Ba Năm Hầu Bệnh, Chồng Vừa Khỏi Đã Cưới Biểu Muội

Chương 2: Yên Nhi Nhập Phủ

Đông sảnh treo đèn đỏ suốt từ giờ dậu.

Ta ngồi trong phòng riêng, nghe tiếng nhạc cụ vọng qua song cửa, tiếng cười nói lao xao của gia nhân bày tiệc. Yến cưới biểu muội không lớn, chỉ vài mâm trong nội viện, nhưng đủ để cả phủ biết hôm nay Tây viện có chủ mới.

Mùi thịt quay, mùi rượu hoa quế, mùi phấn son mới thoa quyện vào nhau, theo gió lùa qua khe cửa sổ vào tận phòng ta. Có tiếng đàn tì bà gảy khúc gì đó vui tươi, xen lẫn tiếng cười rộ lên của vài vị khách mời thân cận trong họ. Ba năm trước, ngày ta được rước về làm chính thất, tiệc cưới cũng không khác là bao, cũng vài mâm cỗ, cũng tiếng đàn sáo, chỉ là khi ấy ta ngồi ở vị trí cô dâu, còn hôm nay ta ngồi trong phòng riêng, nghe tiệc của người khác vọng sang.

Ta không thấy tủi thân vì điều đó. Kiếp trước từng trải qua cảnh này một lần, ta hiểu rõ, náo nhiệt bên ngoài không nói lên được điều gì về phần đời còn lại của một người. Ba năm sau đêm tiệc rộn ràng ấy, ta chết trong lặng lẽ, không kèn không trống, không một ai tiếc thương.

Nhược Vân từng hỏi ta một lần, rất lâu về sau, rằng đêm tiệc năm ấy tiểu thư có thấy vui không. Ta đã không trả lời được, vì kiếp trước, ngay chính đêm đó, ta cũng không rõ trong lòng mình là vui hay buồn, chỉ nhớ tay mình mỏi nhừ vì cầm chén rượu mời hết người này đến người khác, nụ cười trên môi cứng lại như dán, không dám tắt đi dù chỉ một khắc, sợ ai đó nhìn thấy liền đồn thổi ra ngoài rằng chính thất không vui vẻ gì với hỷ sự của em chồng.

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

91.800đ

Xem chi tiết →

Ta cầm chiếc quạt lụa gấp trong tay, xoay nhẹ cán quạt giữa hai ngón. Quạt mẹ để lại năm ta mười lăm tuổi, lụa Trường An thêu một cành mai trắng, viền chỉ bạc đã hơi phai màu vì mười năm cất trong rương. Ngày thường ta ít khi mang ra, chỉ những lúc lòng không yên mới lấy xuống, cầm cho tay có việc để làm.

Quạt là vật duy nhất mẹ để lại riêng cho ta, ngoài tiệm lụa nhỏ nơi phố Nam. Năm ta mười lăm tuổi, mẹ nằm trên giường bệnh những ngày cuối, tay run run đặt quạt vào lòng bàn tay ta, dặn một câu duy nhất, giọng đã yếu lắm: “Đường nào cũng có lúc phải tự mình bước, con đừng đợi ai dắt.” Khi ấy ta còn nhỏ, chỉ biết ôm quạt khóc, không hiểu hết ý mẹ muốn nói. Ba năm hầu bệnh trong Vương phủ, có những đêm ngồi bên bếp lò canh thuốc đến sáng, tay cầm quạt xoay không ngừng cho đỡ cơn buồn ngủ, ta mới thấm được câu dặn ấy nặng đến đâu.

Kiếp trước, đúng đêm nay, ta cũng ngồi ở chỗ này, cũng cầm đúng chiếc quạt này trong tay. Nhưng lòng khi ấy là một mớ hoang mang rối bời, sợ mất lòng mẹ chồng, sợ Kính Chi trách cứ, sợ người ngoài đàm tiếu một chính thất không biết rộng lượng nhường nhịn em chồng. Đêm đó ta đã ra thị lễ, cười nói suốt một canh giờ bên tiệc nhỏ, tay run run rót từng chén rượu mời khách, trong lòng đau như có ai cứa từng nhát nhỏ mà vẫn phải giữ nụ cười trên môi.

Đêm nay, ta không định bước chân ra khỏi cửa Đông viện.

“Tiểu thư.” Nhược Vân bước vào, giọng thấp. “Lão thái phu nhân sai người đến gọi lần thứ hai rồi. Nói tiểu thư là chính thất, hôm nay Tây viện có tiệc nhỏ, không ra mặt sợ người ngoài đàm tiếu.”

“Con cứ nói ta bệnh cũ tái phát, không dậy nổi.”

Nhược Vân đứng nhìn ta một lúc, không dám hỏi thêm, quay người lui ra. Nửa khắc sau nó trở lại, sắc mặt còn lo hơn trước.

“Tiểu thư, lần này… lần này là Lão thái phu nhân tự đến.”

Quả nhiên, ngoài cửa đã có tiếng bước chân nặng, chậm, không giống bước chân của nha đầu. Lão thái phu nhân bước vào, sắc mặt lạnh như sương sớm, đứng sững giữa phòng nhìn ta ngồi im bên án.

“Nhược Hàm.” Bà cất giọng, từng chữ nén xuống. “Con là chính thất phủ này. Hôm nay Yên Nhi nhập phủ, con không ra thị lễ, người ngoài nhìn vào nói ra sao? Nói Vương phủ ta không có quy củ, nói con ghen tuông không biết lễ nghĩa?”

Ta đứng dậy, quỳ xuống đúng lễ, nhưng lưng vẫn thẳng, giọng nhỏ mà từng câu cụt gọn.

“Mẹ. Ba năm con thức đêm hầu chàng, đêm nào cũng sắc thuốc đến canh ba, phổi con cũng đã hư một phần vì hít khói thuốc lâu ngày. Xin mẹ hỏi Lâm đại phu, ông sẽ chứng cho con.”

Bà im lặng một lúc, ngón tay khẽ miết lên tay ghế, rồi hỏi tiếp, giọng đã bớt sắc hơn nhưng vẫn dò xét. “Con nói phổi con cũng hư một phần. Nếu vậy, từ nay ai sắc thuốc cho Tam gia?”

“Con không rõ.” Ta đáp, không né tránh ánh mắt bà. “Nhưng con nghĩ, một chính thất ốm yếu vì hầu chồng ba năm ròng rã, cũng nên được nghỉ ngơi một dạo, để người khác trong phủ san sẻ bớt phần việc ấy.”

“Người khác trong phủ, ý con là Yên Nhi?”

“Con không dám nói thay ai cả.” Ta cúi đầu thấp hơn một chút, giọng vẫn đều. “Chỉ là, biểu muội con nay đã là người của Tây viện, chăm lo cho chồng vốn là bổn phận của nàng ấy, không lẽ gì lại để chính thất gánh thay mãi.”

Lão thái phu nhân nhíu mày, nhìn ta thêm một lúc nữa, ánh mắt như đang cố tìm ra chỗ nào đó không ổn trong câu trả lời quá gọn gàng này, nhưng tìm mãi không thấy. Ba năm qua, bà quen với một Nhược Hàm luôn nhận hết phần thiệt về mình, chưa từng một lần đẩy việc gì sang cho ai.

Bà ngồi xuống ghế bên án, dáng có phần mệt mỏi hơn lúc bước vào, giọng chợt trầm xuống, không còn vẻ uy nghiêm ban đầu. “Con biết vì sao ta phải đích thân đến đây không? Tam gia là con trai duy nhất còn sống của ta. Hai đứa con trước, một đứa chết yểu lúc còn nhỏ, một đứa mất vì bạo bệnh năm mười bảy tuổi. Ta không thể để chuyện gì ảnh hưởng đến hạnh phúc của nó nữa, dù là chuyện ghen tuông vặt vãnh trong nhà.”

Ta cúi đầu, không đáp ngay. Kiếp trước, câu nói này của bà từng khiến ta rơi nước mắt, tự trách mình đã ích kỷ khi không vui vẻ đón nhận biểu muội vào nhà. Kiếp này, ta chỉ thấy rõ một điều, mọi lời bà nói ra, cuối cùng đều chỉ xoay quanh một người, không bao giờ là ta.

“Mẹ nói phải.” Ta đáp, giọng vẫn nhỏ nhưng không còn run rẩy như kiếp trước. “Con sẽ không để chuyện ghen tuông vặt vãnh nào ảnh hưởng đến Tam gia cả.”

Ánh mắt bà không giống mọi khi, có chút gì đó dò xét, như đang cân nhắc một điều gì mới mẻ. Kiếp trước, bà chưa từng nghe ta nói một câu cứng như vậy. Kiếp trước, ta luôn dạ vâng, luôn cúi đầu trước, sợ mất lòng, sợ bị chê không hiền.

Bà đứng thêm một lúc, cuối cùng phất tay áo, không nói thêm lời nào, quay người bước ra.

Ta vẫn quỳ đó, nghe tiếng bước chân bà xa dần ngoài hành lang. Nhược Vân vội đỡ ta dậy, tay run run.

“Tiểu thư, con sợ Lão thái phu nhân giận.”

“Bà không giận ta. Bà đang nghĩ ngợi.” Ta phủi gối, ngồi lại xuống án. “Con để ý mà xem, bà chưa từng hỏi ta có phải làm khó Yên Nhi hay không. Bà chỉ hỏi người ngoài nhìn vào nói ra sao. Ba năm bà bao che cho con trai bà, không phải vì thương ta.”

Nhược Vân không hiểu hết lời ta, chỉ biết im lặng đứng bên.

Ta ngồi lặng một lúc, nhìn ngọn nến trên án cháy lay lắt theo từng cơn gió lùa qua khe cửa. Ba năm nay, mỗi khi có chuyện không vui, ta đều tìm đến góc phòng này, ngồi im như vậy, để cơn giận dữ hay tủi hờn tự nó lắng xuống, không để lộ ra ngoài dù chỉ một chút. Thói quen ấy, giờ đây hoá ra lại có ích cho một việc khác hẳn, che giấu một kế hoạch mà không một ai trong phủ này, kể cả Lão thái phu nhân tinh tường nhất, có thể ngờ tới.

Ngoại tổ phụ từng dạy ta một điều, lúc ta còn nhỏ theo ông học nhận mặt từng vị thuốc trong tủ gỗ nơi Giang Nam: muốn trị một chứng bệnh lâu năm, đôi khi không phải bốc thêm thuốc, mà là ngừng hẳn một vị thuốc sai đã dùng quá lâu. Con người cũng vậy. Ba năm ta cố chữa cho mối duyên này bằng sự nhẫn nhịn, bằng những đêm thức trắng, kết quả vẫn là một cái chết oan uổng nơi hậu viện lạnh lẽo. Kiếp này, ta chọn cách ngừng lại, xem thứ bệnh mang tên Kính Chi ấy, không có ta chữa trị, sẽ tự nó trở nên ra sao.

Nửa canh giờ sau, ngoài cửa có tiếng bước chân khác, nhẹ và ngắn, xen lẫn tiếng lụa cọ vào nhau. Rèm cửa vén lên, Yên Nhi bước vào, phía sau hai nha đầu bưng một khay bánh hồng và một chén rượu màu đỏ nhạt, sóng sánh dưới ánh đèn.

Ta nhìn hai nha đầu đứng sau lưng nàng ta, thấy cả hai đều cúi gằm mặt, không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào ta, tay bưng khay hơi run, như đang mang một thứ nặng hơn nhiều so với một khay bánh và một chén rượu. Nếu chỉ đơn thuần là chén rượu ấm mời tỷ tỷ, cớ gì gia nhân phải sợ đến mức ấy.

Yên Nhi đứng đó, tà áo hồng đào thêu chỉ vàng, đầu cài trâm ngọc mới, dáng vẻ khép nép nhưng ánh mắt lại lấp lánh một tia gì đó khó gọi tên, không hẳn là đắc ý, cũng không hẳn là hồi hộp, mà giống như một người vừa đặt cược một ván lớn, đang chờ xem kết quả.

“Hàm tỷ tỷ.” Nàng ta cúi người, giọng ngọt như rót mật, khuôn mặt nhỏ nhắn cười tươi. “Muội đến kính tỷ chén rượu. Sau này ở chung một phủ, còn nhờ tỷ chỉ dạy nhiều.”

Ta ngồi yên bên án, không đứng dậy đón. Mở quạt lụa ra, xoay nhẹ, che nửa gương mặt mình sau lớp lụa mỏng, chỉ để lộ đôi mắt hạnh nhìn thẳng vào nàng. Biểu cảm bị giấu kín sau nếp gấp cành mai trắng, chỉ còn lại giọng nói.

“Yên Nhi. Rượu này, ai bảo muội mang đến?”

Yên Nhi khựng lại một nhịp rất nhỏ, rồi lại cười, có phần gượng hơn trước. “Tam gia. Chàng nói tỷ mấy hôm nay ngủ không yên giấc, uống chén rượu ấm cho dễ ngủ.”

Ta hạ tầm mắt xuống chén rượu trên khay. Màu đỏ nhạt hơi sánh, mùi thoảng lên có chút ngọt khác thường, không phải vị rượu hoa quế thường ngày phủ vẫn dùng đãi khách.

Ba năm trước, kiếp trước, cũng đúng đêm này, ta đã uống chén rượu ấy, ngủ một giấc sâu không mộng mị. Sáng hôm sau tỉnh dậy, nghe nha đầu thì thầm rằng đêm qua Tam gia đã sang Tây viện.

Ta không biết vì sao mình ngủ say đến vậy đêm đó. Bây giờ nhìn lại chén rượu này, ta mới hiểu.

“Muội về đi.” Ta gấp quạt lại nửa chừng, đặt xuống án, giọng vẫn bình thản không gợn sóng. “Rượu này ta giữ lại. Đêm nay ta không cần ngủ.”

Yên Nhi cắn nhẹ môi dưới, cố nặn ra thêm một câu. “Tỷ tỷ à, Tam gia dặn kỹ lắm, nói tỷ nhất định phải uống, không thì chàng buồn…”

“Tam gia buồn hay không, không phải chuyện muội cần lo.” Ta ngắt lời, giọng vẫn nhẹ nhưng không chừa khoảng trống nào cho nàng ta nói tiếp. “Muội mới nhập phủ, còn nhiều lễ nghĩa phải học, đừng học trước tiên cách ép người khác uống thứ mình không muốn uống.”

Yên Nhi đứng sững một khắc, ánh mắt thoáng qua vẻ gì đó không kịp giấu hết, rồi lại cúi đầu, lui ra cùng hai nha đầu, tà áo hồng đào khuất sau bức rèm.

Nhược Vân đứng chờ đến khi bóng ba người khuất hẳn ngoài sân mới dám bước lại gần án thư, cúi xuống nhìn chén rượu còn nguyên, khẽ đưa mũi lại gần ngửi thử, rồi vội lùi ra, sắc mặt hơi biến.

“Tiểu thư, rượu này… mùi hơi lạ, không giống rượu hoa quế thường ngày.”

“Ngươi đừng động vào.” Ta ngăn tay nó lại trước khi nó kịp bưng chén đi đổ. “Cứ để nguyên đó, đậy khăn lụa lại, cất vào góc rương của ta. Biết đâu sau này lại cần đến làm chứng.”

Nhược Vân líu ríu vâng dạ, lấy một tấm khăn lụa mỏng phủ lên miệng chén, bưng đi cất cẩn thận như đang bưng một vật gì quý giá chứ không phải một mối nguy.

“Tiểu thư, sao tiểu thư biết trong rượu có gì?”

“Ta không biết chắc trong đó có gì.” Ta nhìn chén rượu lúc nãy còn nguyên trên án, không chạm vào. “Ta chỉ biết kiếp trước ta đã uống nó, và đêm đó ta ngủ say đến sáng, không hay biết gì cả.”

Nhược Vân im bặt, không dám hỏi thêm.

Ta mở quạt lụa ra lần nữa, xoè hết cả bề mặt, che kín gương mặt mình sau lớp lụa thêu cành mai trắng. Sau lớp quạt ấy, không ai nhìn thấy khoé môi ta khẽ nhếch lên, một nụ cười lạnh, ba năm nay chưa từng ai được thấy.

Kiếp trước, ta uống chén rượu này. Đêm ấy chàng qua Tây viện lần đầu. Ta không hề hay biết.

Kiếp này ta không uống. Đêm nay, có lẽ chàng vẫn qua Tây viện như cũ. Nhưng lần này, ta biết.

Ta gấp quạt lại, đặt xuống án, nhìn ngọn đèn dầu nhỏ cháy le lói giữa phòng. Ngoài kia, tiệc nhỏ bên Tây viện vẫn còn tiếng nhạc lay lắt vọng sang, xa xăm như thuộc về một thế giới khác không còn liên quan gì đến ta nữa.

Đêm đã khuya, tiếng nhạc bên Tây viện cũng dần thưa hẳn, chỉ còn lác đác vài tiếng cười muộn của gia nhân dọn dẹp tiệc tàn. Ta đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, nhìn ánh đèn Tây viện vẫn còn sáng, lòng không dâng lên chút sốt ruột hay hồi hộp nào về chuyện đêm nay chàng có sang bên ấy hay không. Ba nghìn lượng bạc tiệm lụa mẹ để lại, giờ đang được Nhược Vân âm thầm chuyển dần ra tiệm gạo Hoài Nhàn mỗi ngày một ít. Chén rượu độc còn nguyên trong rương, để dành làm chứng cho một ngày nào đó cần đến. Sổ hồi môn, chìa khóa, tất cả đã được sắp đặt đâu vào đấy. Điều duy nhất ta còn phải làm, là chờ, để mọi việc tự nó diễn ra đúng như những gì ta đã từng chứng kiến một lần trong kiếp trước, chỉ khác lần này ta không còn là người đứng ngoài cuộc, ngây thơ tin vào một chữ tình đã sớm mục ruỗng.

Khác nhau, chỉ ở chỗ đó.