũ. Muội đọc lúc rảnh.” Ta nhìn thẳng bà. “Muội xin dì chỉ loại bột dì cho. Muội muốn ghi vào sổ dinh dưỡng của Ninh nhi. Con mới hồi sốt, cần biết cái gì hợp cái gì không.”

Nhu năm tuổi ngước lên, không hiểu. Con quay lại vẽ hoa.

Dì Vân Kỳ đặt tay lên đùi. Ngón tay bà đeo một chiếc nhẫn ngọc lục. Bà xoay nhẫn một vòng.

“Ta chỉ nấu cháo thường. Nếu Uyển An nghi ta bỏ độc, ta không ngồi đây được.”

“Muội không nghi dì bỏ độc.” Ta nói. Vẫn nhẹ. “Muội chỉ hỏi tên bột. Nếu dì không nhớ, muội xin gặp đầu bếp phủ. Chị Trương nấu bếp Cố gia mười lăm năm, chắc chị biết.”

Dì Vân Kỳ đứng dậy. Sắc mặt bà không trắng. Nhưng cổ họng bà nuốt một cái. Ta thấy.

“Ta mệt. Về phòng ta.” Bà đi ba bước, dừng ở cửa. Không quay lại. “Uyển An à. Nam thành nhỏ. Cố phủ biên ải lớn. Có chuyện con chưa hiểu, đừng vội hỏi.”

Bà đi.

Ta ngồi. Không đứng dậy. Nhu vẫn vẽ dưới chân ta. Con vẽ hoa hoè theo trí nhớ, hoa vàng năm cánh. Bút mực chạm giấy dâu, kêu sột soạt.

Ta cầm chén cháo. Không đổ. Không rửa. Cần giữ.

Ta đưa Nhu về phòng bà nội. Bà đang ngồi bên án đọc kinh Phật. Bệnh liệt giường hai tuần trước đã qua. Bà đã dậy được. Tay còn hơi run nhưng mắt sáng.

“Mẫu thân.” Ta chào. Đặt chén cháo lên bàn nhỏ bên bà. Tay ta đặt chén rất nhẹ, sợ tràn.

Bà ngước lên. Nhìn chén. Nhìn ta. Nhìn Nhu.

“Nhu à. Con ra sân chơi với chị Đào một chút. Bà và mẹ Uyển có chuyện nói.”

Nhu gật, chạy ra. Ngoài cửa có tiếng chân trẻ con chạy trên gạch. Sau đó im.

Ta ngồi xuống bên án bà. Không vòng vo.

“Mẫu thân. Chén cháo này dì Vân Kỳ bưng đến cho Ninh nhi. Con vừa ăn nửa chén, đau bụng. Muội nếm. Có bột đắng. Muội đoán hoàng liên hoặc khổ sâm. Liều nhỏ, không giết. Nhưng Ninh nhi đang yếu, có thể mất nước nặng. Muội đã đưa con cho bà Lang giữ hai canh.”

Bà nội cầm chén. Cầm thìa. Múc một muỗng. Nếm.

Bà nếm hai giây. Đặt thìa xuống.

Sắc mặt bà không đổi ngay. Chỉ có một cái gì đó ở khoé mắt bà đông lại. Như nước hồ mùa đông vừa bắt đầu đóng váng.

“Uyển An.” Giọng bà trầm. “Con để đó. Ta xử.”

Ta cúi đầu.

“Vân Kỳ.” Bà nói thêm, không phải với ta, mà với hư không. “Bà ấy là em ruột cha Trường Nguyên. Ta xử được. Không cần con đối đầu.”

“Muội cảm ơn mẫu thân.” Ta đứng dậy chào lễ.

“Con về xem Ninh nhi. Chăm con kỹ. Chiều nay ta gọi Vân Kỳ đến.”

Ta gật. Ra.

Ninh nhi ở phòng bà Lang. Ta vào. Con đã tỉnh, nằm trên phản nhỏ. Bà Lang bồng con ngồi cho uống nước ấm.

Ta chạm trán con. Không sốt. Chạm bụng con. Con nhăn mặt nhẹ, nhưng không giãy. Đau bụng nhẹ, không nặng.

Ta bảo bà Lang: “Bà cho con uống tiếp. Muội ngồi đây.”

Bà Lang đi bưng nước. Ta ngồi bên phản. Bồng Ninh. Con nằm trong lòng ta, tay nhỏ nắm ngón tay ta. Búp bê vải cũ của con nằm bên phản.

Ta nghĩ đến con hai tuổi. Sinh non. Mẹ chết cùng đêm. Ba năm nay lớn được nhờ vú nuôi biên ải và chị Đào ẵm bồng.

Đứa bé này chưa từng biết mẹ. Bây giờ ta ở đây. Được năm hôm hai mươi ngày. Ta chưa kịp làm gì cho con nhiều ngoài đêm cấp cứu đầu.

Ta cúi xuống, hôn trán con.

Con mở mắt hé. Nhìn ta ba giây. Nhắm mắt lại. Ngủ tiếp.

Chiều canh mùi.

Từ phòng mẹ chồng vọng ra tiếng. Không lớn, nhưng rõ trong sân yên.

“Vân Kỳ! Ngươi đến phủ ta nói cưới Tiểu Vũ ba lần. Ta từ chối ba lần. Bây giờ ngươi bỏ bột đắng vào cháo cháu ta! Ninh nhi hai tuổi! Ngươi có còn là em cha Trường Nguyên không?!”

Ta ngồi trong phòng Ninh. Cửa đóng. Không dự.

Tiếng dì Vân Kỳ khóc: “Chị dâu… em không có ý hại Ninh nhi. Em chỉ muốn con Uyển An bị đổ lỗi kế mẫu không biết chăm. Trường Nguyên chán con, mới cưới Tiểu Vũ…”

“Vậy là ngươi có bỏ.” Giọng mẹ chồng lạnh hẳn. “Đi. Đi khỏi Cố phủ đêm nay. Không được đến nữa. Nếu ngươi còn đến, ta báo Trường Nguyên về xử theo gia pháp.”

“Chị dâu…”

“Đi.”

Ta nghe. Không đứng dậy. Ninh trong lòng ta ngủ đều.

Đêm ấy dì Vân Kỳ đi. Không chào ai. Kiệu nhỏ của bà rời cửa Cố phủ lúc canh dậu. Ta ngồi ở phòng Ninh, không ra tiễn.

Trong lòng ta không có hả hê. Chỉ có mệt. Bác sĩ nhi kiếp trước quen phòng cấp cứu, xong ca là về. Ở đây, xong “ca” không về đâu được. Ba con còn đó. Chàng còn ở biên ải hai tháng rưỡi.

Chàng chưa biết. Sáng mai phải viết thư.

Ngày hai mươi mốt sáng, Ninh nhi hồi lại. Bà Lang bù nước cả đêm, chị Đào bồng con ngủ chung. Ta ngủ trong phòng Ninh trên phản nhỏ. Sáng ra con biết ngồi dậy, chỉ tay vào bát cháo mới bà Lang bưng đến: “Ai…”

Ta chạm trán. Không sốt. Mắt con sáng.

Ta thở ra. Lần đầu từ chiều qua.

Sáng đó ta ngồi bên án viết thư cho Cố Trường Nguyên. Câu chữ ta chọn cẩn thận. Không muốn chàng lo quá. Không muốn chàng bỏ trận về giữa chừng. Nhưng cần chàng biết dì đã bị đuổi, và có thể còn trở lại.

Ta viết bốn dòng. Đọc lại. Xé. Viết lại. Xé lại.

Cuối cùng ta cầm bút, tay đã cứng. Ngoài cửa có tiếng bước nhỏ.

Diễn.

Bảy tuổi. Sang phòng ta giữa sáng. Con đứng cách án ba bước. Tay ôm sổ tay gỗ nhỏ, cuốn sổ ta đã trả con sau đêm vẽ chân dung mẹ con.

“Dì Uyển.” Con dừng. Sửa lại: “Mẹ Uyển.”

Ta ngước lên. Tay ta không dời khỏi bút.

Con nói tiếp, giọng nhỏ nhưng đều: “Con biết viết chữ. Con viết thư cho cha, được không?”

Ta ngạc nhiên ba giây.

“Con nghe được chuyện dì Vân Kỳ hôm qua?”

Diễn gật.

“Con nghe ở đâu?”

“Ngoài cửa phòng bà nội. Con đi ngang. Con nghe.”

Ta đặt bút xuống. Nhìn con. Bảy tuổi. Cao trên tuổi. Áo mộc nâu, thắt đai lụa xanh. Mắt đen hai mí giống mẹ con.

“Diễn à. Cha con bận trận. Con viết thư… con muốn cha về?”

Diễn im ba khắc. Sau đó gật một cái.

“Con viết được không?”

“Cha dạy con từ bốn tuổi. Con viết được ba mươi chữ.”

Ta gật. Đưa Diễn giấy dâu ta vừa xé bên án. Đưa bút. Đưa nghiên mực còn ướt.

Con ngồi xuống ghế nhỏ đối diện án ta. Mài mực. Cầm bút. Chấm.

Con viết. Chậm. Từng nét. Không giống chữ trẻ bảy tuổi ta hình dung, giống chữ trẻ tám chín tuổi hơn. Nét thẳng, không run.

Ta không nhìn con viết. Ta quay đi. Cầm kim đan len của mình. Đan tiếp đôi giày Diễn. Đôi thứ ba. Xanh. Còn nửa mũi cuối.

Kim đan trong tay ta. Sột soạt. Sợi len xanh chạy qua ngón cái ta, qua ngón trỏ. Bà ngoại kiếp trước dạy ta đan lúc mười tuổi. Bà nói: đan gì cũng được, nhưng đan giày cho người mình yêu thì đường len đều nhất. Ngày ấy ta cười. Ngày ấy ta không biết ai mình yêu.

Diễn viết xong. Đặt bút. Đọc lại lần một. Lần hai. Không sửa. Đưa ta.

Ta đặt kim xuống. Cầm thư. Đọc.

“Cha ơi. Dì Vân Kỳ hại Ninh nhi bằng bột đắng trong cháo. Mẹ Uyển phát hiện. Bà nội đã đuổi dì đi. Ninh nhi khoẻ lại. Mẹ Uyển mệt. Cha về sớm được không. Con Diễn.”

Ba mươi hai chữ. Chữ nét đều. Câu “Mẹ Uyển” không phải “dì Uyển”. Ta thấy ngay.

Ta không sửa. Không thêm. Không bớt. Ta gấp lại theo đường lằn ba.

Trước khi kẹp phong bì, ta cầm một sợi tóc của mình rơi trên án. Tối qua ta ngủ gục bên án, tóc rơi ra một sợi khi ta đứng dậy. Ta kẹp sợi tóc vào giữa nếp gấp thư.

Diễn nhìn. Không hỏi. Ta giải thích ngắn: “Cha con biết đây là tóc mẹ Uyển. Cha con sẽ tin thư con hơn.”

Con gật. Con hiểu.

Ta đứng dậy. “Con ra sân, gọi bác Trịnh Thúc lên phòng ta.”

Diễn ra. Ta ngồi xuống. Cầm thư trong tay. Nặng hơn dự đoán, dù chỉ một tờ giấy dâu và một sợi tóc.

Trịnh Thúc năm mươi lăm tuổi, râu bạc, mặc áo dạ nâu ấm. Lão đến trong ba khắc.

“Phu nhân gọi con?”

Ta đưa thư. “Bác. Thư của Diễn nhi gửi tướng quân. Bác đi biên đài đông. Ngựa chiến của tướng quân bác đang giữ, đi được. Hai ngày đến. Đưa tay tướng quân, không đưa qua ai khác.”

Trịnh Thúc nhận thư. Không hỏi trong thư gì. Chỉ hỏi: “Có gấp phu nhân?”

“Gấp. Nhưng không phải chuyện sinh tử. Chuyện phủ.”

Trịnh Thúc gật. Cất thư vào trong áo, chỗ ngực gần tim. “Con đi ngay.”

Lão ra.

Ngoài cửa có tiếng ngựa hí. Sau đó tiếng vó rời cổng Cố phủ. Nhanh dần. Xa dần. Tắt trong tiếng gió biên ải mùa đông.

Bốn ngày tiếp. Ta không nghỉ.

Ninh hồi hoàn toàn. Bà Lang giữ con cả ngày. Nhu bám chân ta cả sáng. Diễn ngồi bên án ta buổi tối, không nói nhiều, nhưng ở lại lâu hơn trước.

Ta đan tiếp đôi giày Diễn. Đôi thứ ba. Ngày hai mươi tư đan xong nửa còn lại. Ngày hai mươi lăm chiều, ta khâu mũi cuối, cắt chỉ.

Ba đôi giày.

Ta cầm ba đôi ra bậc cửa phòng Ninh, Nhu, Diễn. Dàn hàng ngang trên bậc. Ninh đỏ nhỏ. Nhu đỏ vừa. Diễn xanh lớn hơn.

Ta đứng nhìn ba đôi một khắc.

Đêm khuya biên ải im lặng. Chỉ tiếng dế trong bụi cỏ khô sau sân, và tiếng thở của Ninh trong phản phòng con.

Ba đôi giày. Ba con.

Ta không đan cho ai nữa. Rổ len đã cạn. Không còn đủ cho đôi thứ tư.

Ta về phòng ta. Ngồi bên án. Không đan nữa. Đèn dầu leo lét. Một giọt sáp vàng rơi xuống đế đèn, đông lại thành hạt nhỏ.

Ta cầm bút. Định viết một danh sách cho tuần sau. Y phục ấm. Thuốc bổ. Cháo gà cho Ninh. Bài học chữ cho Diễn.

Bút chạm giấy. Không viết được. Tay ta cứng. Cổ ta trĩu xuống.

Đến canh dần, ta gục đầu trên án. Ngủ. Không kịp về phản. Tóc rơi xuống mặt giấy dâu. Bút lăn khỏi tay, chạm bên án, không kêu.

Đèn dầu leo lét. Cháy đến canh mão thì tắt.

Ngoài cửa, tuyết đầu mùa vẫn rơi trên mái ngói phủ Cố. Nhẹ. Đều. Không có ai đánh thức ta.