Xuyên Thành Thứ Nữ Đêm Bị Ném Xuống Giếng
Chương 3: Trở Về Phủ
Ta bước vào cửa phủ, tóc còn hơi ẩm.
Ngu thị đứng trong đại sảnh. Sắc mặt bà đông lại trong nửa giây.
Ta thấy. Ta ghi. Bằng chứng gián tiếp số một, mười lăm năm luật sư hình sự dạy ta không được bỏ qua nét thoáng nào trên mặt nghi phạm khi họ tưởng bí mật đã kín.
Ta quỳ xuống. Khóc.
Nước mắt thật, không phải diễn. Kiếp trước ta cũng khóc được khi cần trước bồi thẩm đoàn. Kiếp này nước mắt nhanh hơn, vì thân xác này của một đứa mười bảy tuổi vừa suýt chết đêm qua trong nước lạnh cắt xương.
“Mẹ…”
Ngu thị bước xuống ba bậc. Áo tơ đào của bà chưa vấn kỹ. Bà đến sớm, không kịp trang điểm. Bà đợi tin trong phủ suốt canh dần.
Bà đỡ ta dậy. Tay bà ấm. Tay của một người đàn bà bốn mươi lăm tuổi ngủ đủ giấc đêm qua sau khi ném con gái đích chồng xuống giếng.
“Con…”
“Mẹ. Con đêm qua vô ý trượt chân xuống giếng cạn sân sau. May có người đi ngang qua nghe cứu. Con vừa ngước lên đã ngất. Người ta đưa con về Chu vương phủ dưỡng nửa đêm rồi cho kiệu về. Bảo không cần cảm ơn.”
Ba câu. Ta luyện trong kiệu chín lần. Không thừa nửa chữ, không thiếu.
Ngu thị ôm ta vào lòng. Ba giây. Ta đếm.
“Con gái tội nghiệp. Chắc con mê man ngã xuống. Sau này đêm khuya không ra sân sau nữa nghe không.”
“Vâng.”
Bà kéo ta dậy, gạt tóc rối trên trán. Ánh mắt bà dừng ở cổ ta.
Dây chuyền hạt châu đỏ vẫn còn. Mười hai hạt. Hạt số bảy hơi ấm hơn mười một hạt kia, ta cảm được qua da. Mẹ Vệ thị đưa ta năm sáu tuổi, dặn ta đợi.
Ngu thị nhìn hai giây. Không nói. Buông tay.
“Về phòng nghỉ đi. Đài Nhã. Chăm cô nương cẩn thận. Có gì báo ngay ta.”
Đài Nhã đứng ở góc sảnh. Cúi đầu. “Dạ.”
Ta biết. “Báo ngay ta” là câu ra lệnh Đài Nhã báo cáo ngược lại Ngu thị. Bà vẫn chưa tin. Bà đang chơi ván bài kép, một tay ôm ta, một tay giăng lưới.
Không sao. Ta chơi ván bài ba tay.
Ta theo Đài Nhã ra khỏi đại sảnh. Sau lưng, Ngu thị đứng lặng bên cột. Ta không quay đầu, nhưng ta biết bà nhìn lưng ta suốt tới khi ta khuất qua rèm cửa.
Về phòng, ta đóng cửa. Gỗ kêu một tiếng nhẹ. Ta chốt then.
Đài Nhã đứng bên án, run. Nha đầu mười lăm tuổi, mặt tròn, mắt đỏ. Đêm qua nàng khóc thâu canh.
“Tiểu thư…”
“Ngồi xuống.”
Đài Nhã ngập ngừng. Nha đầu không được ngồi trước mặt chủ. Ta chỉ ghế đối diện.
“Ngồi.”
Đài Nhã ngồi. Hai tay đặt lên đầu gối, cứng như một mảnh gỗ mới cưa.
Ta nhìn nàng. Trong óc ta bảng đánh giá nhân chứng của luật sư bật ra: động cơ trung thành với ai, khả năng giữ miệng, và một điều thứ ba lần này ta phải xét riêng. Kỹ năng riêng. Nàng có võ. Diễn Chi để ý sáng nay khi đưa kiệu ta ra cửa Chu vương phủ. Chàng đưa ta hai chữ trước khi ta lên kiệu: “Nha đầu tấn.”
Ta test.
“Nhã.”
“Dạ.”
“Ngươi có võ. Ai dạy?”
Đài Nhã trợn mắt. Mặt tròn của nàng nhợt đi. Chín năm giấu, bây giờ bị hỏi thẳng, phản xạ đầu tiên là chối.
“Tiểu thư… con không…”
“Khi ngươi đứng ở cửa phủ đón kiệu ta về, hai chân đặt rộng bằng vai. Đầu gối hơi cong. Trọng tâm chìm. Đó là đứng tấn. Nha đầu thường đứng khép chân, nghiêng người. Ngươi khác. Ai dạy?”
Ta không nói người phát hiện là Diễn Chi. Không cần.
Đài Nhã cúi đầu. Ba giây. Cuối cùng thở ra một hơi dài.
“Mẹ con.”
“Mẹ ngươi là ai?”
“Nha đầu tin cẩn của di nương Vệ thị. Trước khi bị Ngu thị đánh chết chín năm trước, mẹ con dạy. Bà dặn con: ‘Sau này lớn lên, có ngày Hoài Ngọc cần dùng đến võ của con. Ngày ấy, con dùng.’ Con tập lén canh dần trong sân sau khi phủ ngủ. Chín năm giấu.”
Ta ngồi im.
Mẹ Vệ thị. Mười một năm trước, trước khi bị bỏ đói trong hầm mồ ba tháng, đã bố trí xong hai chỗ dựa cho đứa con gái sáu tuổi bà sắp bỏ lại. Một là dây chuyền hạt châu đỏ. Hai là nha đầu, con của nha đầu tin cẩn. Bà biết Ngu thị sẽ không dừng ở bà, sẽ tìm đến ta ngày ta lớn. Bà cài đặt sẵn hai lá bùa.
Ta không biết mẹ Vệ thị trong ký ức thân xác này rõ. Ký ức của Lâm Hoài Ngọc sáu tuổi chỉ nhớ mẹ ngồi bên án khâu áo, mẹ pha thuốc cho con nhỏ ho về đêm, mẹ dạy con đọc “Nhị thập tứ hiếu” bằng giọng nhẹ như nước.
Bây giờ ta biết thêm một chi tiết. Mẹ Vệ thị, người đàn bà nhu dịu ta nhớ, thực ra tính toán xa hơn cả một luật sư hình sự.
Ta cúi đầu một giây với mẹ đã chết mười một năm. Không phải lạy. Chỉ là một lần nghiêng đầu ngắn, như luật sư nghiêng đầu chào một nhân chứng vừa cho lời khai quyết định trước phiên toà. Mẹ Vệ thị đã cho lời khai cuối cùng của bà cách đây mười một năm bằng máu ngón tay trên giấy dâu trong hầm mồ. Ta chỉ vừa mới đọc được nửa. Nửa còn lại nằm trong hạt số bảy.
Ngước lên. Đài Nhã đang nhìn ta, hoang mang.
“Nhã. Ta tin ngươi. Ngươi tin ta?”
“Dạ.”
“Đêm qua ta bị Ngu thị và Hoài Ngôn ném xuống giếng cạn sân sau. Không phải trượt chân.”
Đài Nhã siết chặt hai tay.
“Có người cứu. Không phải người ngoài đi ngang. Người ta không nói được với ai. Bây giờ ta cần ngươi ba việc. Nghe rõ.”
Đài Nhã gật.
“Một. Ngày mai canh mão, ngươi đến cửa Đông phủ. Sẽ có một người áo đen chờ ở cống nhỏ. Người ấy đưa ngươi một tờ giấy. Ngươi nhận, giấu trong tay áo, mang thẳng về phòng ta. Không mở giữa đường. Không nói với ai.”
“Dạ.”
“Hai. Đêm nay ngươi canh cửa phòng Ngu thị. Nếu bà viết thư gửi ai, ghi lại tên người nhận. Nếu bà cho nha đầu tin cẩn đưa thư ra khỏi phủ, ghi lại canh giờ và cửa nào. Không cần biết nội dung. Chỉ cần biết bà gửi cho ai, giờ nào, cửa nào.”
“Dạ.”
“Ba. Nếu ngày kia hoặc ngày kìa ta bị Ngu thị giữ trong phòng không cho ra, ngươi trèo tường ra cửa Đông, tìm cống nhỏ, báo cho người áo đen. Chín năm ngươi tập võ lén, bây giờ dùng.”
“Dạ.”
Ta dừng. Nhìn nàng lâu.
“Nhã. Ngươi có thể chết vì ba việc này. Nếu ngươi sợ, bây giờ ta cho ngươi lui. Ta không trách.”
Đài Nhã đứng dậy. Không run nữa.
“Tiểu thư. Mẹ con dặn con chín năm. Con đợi ngày này chín năm. Bây giờ con không lui.”
Ta gật.
“Đi. Sau canh dậu ngươi bắt đầu canh phòng Ngu thị.”
Đài Nhã đi ra, khép cửa nhẹ. Bước chân nàng nhẹ hơn nha đầu thường, nhưng không nhẹ đến mức có võ nhìn ra. Chín năm giấu, chín năm giấu đủ.
Ta ngồi bên án một mình.
Sờ tay lên dây chuyền hạt châu đỏ ở cổ. Mười hai hạt. Hạt số bảy hơi khác. Mẹ dặn ta năm sáu tuổi: “Con đợi đến lúc trưởng thành, có người tin cậy giúp, mới mở hạt này. Đừng mở một mình. Đừng mở trong nhà.”
Trong nhà. Bà biết ngay khi ấy, mười một năm trước, rằng nhà Bình Nam bá không phải nơi an toàn cho con gái bà.
Ta cười một cái. Cười khô.
Bà mẹ nào biết trước con mình mười một năm sau sẽ nhập hồn một luật sư hình sự hai mươi tám tuổi vừa chết dưới bánh xe? Không. Nhưng bà đã tính đường cho một đứa mười bảy tuổi nhu nhược không dám ngước nhìn ai. Ba tay đã cài, chờ ngày dùng.
Bây giờ ba tay ta dùng đủ cả. Dây chuyền. Đài Nhã. Và một điều thứ ba mẹ không cài, ta tự có, mẹ không biết. Bộ tiểu thuyết cung đấu ta đọc mất ngủ ba năm trước. Ba trăm chương.
Ta rót một chén trà nguội. Uống. Nước trà đọng ở đáy lưỡi, hơi chát. Chén nhỏ, sứ trắng có viền xanh chỉ, một trong bộ tám chén thân xác này được cấp khi lên mười ba. Ba năm không có ai đến phòng thứ nữ tặng bộ chén mới. Ta đặt chén xuống, tiếng sứ chạm mặt án gỗ đàn nghe nhẹ.
Bây giờ ba năm ấy đã đủ. Từ đêm ta rơi giếng, mọi thứ đảo chiều.
Ngoài cửa sổ, trời chiều đã sang canh mùi. Nắng vàng hạ trên gạch xanh sân trong. Ta không ra sân. Ta ngồi bên án. Suốt canh mùi. Suốt canh thân. Suốt canh dậu.
Canh dậu qua. Đài Nhã bắt đầu canh phòng Ngu thị.
Đêm khuya ngày một. Ta ngủ chập chờn trên giường lụa Bình Nam bá phủ, giường của một đứa mười bảy tuổi ba năm không được thay đệm mới. Ta mơ thấy biển số ba mươi E bốn năm bảy sáu lăm. Mơ thấy phiên toà đêm ta vừa kết thúc trước khi bị đâm. Mơ thấy mẹ Vệ thị ngồi bên án khâu áo, giọng bà nhẹ như nước: “Con đợi.”
Ta mở mắt canh sửu. Ngoài cửa có tiếng động rất nhẹ. Đài Nhã trở về.
“Tiểu thư.”
“Vào.”
Đài Nhã trèo tường qua cửa sổ, không đi cửa chính. Nàng đến bên án, hạ giọng.
“Ngu thị chiều nay viết một bức thư. Người nhận: Hoàng cung, Trường Xuân cung. Bút đề tên ‘Điền hoàng hậu điện hạ’. Thư đã ra khỏi phủ qua nha đầu tin cẩn của bà, canh dậu ba khắc, cửa Tây.”
Trường Xuân cung. Nơi ở của Hoàng hậu Điền.
Ta không ngờ. Ta ngờ trước.
Trong tiểu thuyết ngoại truyện có một dòng: “Ngu thị hai mươi năm giữ liên lạc với Điền hậu bằng thư mật qua nha đầu tin cẩn, mỗi tháng một lần.” Bây giờ Ngu thị viết thư sau đêm ném ta xuống giếng, không phải thư định kỳ. Thư khẩn.
Nội dung ta đoán: một là báo Điền hậu về chuẩn bị hôn sự Hoài Ngôn với Thái tử. Hai là báo có chuyện bất thường đêm qua, ngoài phủ có người can thiệp cứu ta. Bà không dám để một mình bịt kín.
Ta ngồi thẳng.
“Nhã. Ngươi đi ngủ. Ngày mai canh mão đến cửa Đông cống nhỏ nhận tin.”
“Dạ.”
Đài Nhã trèo tường ra. Ta ngồi lại.
Trong óc ta bật lên bàn cờ. Đến bước này, ta cần Diễn Chi làm hai việc. Một là chặn thư Ngu thị trước khi vào Trường Xuân cung, giữ làm vật chứng bút tích. Hai là chuẩn bị cho ngày mai ta ra khỏi phủ đến Chu vương phủ mở dây chuyền.
Ta viết. Giấy dâu nhỏ, mực loãng. Chữ Lâm Hoài Ngọc mười bảy tuổi ta luyện lại được sau ba canh giờ tập theo mẫu tự trong bàn học của thân xác này. Không hoàn toàn giống, nhưng đủ để một người biết ta là ai.
“Điện hạ. Ngu thị canh dậu ba khắc đã cho nha đầu tin cẩn đưa thư ra cửa Tây gửi Trường Xuân cung, người nhận Điền hoàng hậu. Xin điện hạ chặn thư trước khi vào cung. Đây là bút tích bà, là vật chứng cứng. Ngày mai canh mùi xin đón muội ở cửa Đông cống nhỏ, muội mở dây chuyền. Muội đã chuẩn bị.”
Gấp giấy. Bốn lần. Bằng ngón cái.
Sáng ngày hai, canh mão, ta chưa dậy. Đài Nhã đã dậy. Ta nghe tiếng nàng khép cửa nhẹ.
Ta ngủ tiếp đến canh thìn. Tỉnh dậy, thân xác này còn mệt. Đêm qua ta ngủ được hai canh giờ. Không đủ cho một thiếu nữ mười bảy tuổi vừa suýt chết vì hạ thân nhiệt bốn đêm trước.
Ta ngồi bên án ăn cháo trắng. Nha đầu chính, không phải Đài Nhã, bưng. Ta ăn nửa chén, đặt xuống. Nói lớn: “Ta còn mệt. Cho ta nghỉ.”
Nha đầu đi. Cửa khép.
Canh tị. Đài Nhã trở về, trèo cửa sổ vào. Trong tay áo có giấy.
Ta mở.
Chữ Diễn Chi. Nét mực chàng ngắn, cứng, dốc mạnh cuối câu, như người viết vội nhưng không loạn.
“Ngày mai canh mùi ta cho người đón nàng ra cửa Đông cống nhỏ. Đến Chu vương phủ mở dây chuyền. Ta đã chặn thư Ngu thị lúc canh tuất tối qua. Nội dung: ‘Việc đêm ném thứ nữ xuống giếng bị lỡ. Có người bên ngoài can thiệp. Xin Hoàng hậu điện hạ cho tăng ám vệ Bình Nam bá phủ vô thời hạn.’ Bằng chứng tự tay Ngu thị viết. Trong tay ta.”
Ta đọc hai lần. Đốt giấy.
Tro rơi trên mặt án bằng gỗ đàn, đen mịn. Ta không phủi. Để tro nằm đó, một vệt nhỏ đen trên gỗ nâu, cạnh chén trà đã cạn.
Ta ngồi im.
Ngu Uyển. Bà đêm hai đêm trước ném con gái đích chồng xuống giếng. Sáng hôm sau ôm con ấy vào lòng nói “chắc con mê man ngã xuống.” Chiều hôm sau viết thư tố ngoài cung “có người bên ngoài can thiệp, xin tăng ám vệ.”
Bà mưu hai mươi năm giỏi thật.
Nhưng bà mưu chưa đủ giỏi. Bà viết bút tích. Bà giao thư qua nha đầu tin cẩn không đủ lính hộ tống. Bà tin đường thư từ phủ vào Trường Xuân cung an toàn hai mươi năm chưa bao giờ bị chặn.
Bà không biết Chu vương phủ bốn năm nay có mạng lưới ám vệ dò tin lính lệ cựu hoàng hậu.
Bà không biết đêm hôm ấy Chu Diễn Chi tình cờ đi ngang qua Bình Nam bá phủ trên đường về từ ca lâu Tây Cung.
Bà không biết trong giếng cạn có một hồn hai mươi tám tuổi vừa nhập vào thân xác con gái đích chồng bà, đầu óc còn nhớ chương một trăm năm mươi sáu của một cuốn tiểu thuyết chưa được viết ở thế giới này.
Gậy ông đập lưng ông. Thành ngữ tiếng Việt của ta vọng lên trong đầu, không sao dịch được sang lời cổ trang cho người bên này hiểu.
Ta sờ tay lên dây chuyền. Hạt số bảy vẫn ấm.
Ngày mai canh mùi. Ta mở.